Nguyễn Trí Dũng*, Phạm Ngọc Hoa**, Cao Thiên Tượng**
Mục tiêu: Mục đích
của nghiên cứu này nhằm xác định
cộng hưởng từ (CHT) khuếch tán và hệ số
khuếch tán biểu kiến (ADC) có thể được
dùng để phân biệt áp xe năo với u năo hoại tử
hoặc dạng nang, khó phân biệt trên cộng hưởng từ thường qui.
Đối tượng và
phương pháp: 19 bệnh nhân áp xe năo và 22 bệnh nhân u năo hoại tử
hoặc dạng nang trong nghiên cứu. CHT khuếch tán
được thực hiện trên máy CHT 1,5 Tesla, chuỗi
xung khuếch tán (DWI) với b = 0,500, 1000 giây / mm2 và tính giá trị
ADC.
Kết quả: Tăng tín hiệu được nh́n thấy trong tất cả
trường hợp áp xe năo trên CHT khuếch tán. Trên bản
đồ ADC cho thấy khuếch tán hạn chế trong
khoang áp xe trong tất cả trường hợp áp xe năo 0,67 +/- 0,2 x 10-3 mm2/ giây (trung b́nh +/-
độ lệch chuẩn), tỷ
số ADC trung b́nh = 0,94. Tất cả u năo hoại tử
hoặc dạng nang (trừ một trường hợp )
cho thấy có tín hiệu thấp trên CHT khuếch tán và giá trị
ADC cao (2,45 +/- 0,57 x
10-3 mm2 / giây, tỷ số ADC trung b́nh = 3,19). Một trường hợp di căn năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp
(0,98 x 10-3 mm2/giây, tỷ số ADC= 1,13).
Ngưỡng giá trị ADC dưới 1,1 x 10-3 mm2/
giây được xác định là áp xe năo với độ
nhạy 100% và độ đặc hiệu 90,9%.
Kết luận: CHT khuếch tán giúp phân biệt áp xe năo với u
năo hoại tử hoặc dạng nang với độ tin
cậy cao.
Từ khóa: Cộng hưởng từ khuếch tán, hệ số
khuếch tán biểu kiến (ADC), áp xe năo, u năo.
THE ROLE OF
DIFFUSION-WEIGHTED MAGNETIC RESONANCE IMAGING IN THE DIFFERENTIAL DIAGNOSIS OF
BRAIN ABSCESS FROM CYSTIC OR NECROTIC BRAIN TUMORS
Nguyen Tri Dung, Pham Ngoc Hoa, Cao thien Tuong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1- 2010: 57 - 62
Object: The purpose of
this study was to determine whether diffusion-weighted imaging (DWI) and
apparent diffusion coefficient (ADC) can be used to distinguish brain abscesses
from cystic or necrotic brain tumors, which are difficult to distinguish by
conventional magnetic resonance imaging (MRI) techniques.
Marerials and methods: 19 patients with brain abscesses
and 22 patients with cystic or necrotic brain were enrolled in this study. The
DWI was performed using a 1.5-T system, with b = 0.500, 1000 s/mm2
and the ADC was calculated.
Result: Increased signal was seen in all of the pyogenic abscess cavities on DWI. In ADC maps showed restricted diffusion in the abscess cavity in all pyogenic abscesses (0.67 +/- 0.2 x 10-3 (mean +/- S.D.) mm2/s, mean ADCR = 0.94). All cystic or necrotic tumors but one showed low signal intensity on DWI and their cystic or necrotic areas had high ADC values (2.45 +/- 0.57 x 10-3 mm2/s, mean ADCR = 3.19). One metastasis had a high DWI signal intensity and a low ADC value in its central cystic area (0.98 x 10-3 mm2/s, ADCR= 1.13). Threshold ADC value (1.1 x 10-3 mm2/s) below which a lesion can be classified as an abscess, with a sensitivity rate 100% and a specificity rate 90.9%.
Conclusions: Diffusion-weighted imaging is useful in providing a greater degree of
confidence in distinguishing brain abscesses from cystic or necrotic brain
tumor.
Key words: diffusion-weighted imaging (DWI), apparent
diffusion coefficient (ADC), brain abscess, cystic.
Áp xe năo có thể rất nguy hiểm đến tính mạng nếu chẩn đoán trễ. Do đó, việc chẩn đoán sớm áp xe năo là một thách thức đối với các nhà h́nh ảnh học và lâm sàng. Triệu chứng đau đầu không đặc hiệu, thường không sốt, ngoài ra các xét nghiệm cho thấy bạch cầu b́nh thường và cấy vi trùng âm tính(1,4,5,6,15,21). Với CHT thường qui, một áp xe năo sẽ có h́nh ảnh giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu trên T2W và bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên T1W sau tiêm thuốc tương phản từ. Tuy nhiên, các u năo hoại tử hoặc dạng nang cũng cho h́nh ảnh và bối cảnh lâm sàng tương tự, khó để chẩn đoán phân biệt (1,2,6,8,15,18,20,21).
CHT khuếch tán (DWI) có khả năng lượng giá tính chất khuếch tán của các phân tử nước trong mô và đă được áp dụng hữu ích trong chẩn đoán bệnh lư đột quị, u, hay những rối loạn chất trắng(1,2,6,8,13,15,18,20,21,22). Trong thời gian gần đây, CHT khuếch tán bắt đầu được áp dụng để chẩn đoán phân biệt áp xe năo và u năo hoại tử hoặc dạng nang, tuy nhiên tính phổ biến c̣n hạn chế và độ chính xác của các nghiên cứu cần được khẳng định thêm. Ở Việt Nam, hiện nay tuy các máy CHT ngày càng nhiều nhưng các máy CHT có từ trường cao c̣n ít nên việc ứng dụng CHT khuếch tán trong chẩn đoán các bệnh lư năo c̣n chưa được phổ biến và các bài báo nghiên cứu ứng dụng CHT khuếch tán được xuất bản trong y văn c̣n quá ít. V́ thế mục đích của nghiên cứu này để mô tả các đặc điểm h́nh ảnh và khám phá ra giá trị của CHT khuếch tán trong chẩn đoán phân biệt giữa áp xe năo với các u năo hoại tử hoặc dạng nang.
Trong thời gian từ 1-1-2008 đến 30-6-2009, nghiên cứu 41 bệnh nhân (48 tổn thương) ở bệnh viện Chợ Rẫy có tổn thương năo trong trục bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên T1W sau tiêm thuốc được chia làm 2 nhóm: áp xe năo do vi trùng sinh mủ và u năo hoại tử hoặc dạng nang. Trong nhóm áp xe năo do vi trùng sinh mủ có 19 bệnh nhân (21 tổn thương), gồm 13 nam và 6 nữ, độ tuổi trung b́nh 39. Nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 22 bệnh nhân (27 tổn thương), gồm 14 nam và 8 nữ, độ tuổi trung b́nh 50 (9 di căn năo, 4 u nguyên bào thần kinh đệm, 3 u sao bào lan tỏa, 2 u sao bào thoái sản, 1 u sao bào lông, 1 u nguyên bào mạch máu, 1 u màng năo thất, 1 u sọ hầu). Các u di căn năo có u nguyên phát từ phổi (8 trường hợp) và cổ tử cung (1 trường hợp). Các trường hợp đều có kết quả giải phẫu bệnh lư hoặc cấy vi khuẩn (đối với áp xe năo) qua sinh thiết trong mổ hoặc sinh thiết bằng khung định vị (Stereotactic biopsy). Trường hợp áp xe năo không mổ, được theo dơi đáp ứng điều trị qua biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm sinh học, chụp cắt lớp điện toán hoặc CHT kiểm tra. Có bằng chứng ung thư nguyên phát (đối với di căn năo).
Tất cả bệnh nhân trên được khảo sát CHT thường qui không và có tiêm thuốc tương phản từ trên máy CHT 1 Tesla (Harmony, Siemens, Erlangen, Đức) hoặc máy CHT 1,5 Tesla (Avanto, Siemens, Erlangen, Đức) với các chuỗi xung T1W, T2W SE và FLAIR ở mặt cắt ngang và h́nh T1W sau tiêm tĩnh mạch Gadolinium liều 0.1mmol/kg ở các mặt cắt ngang, đứng dọc và đứng ngang. Độ dày lát cắt 5mm với khoảng cách lát cắt 2,5mm, trường nh́n 24cm và ma trận 128x256 được dùng cho tất cả các lát cắt, tổng cộng 19 lát cắt.
Xung khuếch tán
sử dụng kỹ thuật điểm vang đồng phẳng điểm vang spin một phát (EPI) với
b =0 , b=500 và b =1000 giây / mm2. V́ tính chất không đẳng
hướng của mô năo(3,10,13,22) nên khuynh độ (gradient) khuếch tán được dùng trong 3 hướng
trực giao để tổng hợp ra một h́nh khuếch
tán đẳng hướng cuối cùng, h́nh để phân
tích h́nh ảnh. Độ dày lát cắt 5mm với khoảng
cách lát cắt 2,5mm, trường nh́n 24cm và ma trận 128 x 256
được dùng cho tất cả các lát cắt, tổng
cộng 19 lát cắt. Thời gian chụp khoảng 40 giây.
Phân tích đặc điểm h́nh ảnh vỏ bao tổn thương trên CHT thường qui không và có tiêm thuốc tương phản từ cho thấy: đường bờ tổn thương mỏng (≤3mm) và đều trong nhóm áp xe năo (78,9% và 84,2%) có tỷ lệ nhiều hơn có ư nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang (27,3% và 54,5%); đặc tính thành tổn thương phía năo thất mỏng hơn phía vỏ năo của nhóm áp xe năo có 31,6% trong khi nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang không có trường hợp nào; tín hiệu vỏ bao cao nhẹ trên T1W và thấp trên T2W của nhóm áp xe năo (47,4% và 84,2%) cao hơn có ư nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang (18,2% và 45,5%).
Trên CHT khuếch tán, tất cả trường hợp áp xe năo đều có tín hiệu cao trên h́nh trọng khuếch tán, thấp trên bản đồ ADC và giá trị ADC thấp (giá trị ADC trung b́nh 0,67 +/- 0,2 x 10 -3 mm2 / giây, tỷ số ADC = 0,94) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 90,9% có tín hiệu thấp trên h́nh trọng khuếch tán, cao trên bản đồ ADC và giá trị ADC cao (2,45 +/- 0,57 x 10 -3 mm2 / giây, tỷ số ADC = 3,19) sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê cao (p<0,05). Tuy nhiên trong nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 1 trường hợp ung thư biểu mô tuyến phế quản di căn năo có tín hiệu cao trên h́nh trọng khuếch tán, thấp trên bản đồ ADC và giá trị ADC thấp (0,98 x10-3 mm2/giây). Kết quả phân tích đường cong ROC dự báo áp xe năo ở giá trị ADC có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 90,9%, giá trị dự báo dương 90,5%, giá trị dự báo âm 100%, ở điểm ngưỡng giá trị ADC ≤ 1,1 x 10 -3 mm2 / giây.

Biểu đồ: Đường
cong ROC dự báo áp xe năo dựa vào giá trị ADC.
Các đặc tính vỏ bao tổn thương trên CHT thường qui không và có tiêm thuốc tương phản từ: độ dày thành tổn thương mỏng (≤3mm), đều, bờ tổn thương phía năo thất mỏng hơn phía vỏ năo, thành tổn thương tín hiệu cao nhẹ trên T1W và giảm tín hiệu trên T2W giúp gợi ư chẩn đoán áp xe năo, nhưng có phần trùng lấp cao với u năo hoại tử hoặc dạng nang và không phải lúc nào cũng gặp trong áp xe năo nên trong nhiều trường hợp khó chẩn đoán phân biệt áp xe năo với các u năo hoại tử hoặc dạng nang trên CHT thường qui.

H́nh 1: Bệnh nhân nữ 62 tuổi, áp
xe năo vùng đính phải, trên phim CHT
thường qui không tiêm thuốc tương phản,
vỏ bao áp xe có tín hiệu thấp trên T2W (h́nh trái) và tín hiệu
cao nhẹ trên T1W (h́nh phải).
Ứng dụng CHT khuếch tán trong chẩn đoán áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang đă được báo cáo là hữu ích nhưng số trường hợp nghiên cứu c̣n giới hạn. Ebisu(9) lần đầu tiên báo cáo, năm 1996, áp xe năo có hạn chế khuếch tán trong khoang áp xe, có tín hiệu cao trên h́nh khuếch tán và giá trị ADC thấp 0,31 x 10-3 mm2/giây. Mủ trong khoang áp xe năo sền sệt, nhày, dịch vàng lục, axít, chứa các tế bào viêm, vi khuẩn, mô hoại tử và tiết dịch protein với độ nhớt cao. Với dịch có độ nhớt cao này, vận tốc dịch chuyển đại thể của chất dịch và cả mức chuyển động khuếch tán vi thể của các phân tử nước giảm rơ. Trái lại, khoang hoại tử hoặc nang của u năo thường chứa các mảnh mô u hoại tử, một vài tế bào viêm ít hơn áp xe năo và dịch huyết thanh trong hơn mủ. Do đó cường độ tín hiệu của mủ trong khoang áp xe năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán do sự khuếch tán hạn chế, ngược lại thành phần hoại tử hoặc thoái hóa nang của u năo không có sự khuếch tán hạn chế nên có tín hiệu thấp trên CHT khuếch tán.

H́nh 2: Bệnh nhân nữ 62 tuổi, áp xe năo vùng đính phải, kích thước = 25mm. Bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên h́nh T1W sau tiêm thuốc (h́nh bên phải), bờ đều trơn láng, thành không dày #3mm, tăng tín hiệu đồng nhất trên h́nh CHT khuếch tán, b= 1000 giây / mm2 (h́nh bên trái) và giảm tín hiệu đồng nhất trên bản đồ ADC (h́nh giữa), giá trị ADC = 0,55 x 10 -3 mm2 / giây.

H́nh 3: Bệnh nhân nữ 24 tuổi, u
vùng chẩm (T) kích thước # 65mm, thành dày không đều,
bắt thuốc tương phản từ dạng
viền trên phim T1W sau tiêm thuốc (h́nh bên trái), tín hiệu
thấp đồng nhất trên h́nh khuếch tán b=1000 giây /
mm2 (h́nh bên phải) và
cao đồng nhất trên bản đồ ADC, giá trị
ADC = 2,82 x 10 -3 mm2 / giây. Kết quả giải
phẫu bệnh lư u tế bào ống nội tủy (WHO
độ II ).
Độ tăng tín hiệu khác nhau (tăng rơ , tăng nhẹ hoặc không đồng nhất) hoặc giá trị ADC khác nhau trong nhóm áp xe năo trên CHT khuếch tán giữa các bệnh nhân có thể lư giải là do mức độ tập trung khác nhau của các tế bào viêm, mảnh mô hoại tử, vi khuẩn……do đó khác nhau về độ nhớt dịch áp xe năo, ngoài ra có thể phụ thuộc vào tuổi của ổ áp xe , nguyên nhân nhiễm trùng và đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Trong nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang của nghiên cứu chúng tôi có 1 trường hợp tăng tín hiệu trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp (0,98 x 10-3 mm2 /giây), đó là trường hợp bệnh nhân nam 75 tuổi di căn năo từ ung thư biểu mô tuyến phế quản (h́nh 4). Trường hợp này cũng bắt gặp trong nghiên cứu của Holtas(14), theo lư giải của nghiên cứu th́ hạn chế khuếch tán là do hoại tử sớm kèm phù tế bào của tổn thương, chưa qua giai đoạn hóa dịch lỏng của mô hoại tử; nghiên cứu của Park(19) cũng báo cáo 2 trường hợp di căn năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán và kết quả sau mổ thành phần nang đó chứa chất hoại tử dạng sệt, mịn giống với mủ của áp xe. Ngoài ra Hartmann(12); Tung(23) trong nghiên cứu của họ cũng có trường hợp u di căn năo có khuếch tán hạn chế, được lư giải là do thành phần hoại tử hóa lỏng vô khuẩn chứa chất dạng kem mịn giống mủ với nhiều bạch cầu đa nhân. Sau khi hút thành phần hoại tử hóa lỏng này ra nh́n đại thể rất giống mủ, cũng có báo cáo của Monabali(17) cho rằng thành phần hoại tử của u năo và di căn rất giống với viêm cả về đại thể lẫn vi thể, tuy nhiên nhiễm trùng sinh mủ rất hiếm phát triển ở các u năo nguyên phát. Trong nghiên cứu của Chang(7) cũng có 1 trường hợp tăng tín hiệu trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp 0,44x10-3 mm2/ giây nhưng không phải u di căn năo như trên mà là u sao bào dạng tơ độ thấp (fibrillary low grade astrocytoma), sau mổ th́ thấy thành phần dịch không phải huyết thanh mà giống dạng nhớt mịn.
Ngoài ra theo
báo cáo của Hakyemez(11), có 6
trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm hạn
chế khuếch tán trong thành phần hoại tử của
u và giá trị ADC thấp 1,06 +/-0,17x10-3 mm2 /giây.
Hạn chế khuếch tán có thể được quy cho
hoại tử hóa lỏng vô khuẩn, bội nhiễm và các vi xuất huyết trong u.


H́nh 4: Bệnh nhân nam 74 tuổi, ung
thư biểu mô tuyến phế quản di
căn năo thùy trán (P), kích thước 33mm. Tổn
thương có tín hiệu thấp trên T1W (h́nh D) và cao
trên T2W (h́nh B), FLAIR (h́nh C), kèm phù năo xung quanh. Vỏ bao đồng
tín hiệu trên T1W (h́nh D) và có tín hiệu thấp trên T2W (h́nh
B), tổn thương bắt thuốc
tương phản từ dạng viền trên h́nh T1W
sau tiêm thuốc (h́nh F). Tín hiệu cao không đồng nhất
trên h́nh CHT khuếch tán, b=1000 giây / mm2 và thấp không đồng nhất
trên bản đồ ADC (h́nh E), giá trị ADC=0,98x10-3 mm2/giây.
Tuy trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tất cả các trường hợp ápxe năo đều hạn chế khuếch tán, tuy nhiên có báo cáo của tác giả Lee(16) có một trường hợp áp xe năo có khuếch tán tăng , điều này được tác giả lư giải có lẽ là do đáp ứng miễn dịch tế bào kém ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và mủ vô trùng.
CHT thường qui có ứng dụng giới hạn và CHT khuếch tán là một phương pháp tốt để chẩn đoán phân biệt áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang. Tuy nhiên trong một số ít trường hợp như phân tích ở trên cần kết hợp thêm CHT phổ sẽ tăng độ đặc hiệu hơn cho chẩn đoán.
1. Daniel Trương, Lê Đức Hinh và Nguyễn Thi Hùng (2004). Áp xe năo. In: Thần Kinh Học Lâm Sàng, pp 267-273. NXB Y học, TpHCM.
5. Vũ Anh Nhị (2001). Nhiễm trùng mủ hệ thần kinh trung ương. In: Thần kinh học lâm sàng và điều trị, pp 411-421. Nhà xuất bản Mũi Cà Mau.
6.
11. Hakyemez and Al.(2005). Glioblastoma multiforme with atypical diffusion-weighted MR findings. The British Institute of Radiology, 78: 989-992.
20.
Pronin, V.