TÓM
TẮT
Mục tiêu: Đánh giá đặc
điểm lâm sàng của túi phình ĐMCTTS đã vỡ. Đánh
giá đặc điểm hình ảnh học của túi phình
ĐMCTTS đã vỡ. Đánh giá kết quả phẫu thuật
túi phình ĐMCTTS đã vỡ.
Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả tiền cứu 40 trường hợp
túi phình ĐMCTTS được vi phẫu kẹp túi phình.
Kết quả: Tuổi trung bình
51,9, nữ chiếm 70%, tiền căn cao huyết áp chiếm
42,5%. Triệu chứng màng não chiếm 80%, liệt vận
nhãn chiếm 20%. Hunt-Hess I, II, III chiếm 85%, Hunt-Hess IV, V chiếm
15%. Phân độ xuất huyết dưới nhện trên
CTscan Fisher I, II chiếm 40%, Fisher III, IV chiếm 60%, ngoài ra
máu tụ trong não thái dương 12,5%, máu tụ dưới
màng cứng 2,5%. Trên DSA, túi phình kích thước lớn chỉ
chiếm 27,5%, hướng sau và sau ngoài chiếm 95% và chỉ
có túi phình hướng sau ngoài gây liệt thần kinh vận
nhãn chung. Số bệnh nhân được phẫu thuật
sớm trước ba ngày chỉ 10%. Kết quả phẫu
thuật tốt trong nghiên cứu này là 85,5%, tỉ lệ tử
vong 2,5%, tỉ lệ tàn phế 12,5% với tỉ lệ tắc
túi phình hoàn toàn sau mổ đạt 97,5%.
Kết luận: Hội chứng
màng não là triệu chứng điển hình của xuất
huyết dưới nhện do vỡ túi phình ĐMCTS. CTscan
sọ não thực hiện sớm trong hai ngày đầu sau
khởi phát triệu chứng giúp chẩn đoán xác định
xuất huyết dưới nhện và những
thương tổn kèm theo. Nhìn chung vi phẫu thuật kẹp
túi phình ĐMCTTS vỡ đạt kết quả tốt với
tỉ lệ tắc túi phình cao và tai biến chấp nhận
được.
Từ khóa: Túi phình mạch
máu não, túi phình cảnh trong thông sau, xuất huyết dưới
nhện,
MICROSURGERY OF RUPTURED PCOM ANEURYSMS
Do Hong Hai * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 – Supplement of No 1 - 2010: 219 - 223
Objectives: Evaluate clinical features of ruptured PCOM
aneurysm.
Evaluate radiological features of ruptured
PCOM aneurysm.
Evaluate surgical results of ruptured PCOM
aneurysm.
Method: Descriptive study 40 cases of ruptured PCOM
aneurysms.
Results: Median age 51,9, female
70%, hypertension 42,5%, third nerve palsy 20%, Hunt-Hess I, II, III 85%.
Fisher I, II 40%, Fisher III, IV 60%, temporal hematoma
12,5%, SDH 2,5%. DSA: big aneurysm 27,5%, posterior and lateral posterior direction 95%, only
lateral posterior direction causes third nerve palsy. Surgery before 3 days
only 10%, GOS III, IV 85,5%, GOS II 12,5%, GOS I 2,5%. Complete aneurysm
obstruction: 97,5%.
Conclusion: Microsurgery of PCOM aneurysm is safe and
effective with acceptable morbidity and mortality.
Keywords: Aneurysm, PCOM

Túi phình mạch
máu não chiếm khoảng 4% dân số. Hàng năm, tỉ lệ
vỡ túi phình từ 1 đến 2%. Túi phình vỡ gây xuất
huyết dưới nhện (XHDN) với tỉ lệ tử
vong và di chứng lên đến 50%. Thương tổn này tập
trung chủ yếu ở lứa tuổi 50 – 60, là độ
tuổi lao động nên gây tổn thất nặng nề
cho gia đình và xã hội. Thương tổn túi phình động
mạch cảnh trong
thông sau (ĐMCTTS) chiếm 35% tổng số túi phình tuần
hoàn trước đã góp phần đáng kể trong XHDN do vỡ
túi phình nội sọ.
Kĩ thuật mổ
TPĐMCTTS qua đường mở sọ pterion kinh điển
được thực hiện từ năm 1938 bởi
Dandy. Cùng với những tiến bộ đáng kể trong
kĩ thuật gây mê hồi sức và việc ứng dụng
vi phẫu thuật trong phẫu thuật thần kinh đã
giúp vi phẫu kẹp túi phình trở nên an toàn với tỉ
lệ thành công lên đến trên 90% với chất lượng
cuộc sống được cải thiện đáng kể.
Tại Việt Nam, cùng với sự
phát triển của các phương tiện chẩn
đoán, XHDN do vỡ túi phình nảy càng cao vi phẫu thuật
kẹp túi phình đã đạt được nhiều
thành công đáng kể. Tuy nhiên hiện nay tại Việt
Nam vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ về
lâm sàng, hình ảnh học và kết quả phẫu thuật
của loại bệnh lý này. Do đó chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
-
Đánh giá đặc điểm lâm sàng của túi phình ĐMCTTS đã vỡ.
-
Đánh giá đặc điểm hình ảnh học của túi phình
ĐMCTTS đã vỡ.
-
Đánh giá kết quả
phẫu thuật túi phình ĐMCTTS đã vỡ.
Đến thời điểm hiện tại, có hai
phương pháp điều trị túi phình mạch
máu não: vi
phẫu thuật kẹp túi phình
và can thiệp nội mạch. Phẫu thuật túi phình mạch máu não được
thực hiện cách đây khoảng
100 năm, tuy nhiên kết quả rất hạn chế. Đến năm 1938,
Dandy thực hiên thành công ca phẫu
thuật kẹp
TPĐMCTTS bằng clip bạc. Tuy nhiên mãi đến
những năm 1965, khi kính vi
phẫu thần kinh ra đời,
phẫu thuật túi phình mạch
máu não mới
đạt được
những thành công lớn như hiện
nay.
Kính vi phẫu
ra đời là một cuộc cách mạng trong phẫu thuật
sọ não nói chung và phẫu thuật túi phình mạch máu não
nói riêng. Việc ứng dụng vi phẫu thuật đầu
tiên phải kể đến Yasargil. Ông là người
đề cập đến những lợi điểm
khi dùng kính vi phẫu trong điều trị túi phình mạch
máu não qua đường mở sọ pterion.
Ở Việt
Nam, vi phẫu thuật túi phình mạch máu não được thực
hiện ở vài bệnh viện lớn và bước
đầu đạt được nhiều thành công. Tại
bệnh viện Chợ Rẫy, vi phẫu thuật kẹp
túi phình mạch máu não được tiến hành từ
năm 1997.
Nghiên cứu
mô tả tiền cứu 40 bệnh nhân được phẫu
thuật kẹp túi phình vi phẫu tại Bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng 1/2008 đến tháng 10/ 2008, có chẩn
đoán TPĐMCTTS sau mổ và chỉ có 1 túi phình mạch máu
não. Những bệnh nhân này được thu thập dữ
liệu về dịch tễ học (tuổi, giới tính,
tiền căn cao huyết áp), triệu chứng lâm sàng lúc
nhập viện, đặc điểm hình ảnh học
(CTscan, DSA trước và sau mổ), đặc điểm
phẫu thuật. Kết quả được đánh giá
dựa trên thang điểm GOS. Tất cả bệnh nhân
được theo dõi 1 tháng, 3 tháng sau mổ bằng cách
khám bệnh hay phỏng vấn qua điện thoại. Dữ
liệu được xử lý bằng phần mềm
SPSS 12.0.
Tuổi trung bình
51,9 ± 9,57. Trẻ nhất 32 tuổi, lớn nhất 78 tuổi.
trong đó 85% bệnh nhân trong độ tuổi từ 40
đến 65.
Giới nữ chiếm
70%.
Tiền căn cao huyết áp
chiếm 42,5%
Triệu
chứng điển hình của XHDN (nhức đầu, cứng
gáy, buồn nôn/ nôn, dấu màng não) chiếm đến 80% số
bệnh nhân nhập viện, những triệu chứng khác
như sụp mi, yếu nửa người chiếm tỉ
lệ là 20%. Hầu hết bệnh nhân có độ Hunt –
Hess tốt lúc nhập viện (Hunt – Hess độ I, II,
III), chiếm 85%.
Bảng
1: Triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện
|
Triệu chúng lâm
sàng |
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
|
Nhức đầu |
37 |
92.5 |
|
Cứng gáy |
34 |
85 |
|
Buồn nôn - nôn |
29 |
72.5 |
|
Cổ gượng |
31 |
77.5 |
|
Sụp mi |
8 |
20 |
|
Yếu nửa người |
8 |
20 |
Bảng 2: Thương tổn trên CTscan
|
|
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
|
Fisher
I |
4 |
10 |
|
Fisher
II |
12 |
30 |
|
Fisher
III |
16 |
40 |
|
Fisher
IV |
8 |
20 |
|
Máu tụ dưới
màng cứng |
1 |
2,5 |
|
Máu tụ trong não |
5 |
12,5 |
|
Dãn não thất |
28 |
70 |
80% các trường hợp có XHDN và xuất huyết não thất trên CTscan. Dãn não thất
sau XHDN chiếm 70%.
Ngoài ra CTscan cũng cho máu tụ
trong não thái dương (12,5%) và máu tụ dưới màng cứng (2,5%).
Túi phình
kích thước nhỏ chiếm 72,5%, kích thước lớn
27,5% và không có túi phình khổng lồ. Hướng sau và sau
ngoài chiếm đa số 95%, hướng trên ngoài chỉ
chiếm 5%. Chỉ có túi phình hướng sau ngoài gây liệt
thần kinh III (p<0,001).
Bảng 3: Hướng túi phình tên DSA và liệt
thần kinh vận nhãn chung
|
|
Liệt dây sọ
III |
Tổng |
||
|
Có |
Không |
|||
|
Hướng túi phình |
Sau ngoài |
8 |
12 |
20 |
|
Sau |
0 |
18 |
18 |
|
|
Trên ngoài |
0 |
2 |
2 |
|
|
Tổng |
8 |
32 |
40 |
|
Chỉ có 4 trường hợp (10%) được phẫu
thuật trước 3 ngày, đa số các trường hợp
sau 7 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng
(62,5%), trung bình là 10,6 ± 7,1 ngày. Như vậy tỉ lệ phẫu
thuật sớm của chúng tôi còn thấp chỉ 10%.
Bảng 4: Biến chứng
sau mổ
|
|
Số lượng |
Tỉ lệ(%) |
|
Đầu nước |
3 |
7,5 |
|
Viêm màng não |
0 |
0 |
|
Ischemia
|
2 |
5 |
|
Liệt vận nhãn chung |
8 |
20 |
|
Yếu nửa người |
2 |
5 |
|
Viêm phổi |
2 |
5 |
Không có
biến chứng
trực tiếp liên quan đến
phẫu thuật như máu tụ
hố mổ, viêm màng não,
dập não, liệt nửa người
và không có trường hợp liệt vận nhãn mới xuất hiện. Bên cạnh
đó triệu chứng yếu nửa người cũng được cải thiện so với trước mổ. Đa số bệnh
nhân có GOS tốt lúc xuất
viện (GOS IV, V) chiếm
85%. Tuy nhiên cũng có 12,5%
bệnh nhân GOS 3, nghĩa là cần
phải có sự hỗ trợ của người thân trong
sinh hoạt hàng ngày. Có 1 bệnh nhân tử vong chiếm 2,5%.
Tỉ lệ chụp DSA mạch máu não sau mổ là 38 ca
(95%), trong đó có 2 ca không chụp kiểm tra. Tỉ lệ
tắc túi phình là 92,5%, còn thừa cổ túi phình là
2,5%.
Độ tuối trung bình trong nghiên cứu này là 51.8 tuổi.
Thương tổn túi phình thường gặp vào thập
niên thứ năm của cuộc sống, bởi vì nguy
cơ vỡ túi phình tăng khi lớn tuổi.
Nữ chiếm
tỉ lệ gấp 2 lần nam giới. Giới tính nữ
là yếu tố nguy cơ của túi phình nội sọ.
Hơn nữa giới tính nữ là yếu tố nguy cơ
độc lập của vỡ túi phình.
Triệu chứng lâm sàng điển hình của XHDN (nhức
đầu, buồn nôn/ nôn, Kernig) chiếm 92%. Điểm
khác biệt nổi bật của TPĐMCTTS là liệt thần
kinh vận nhãn chung, chiếm tỉ lệ 25%. Ngoài ra, tổn
thương thần kinh vận nhãn chung xuất hiện khi
túi phình vỡ hay khi tăng kích thước nhanh hoặc có
nguy cơ vỡ. Trong nghiên cứu này có ba trường hợp
có triệu chứng sụp mi, tuy nhiên do chẩn đoán muộn
nên túi phình vỡ trước nhập viện. Đặc
điểm của liệt vận nhãn chung trong túi phình ĐMCTTS là liệt hoàn
toàn, bao gồm sụp mi và giãn đồng tử, mất phản
xạ ánh sáng, mắt nhìn xuống và hướng ra ngoài()().
Nguyên nhân thường gặp nhất của liệt vận
nhãn hoàn toàn là túi phình ĐMCTTS chiếm từ 18% - 29%, do túi
phình chèn ép trực tiếp vào những sợi thần kinh
điều khiển cơ co đồng tử().
Khi triệu chứng liệt thần kinh vận nhãn xuất
hiện đồng nghĩa túi phình tăng kích thước
nhanh và có nguy cơ vỡ, do đó đòi hỏi các bác
sĩ lâm sàng phải có kiến thức nhằm chẩn
đoán xác định trước khi vỡ túi phình.
Xuất huyết dưới nhện
chiếm tỉ lệ 90% với đặc điểm:
thường gặp ở vị trí sàn sọ, lan vào khe
sylvius hai bên, tuy nhiên XHDN
cùng bên vỡ túi phình vẫn chiếm ưu thế hơn.
CTscan sọ não thực hiện sớm trong vòng 48 giờ
đầu phát hiện được 90-95% các trường
hợp xuất huyết dưới nhện.
Máu tụ
ở mặt trong thuỳ thái dương chiếm 12,5%, so với
15% của Khalid, do mặt trong thuỳ thái dương liên
quan chặc chẽ với động mạch thông sau và não
sau. Tuy nhiên kích thước khối máu tụ nhỏ dưới
30 cm3, không đủ lớn để gây ra hiệu
ứng choán chỗ nên không được phẫu thuật
cấp cứu.
Máu tụ
dưới màng cứng hiếm gặp trong vỡ túi phình
ĐMCTTS, chiếm 2,5%, vị trí thường gặp là ở
vòm sọ nơi tiếp giáp với sàn sọ().
Nguyên nhân do túi phình tương quan gần với màng cứng
sàn sọ nên có thể vỡ vào khoang dưới màng cứng.
Vì hiếm gặp đòi hỏi phải kết hợp tiền
sử và bệnh sử nhằm tránh bỏ sót thương
tổn do vỡ túi phình.
Dãn não thất cấp tính do tắc nghẽn lưu
thông dịch não tuỷ chiếm 70%, tỉ lệ này thay
đổi từ 20% đến 67%. Tỉ lệ dãn não thất
ở nhóm bệnh nhân Fisher III và IV lên đến 95,7%, so với chỉ 35,3% ở
nhóm I và II, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).
Túi phình ĐMCTTS nằm ở mặt sau động mạch
cảnh trong trên vị trí của ĐMTS và trước vị
trí phân nhánh của động mạch mạc mạch
trước. ĐMTS xuất phát từ mặt sau trong
ĐMCT đi theo hướng dưới trong, nằm ở
trên trong thần kinh vận nhãn chung. Túi phình gây ra do sự
chuyển hướng của dòng máu bởi vì động mạch
cảnh trong đoạn này gồm 2 đoạn cong. Đoạn
thứ nhất cong vòng lên trên và đoạn thứ hai cong
theo hướng từ trong ra ngoài. Vì vậy túi phình thường
hướng ra sau hay ngoài(). Chúng tôi phân hướng
túi phình theo tác giả Jorge: tỉ lệ lần lượt
là 50%, 45% và 5% cho từng nhóm sau ngoài, sau và trên ngoài. Nhóm
hướng ra sau ngoài có khả năng gây liệt thần
kinh III. Thật vậy, có đến 40% trường hợp
túi phình hướng sau ngoài có liệt thần kinh III, so với
0% ở hai nhóm còn lại (p<0,007). Nhóm hướng trên
ngoài không gây liệt thần kinh vận nhãn nhưng lại
dính vào mặt trong thùy thái dương, do đó có thể gây
máu tụ trong thùy thái dương và dễ vỡ khi vén thuỳ
thái dương.
Kết quả phẫu
thuật được đánh giá bằng thang điểm
GOS: kết quả tốt 85,5%, tỉ lệ tử vong 2,5%,
tỉ lệ tàn phế 12,5%, tương tự như Flamm, Ogilvy, Heros().
Nhìn chung tỉ lệ tàn phế trong nghiên cứu của
chúng tôi còn cao có thể do thời gian từ lúc xuất hiện
triệu chứng XHDN đến lúc phẫu thuật kéo dài
và do phương tiện hồi sức nội khoa chưa
tốt.
Chúng tôi tìm thấy mối tương quan giữa tuổi,
tình trạng lâm sàng trước mổ (Hunt – Hess) và kết
quả phẫu thuật. Tuổi cao là yếu tố nguy
cơ của phẫu thuật do bệnh nội khoa kèm theo,
tình trạng dễ nhiễm trùng bệnh viện cũng
như bện lý xơ vữa mạch máu kèm theo, dễ dẫn
đến bong tróc cũng như hẹp khẩu kính khi thao
tác trên mạch máu.
Dấu thần kinh khu trú trước mổ như yếu
nửa người và liệt thần kinh vận nhãn chung cải
thiện sau mổ. Trong lúc phẫu thuật, sau khi kẹp cổ
túi phình, chúng tôi đếu kiểm tra thần kinh vận
nhãn để đảm bảo không làm tổn
thương do kẹp clip và gỡ dính túi phình. Tỉ lệ
hồi phục chức năng thần kinh III trong nghiên cứu
này là 87,5%, tương tự như y văn thế giới
là 90%. Trước mổ có 10 bệnh nhân yếu kín đáo
nửa người, sức cơ 4/5, chủ yếu trong
nhóm bệnh nhân XHDN nhiều hay máu tụ trong não (Fisher III,
IV). Trong quá trình phẫu thuật, chúng tôi tiến hành hút máu
tụ trong khoang dưới nhện và máu tụ trong não, bộc
lộ rõ động mạch thông sau, mạch mạc trước
và không làm hẹp khẩu kính động mạch cảnh
trong do đó hậu phẫu sức phục hồi về
bình thường và không có trường hợp yếu nửa
người nặng lên.
38 bệnh nhân được
chụp DSA mạch máu não sau mổ để đảm bảo
túi phình đã được kẹp hoàn toàn, 2 trường
hợp không thực hiện do không có sự đồng ý của
gia đình. Kết quả cho thấy 97,5% kẹp túi phình
thành công, theo y văn, tỉ lệ tắc túi phình là trên 90%.
Theo chúng tôi, tỉ lệ tắc túi phình cao có thể do những
nguyên nhân sau:
-
Kính vi phẫu ứng dụng trong kẹp
túi phình được thực hiện tại bệnh viện
Chợ Rẫy từ năm 1997.
-
Bệnh nhân được phẫu thuật
muộn, não xẹp nên phẫu trường rộng, dễ
dàng quan sát và thao tác.
-
Hướng túi phình ĐMCTTS dễ tiếp
cận và bóc tách hơn túi phình ở những vị trí khác.
-
Cổ túi phình được bộc lộ
rõ.
-
Đa số túi phình có kích thước nhỏ
và cổ hẹp nên dễ làm tắc hoàn toàn bằng clip.
Qua nghiên cứu 40 trường hợp
túi phình ĐMCTTS vỡ tại bệnh viện Chợ Rẫy
trong thời gian từ tháng 1/2008 đến tháng 10/2008 chúng
tôi đưa ra một số kết luận sau:
Hội chứng màng não là triệu chứng
điển hình của XHDN do vỡ túi phình ĐMCTS, ngoài ra
yếu nửa người và liệt thần kinh vận nhãn
chung cũng thường gặp. Tuy nhiên những triệu
chứng này sẽ cải thiện dần sau phẫu thuật.
CTscan sọ não thực hiện sớm
trong hai ngày đầu sau khởi phát triệu chứng giúp
chẩn đoán xác định xuất huyết dưới
nhện và những thương tổn kèm theo như máu tụ
trong não thái dương, máu tụ dưới màng cứng và
dãn não thất. Tình trạng lâm sàng nặng lúc nhập viện
có liên quan đến độ nặng của xuất huyết
dưới nhện trên CTscan sọ não.
Túi phình thường hướng sau hay
sau ngoài. Chỉ có túi phình hướng sau ngoài gây liệt thần
kinh vận nhãn chung. Túi phình hướng trên ngoài thường
dính vào mặt trong thuỳ thái dương.
Đa số bệnh nhân được
phẫu thuật muộn. Kết quả phẫu thuật tốt
(GOS 4, 5) lúc xuất viện chiếm đến 85%, và không
có trường hợp tái xuất huyết trong thời theo
dõi. Nhìn chung vi phẫu thuật kẹp túi phình ĐMCTTS vỡ
đạt kết quả tốt với tỉ lệ tắc
túi phình cao và tai biến chấp nhận được.
1.
Jorge A.N,
L. Philip. C, Saccular aneurysms of the internal
carotid artery, pp 650,
2.
Khalid M.A, Christopher
S.O (2003), Intracerebral hematoma from aneurysm rupture, Neurosurg
focus, 15.
3.
Koji .I, Gopal .C, Michael .T (2006), Surgical approaches for
anterior circulation aneurysms, Elsevier, pp 1887.
4.
Mahmoud A, Christopher
W. M (2006), Intracranial internal carotid artery
aneurysms, Youman, MacGraw-Hill,
pp: 1915 - 1921.
5.
Mark S.G
(2006), Handbook of neurosurgery, pp: 790.
6.
Michael
L.J. Apuzzo, M.D. Volume 1, Aneurysmal
lesions, Internal carotid aneurysm, pp 983.
7.
Phạm Hòa Bình (1999), Một số nhận xét bước
đầu trong điều trị phẫu thuật phồng
động mạch não ở bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đại
hội ngoại khoa lần thứ X, tr: 32-35
8.
Schmidek.H.H, Roberts.D (2006), Management of Intracranial Aneurysms,
Operative neurosurgical techniques, Vol1, Elservier,
pp: 1115 – 1123.
9.
Võ Văn
Nho, Nguyễn Phong (2002), Vi phẫu thuật 41 trường hợp túi phình động
mạch não bằng clip Sugita từ tháng 7/1997 đến tháng 9/2001. Kỷ yếu tóm tắt
các đề tài khoa học
hội nghị ngoại khoa toàn quốc lần XII, 9-10/5/2002, tr: 164.
10.
Vũ Anh Nhị (2004), Điều trị xuất huyết dưới màng nhện, Đột qụy, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh,
tr: 206-221.