VAI TR̉ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ KHUẾCH TÁN TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT ÁP XE NĂO VỚI U NĂO HOẠI TỬ HOẶC DẠNG NANG

Nguyễn Trí Dũng*, Phạm Ngọc Hoa**, Cao Thiên Tượng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định cộng hưởng từ (CHT) khuếch tán và hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC) có thể được dùng để phân biệt áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang, khó phân biệt trên cộng hưởng từ thường qui.

Đối tượng và phương pháp: 19 bệnh nhân áp xe năo và 22 bệnh nhân u năo hoại tử hoặc dạng nang trong nghiên cứu. CHT khuếch tán được thực hiện trên máy CHT 1,5 Tesla, chuỗi xung khuếch tán (DWI) với b = 0,500, 1000 giây / mm2 và tính giá trị ADC.

Kết quả: ng tín hiệu được nh́n thấy trong tất cả trường hợp áp xe năo trên CHT khuếch tán. Trên bản đồ ADC cho thấy khuếch tán hạn chế trong khoang áp xe trong tất cả trường hợp áp xe năo 0,67 +/- 0,2 x 10-3 mm2/ giây (trung b́nh +/- độ lệch chuẩn),  tỷ số ADC trung b́nh = 0,94. Tất cả u năo hoại tử hoặc dạng nang (trừ một trường hợp ) cho thấy có tín hiệu thấp trên CHT khuếch tán và giá trị ADC cao (2,45 +/- 0,57 x 10-3 mm2 / giây, tỷ số ADC trung b́nh = 3,19). Một trường hợp di căn năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp (0,98 x 10-3 mm2/giây, tỷ số ADC= 1,13). Ngưỡng giá trị ADC dưới 1,1 x 10-3 mm2/ giây được xác định là áp xe năo với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 90,9%.

Kết luận: CHT khuếch tán giúp phân biệt áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang với độ tin cậy cao.

Từ khóa: Cộng hưởng từ khuếch tán, hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC), áp xe năo, u năo.

ABSTRACT

THE ROLE OF DIFFUSION-WEIGHTED MAGNETIC RESONANCE IMAGING IN THE DIFFERENTIAL DIAGNOSIS OF BRAIN ABSCESS FROM CYSTIC OR NECROTIC BRAIN TUMORS

Nguyen Tri Dung, Pham Ngoc Hoa, Cao thien Tuong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1- 2010: 57 - 62

Object: The purpose of this study was to determine whether diffusion-weighted imaging (DWI) and apparent diffusion coefficient (ADC) can be used to distinguish brain abscesses from cystic or necrotic brain tumors, which are difficult to distinguish by conventional magnetic resonance imaging (MRI) techniques.

Marerials and methods:  19 patients with brain abscesses and 22 patients with cystic or necrotic brain were enrolled in this study. The DWI was performed using a 1.5-T system, with b = 0.500, 1000 s/mm2 and the ADC was calculated.

Result: Increased signal was seen in all of the pyogenic abscess cavities on DWI. In ADC maps showed restricted diffusion in the abscess cavity in all pyogenic abscesses (0.67 +/- 0.2 x 10-3 (mean +/- S.D.) mm2/s,  mean ADCR =  0.94). All cystic or necrotic tumors but one showed low signal intensity on DWI and their cystic or necrotic areas had high ADC values (2.45 +/- 0.57 x 10-3 mm2/s, mean ADCR = 3.19). One metastasis had a high DWI signal intensity and a low ADC value in its central cystic area (0.98 x 10-3 mm2/s, ADCR= 1.13). Threshold ADC value (1.1 x 10-3 mm2/s) below which a lesion can be classified as an abscess, with a sensitivity rate 100% and a specificity rate 90.9%.

Conclusions: Diffusion-weighted imaging is useful in providing a greater degree of confidence in distinguishing brain abscesses from cystic or necrotic brain tumor.

Key words: diffusion-weighted imaging (DWI), apparent diffusion coefficient (ADC), brain abscess, cystic.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Áp xe năo có thể rất nguy hiểm đến tính mạng nếu chẩn đoán trễ. Do đó, việc chẩn đoán sớm áp xe năo là một thách thức đối với các nhà h́nh ảnh học và lâm sàng. Triệu chứng đau đầu không đặc hiệu, thường không sốt, ngoài ra các xét nghiệm cho thấy bạch cầu b́nh thường và cấy vi trùng âm tính(1,4,5,6,15,21). Với CHT thường qui, một áp xe năo sẽ có h́nh ảnh giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu trên T2W và bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên T1W sau tiêm thuốc tương phản từ. Tuy nhiên, các u năo hoại tử hoặc dạng nang cũng cho h́nh ảnh và bối cảnh lâm sàng tương tự, khó để chẩn đoán phân biệt (1,2,6,8,15,18,20,21).

CHT khuếch tán (DWI) có khả năng lượng giá tính chất khuếch tán của các phân tử nước trong mô và đă được áp dụng hữu ích trong chẩn đoán bệnh lư đột quị, u, hay những rối loạn chất trắng(1,2,6,8,13,15,18,20,21,22). Trong thời gian gần đây, CHT khuếch tán bắt đầu được áp dụng để chẩn đoán phân biệt áp xe năo và u năo hoại tử hoặc dạng nang, tuy nhiên tính phổ biến c̣n hạn chế và độ chính xác của các nghiên cứu cần được khẳng định thêm. Ở Việt Nam, hiện nay tuy các máy CHT ngày càng nhiều nhưng các máy CHT có từ trường cao c̣n ít nên việc ứng dụng CHT khuếch tán  trong chẩn đoán các bệnh lư năo c̣n chưa được phổ biến và các bài báo nghiên cứu ứng dụng CHT khuếch tán được xuất bản trong y văn c̣n quá ít. V́ thế mục đích của nghiên cứu này để mô tả các đặc điểm h́nh ảnh và khám phá ra giá trị của CHT khuếch tán trong chẩn đoán phân biệt giữa áp xe năo với các u năo hoại tử hoặc dạng nang.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong thời gian từ 1-1-2008 đến 30-6-2009, nghiên cứu 41 bệnh nhân (48 tổn thương) ở bệnh viện Chợ Rẫy có tổn thương năo trong trục bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên T1W sau tiêm thuốc được chia làm 2 nhóm: áp xe năo do vi trùng sinh mủ và u năo hoại tử hoặc dạng nang. Trong nhóm áp xe năo do vi trùng sinh mủ có 19 bệnh nhân (21 tổn thương), gồm 13 nam và 6 nữ, độ tuổi trung b́nh 39. Nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 22 bệnh nhân (27 tổn thương), gồm 14 nam và 8 nữ, độ tuổi trung b́nh 50 (9 di căn năo, 4 u nguyên bào thần kinh đệm, 3 u sao bào lan tỏa, 2 u sao bào thoái sản, 1 u sao bào lông, 1 u nguyên bào mạch máu, 1 u màng năo thất, 1 u sọ hầu). Các u di căn năo có u nguyên phát từ phổi (8 trường hợp) và cổ tử cung (1 trường hợp). Các trường hợp đều có kết quả giải phẫu bệnh lư hoặc cấy vi khuẩn (đối với áp xe năo) qua sinh thiết trong mổ hoặc sinh thiết bằng khung định vị (Stereotactic biopsy). Trường hợp áp xe năo không mổ, được theo dơi đáp ứng điều trị qua biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm sinh học, chụp cắt lớp điện toán hoặc CHT kiểm tra. Có bằng chứng ung thư nguyên phát (đối với di căn năo).

Tất cả bệnh nhân trên được khảo sát CHT thường qui không và có tiêm thuốc tương phản từ trên máy CHT 1 Tesla (Harmony, Siemens, Erlangen, Đức) hoặc máy CHT 1,5 Tesla (Avanto, Siemens, Erlangen, Đức) với các chuỗi xung T1W, T2W SE và FLAIR ở mặt cắt ngang và h́nh T1W sau tiêm tĩnh mạch Gadolinium liều 0.1mmol/kg ở các mặt cắt ngang, đứng dọc và đứng ngang. Độ dày lát cắt 5mm với khoảng cách lát cắt 2,5mm, trường nh́n 24cm và ma trận 128x256 được dùng cho tất cả các lát cắt, tổng cộng 19 lát cắt.

Xung khuếch tán sử dụng kỹ thuật điểm vang đồng phẳng điểm vang spin một phát (EPI) với b =0 , b=500 và b =1000 giây / mm2. V́ tính chất không đẳng hướng của mô năo(3,10,13,22) nên khuynh độ (gradient) khuếch tán được dùng trong 3 hướng trực giao để tổng hợp ra một h́nh khuếch tán đẳng hướng cuối cùng, h́nh để phân tích h́nh ảnh. Độ dày lát cắt 5mm với khoảng cách lát cắt 2,5mm, trường nh́n 24cm và ma trận 128 x 256 được dùng cho tất cả các lát cắt, tổng cộng 19 lát cắt. Thời gian chụp khoảng 40 giây.

KẾT QUẢ

Phân tích đặc điểm h́nh ảnh vỏ bao tổn thương trên CHT thường qui  không và có tiêm thuốc tương phản từ cho thấy: đường bờ tổn thương mỏng (≤3mm) và đều trong nhóm áp xe năo (78,9% và 84,2%) có tỷ lệ nhiều hơn có ư nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang  (27,3% và 54,5%); đặc tính thành tổn thương phía năo thất mỏng hơn phía vỏ năo của nhóm áp xe năo có 31,6%  trong khi nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang không có trường hợp nào; tín hiệu vỏ bao cao nhẹ trên T1W và thấp trên T2W của nhóm áp xe năo (47,4% và 84,2%) cao hơn có ư nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang (18,2% và 45,5%).

Trên CHT khuếch tán, tất cả trường hợp áp xe năo đều có tín hiệu cao trên h́nh trọng khuếch tán, thấp trên bản đồ ADC và giá trị ADC thấp (giá trị ADC trung b́nh 0,67 +/- 0,2 x 10 -3 mm2 / giây, tỷ số ADC = 0,94) so với nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 90,9% có tín hiệu thấp trên h́nh trọng khuếch tán, cao trên bản đồ ADC và giá trị ADC cao (2,45 +/- 0,57 x 10 -3 mm2 / giây, tỷ số ADC = 3,19) sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê cao (p<0,05). Tuy nhiên trong nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang có 1 trường hợp ung thư biểu mô tuyến phế quản di căn năo có tín hiệu cao trên h́nh trọng khuếch tán, thấp trên bản đồ ADC và giá trị ADC thấp (0,98 x10-3 mm2/giây). Kết quả phân tích đường cong ROC dự báo áp xe năo ở giá trị ADC  có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 90,9%, giá trị dự báo dương 90,5%, giá trị dự báo âm 100%,  ở điểm ngưỡng giá trị ADC ≤ 1,1 x 10 -3 mm2 / giây.

Biểu đồ: Đường cong ROC dự báo áp xe năo dựa vào giá trị ADC.

BÀN LUẬN

Các đặc tính v bao tn thương trên CHT thường qui không và có tiêm thuc tương phn t: độ dày thành tn thương mng (3mm), đều, b tn thương phía năo tht mng hơn phía v năo, thành tn thương tín hiu cao nh trên T1W và gim tín hiu trên T2W giúp gi ư chn đoán áp xe năo, nhưng có phn trùng lp cao vi u năo hoi t hoc dng nang và không phi lúc nào cũng gp trong áp xe năo nên trong nhiu trường hp khó chn đoán phân bit áp xe năo vi các u năo hoi t hoc dng nang trên CHT thường qui.

H́nh 1: Bệnh nhân nữ 62 tuổi, áp xe năo vùng đính phải, trên phim CHT thường qui không tiêm thuốc tương phản, vỏ bao áp xe có tín hiệu thấp trên T2W (h́nh trái) và tín hiệu cao nhẹ trên T1W (h́nh phải).

Ứng dụng CHT khuếch tán trong chẩn đoán áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang đă được báo cáo là hữu ích nhưng số trường hợp nghiên cứu c̣n giới hạn. Ebisu(9) lần đầu tiên báo cáo, năm 1996, áp xe năo có hạn chế khuếch tán trong khoang áp xe, có tín hiệu cao trên h́nh khuếch tán và giá trị ADC thấp 0,31 x 10-3 mm2/giây. Mủ trong khoang áp xe năo sền sệt, nhày, dịch vàng lục, axít, chứa các tế bào viêm, vi khuẩn, mô hoại tử và tiết dịch protein với độ nhớt cao. Với dịch có độ nhớt cao này, vận tốc dịch chuyển đại thể của chất dịch và cả mức chuyển động khuếch tán vi thể của các phân tử nước giảm rơ. Trái lại, khoang hoại tử hoặc nang của u năo thường chứa các mảnh mô u hoại tử, một vài tế bào viêm ít hơn áp xe năo và dịch huyết thanh trong hơn mủ. Do đó cường độ tín hiệu của mủ trong khoang áp xe năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán do sự khuếch tán hạn chế, ngược lại thành phần hoại tử hoặc thoái hóa nang của u năo không có sự khuếch tán hạn chế nên có tín hiệu thấp trên CHT khuếch tán.

H́nh 2: Bnh nhân n 62 tui, áp xe năo vùng đính phi, kích thước = 25mm. Bt thuc tương phn t dng vin trên h́nh T1W sau tiêm thuc (h́nh bên phi), b đều trơn láng, thành không dày #3mm, tăng tín hiu đồng nht trên h́nh CHT khuếch tán, b= 1000 giây / mm2 (h́nh bên trái) và gim tín hiu đồng nht trên bn đồ ADC (h́nh gia), giá tr ADC = 0,55 x 10 -3 mm2 / giây.

H́nh 3: Bệnh nhân nữ 24 tuổi, u vùng chẩm (T) kích thước # 65mm, thành dày không đều, bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên phim T1W sau tiêm thuốc (h́nh bên trái), tín hiệu thấp đồng nhất trên h́nh khuếch tán b=1000 giây / mm2  (h́nh bên phải) và cao đồng nhất trên bản đồ ADC, giá trị ADC = 2,82 x 10 -3 mm2 / giây. Kết quả giải phẫu bệnh lư u tế bào ống nội tủy (WHO độ II ).

Độ  ng tín hiệu khác nhau (tăng rơ , tăng nhẹ hoặc không đồng nhất) hoặc giá trị ADC khác nhau trong nhóm áp xe năo trên CHT khuếch tán giữa các bệnh nhân có thể lư giải là do mức độ tập trung khác nhau của các tế bào viêm, mảnh mô hoại tử, vi khuẩn……do đó khác nhau về độ nhớt dịch áp xe năo, ngoài ra có thể phụ thuộc vào tuổi của ổ áp xe , nguyên nhân nhiễm trùng và đáp ứng miễn dịch của cơ thể.

Trong nhóm u năo hoại tử hoặc dạng nang của nghiên cứu chúng tôi có 1 trường hợp tăng tín hiệu trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp (0,98 x 10-3 mm2 /giây), đó là trường hợp bệnh nhân nam 75 tuổi di căn năo từ ung thư biểu mô tuyến phế quản (h́nh 4). Trường hợp này cũng bắt gặp trong nghiên cứu của Holtas(14), theo lư giải của nghiên cứu th́ hạn chế khuếch tán là do hoại tử sớm kèm phù tế bào của tổn thương, chưa qua giai đoạn hóa dịch lỏng của mô hoại tử; nghiên cứu của Park(19)ng báo cáo 2 trường hợp di căn năo có tín hiệu cao trên CHT khuếch tán và kết quả sau mổ thành phần nang đó chứa chất hoại tử dạng sệt, mịn giống với mủ của áp xe. Ngoài ra Hartmann(12); Tung(23) trong nghiên cứu của họ cũng có trường hợp u di căn năo có khuếch tán hạn chế, được lư giải là do thành phần hoại tử hóa lỏng vô khuẩn chứa chất dạng kem mịn giống mủ với nhiều bạch cầu đa nhân. Sau khi hút thành phần hoại tử hóa lỏng này ra nh́n đại thể rất giống mủ, cũng có báo cáo của Monabali(17) cho rằng thành phần hoại tử của u năo và di căn rất giống với viêm cả về đại thể lẫn vi thể, tuy nhiên nhiễm trùng sinh mủ rất hiếm phát triển ở các u năo nguyên phát. Trong nghiên cứu của Chang(7)ng có 1 trường hợp tăng tín hiệu trên CHT khuếch tán và giá trị ADC thấp 0,44x10-3 mm2/ giây nhưng không phải u di căn năo như trên mà là u sao bào dạng tơ độ thấp (fibrillary low grade astrocytoma), sau mổ th́ thấy thành phần dịch không phải huyết thanh mà giống dạng nhớt mịn.

Ngoài ra theo báo cáo của Hakyemez(11),  có 6 trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm hạn chế khuếch tán trong thành phần hoại tử của u và giá trị ADC thấp 1,06 +/-0,17x10-3 mm2 /giây. Hạn chế khuếch tán có thể được quy cho hoại tử hóa lỏng vô khuẩn, bội nhiễm  và các vi xuất huyết trong u.


H́nh 4: Bệnh nhân nam 74 tuổi, ung thư biểu mô tuyến phế quản di căn năo thùy trán (P), kích thước 33mm. Tổn thương có tín hiệu thấp trên T1W (h́nh D) và cao trên T2W (h́nh B), FLAIR (h́nh C), kèm phù năo xung quanh. Vỏ bao đồng tín hiệu trên T1W (h́nh D) và có tín hiệu thấp trên T2W (h́nh B), tổn thương bắt thuốc tương phản từ dạng viền trên h́nh T1W sau tiêm thuốc (h́nh F). Tín hiệu cao không đồng nhất trên h́nh CHT khuếch tán, b=1000 giây / mm2  và thấp không đồng nhất trên bản đồ ADC (h́nh E), giá trị ADC=0,98x10-3 mm2/giây.


Tuy trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tất cả các trường hợp ápxe năo đều hạn chế khuếch tán, tuy nhiên có báo cáo của tác giả Lee(16) có một trường hợp áp xe năo có khuếch tán tăng , điều này được tác giả lư giải có lẽ là do đáp ứng miễn dịch tế bào kém ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và mủ vô trùng.

KẾT LUẬN

CHT thường qui có ứng dụng giới hạn và CHT khuếch tán là một phương pháp tốt để chẩn đoán phân biệt áp xe năo với u năo hoại tử hoặc dạng nang. Tuy nhiên trong một số ít trường hợp như phân tích ở trên cần kết hợp thêm CHT phổ sẽ tăng độ đặc hiệu hơn cho chẩn đoán.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Daniel Trương, Lê Đức Hinh và Nguyễn Thi Hùng (2004). Áp xe năo. In: Thần Kinh Học Lâm Sàng, pp 267-273. NXB Y học, TpHCM.

2.          Jacques Clarisse, Phạm Ngọc Hoa và Nguyễn Thi Hùng (2008). Nhiễm trùng. In: H́nh ảnh học sọ năo, pp 218-31. Nhà xuất bản Y học, TpHCM.

3.          Trần Đức Quang (2007). Nguyên lư trọng khuếch tán. In: Nguyên lư và kỹ thuật chụp cộng hưởng từ, pp 149-54. Đại học quốc gia TpHCM, TpHCM.

4.          Vơ Văn Nho, Trương Văn Việt (2001). Áp xe năo. In: Chuyên đề ngoại thần kinh, pp 166-82. Hồ Chí Minh.

5.          Anh Nhị (2001). Nhiễm trùng mủ hệ thần kinh trung ương. In: Thần kinh học lâm sàng và điều trị, pp 411-421. Nhà xuất bản Mũi Cà Mau.

6.          Adams and Victor (2005).Infections of the Nervous System. In: Principles of neurology, 8th edition, pp 606-609. McGraw-Hill.

7.          Chang, S.-C. and Al (2002). Diffusion-weighted MRI features of brain abscess and cystic or necrotic brain tumors Comparison with conventional MRI. Journal of Clinical Imaging, 26: 227-236.

8.          Dahnert, Wolfgang (2007). Infections of the Nervous System. In: Radiology Review Manual, 6th edition, pp 241-263. Lippincott Williams & Wilkins.

9.          Ebisu and Al.(1996). Discrimination of brain abscess from necrotic or cystic tumors by diffusion-weighted echo planar imaging. Magn Reson Imaging, 14: 1113-1116.

10.       Hagmann and Al.(2006). Understanding Diffusion MR Imaging Techniques: From Scalar Diffusion-weighted Imaging to Diffusion Tensor Imaging and Beyond. RadioGraphics, 26: 205-223.

11.       Hakyemez and Al.(2005). Glioblastoma multiforme with atypical diffusion-weighted MR findings. The British Institute of Radiology, 78: 989-992.

12.       Hartmann M, Jansen O, Heiland S, Sartor K(2000). The enigma of ring-enhancing brain lesions. American Society of Neuroradiology,  81-82.

13.       Heidi, Johansen and E.J, Timothy (2009). Introduction to diffusion MR. In: Diffusion MRI, 1st edition, pp 3 – 9. Elsevier, San Diego.

14.       Holtas S, Geijer B, Strömblad, Et Al (2000). A ring-enhancing metastasis with central high signal on diffusion-weighted imaging and low apparent diffusion coefficients. Neuroradiology, 42: 824 - 827.

15.       John, R. Haaga and Charles, F. Lanzieri (2003). Brain and Meninges. In: Computed tomography and magnetic resonance imaging of  the whole body, Vol. 1, 4th edition, pp124-431. Mosby.

16.       Lee and Al.(2006). Unusual findings in cerebral abscess: report of two cases. The British Journal of Radiology, 79: 156 - 161.

17.       Monabati, A and Al.,(2000). Intraoperative cytodiagnosis of metastatic brain tumors confused clinically with brain abscess: a report of three cases. Acta Cytol, 44: 437-441.

18.       Osborn (1994). Infections of the brain and its linings. In: Diagnostic Neuroradiology, 1st edition, pp 688 - 691. Mosby Year Book.

19.       Park Sh, Chang Kh, and Al. (2000). Diffusion weighted MRI in cystic or necrotic intracranial lesions. Neuroradiology, 42: 716– 721.

20.       Pronin, V. N. Kornienko (2009). Bacterial infection. In: Diagnostic Neuroradiology, 1st edition, pp 946 - 963.:Springer, Moscow.

21.       Scott, W. Atlas,(1996). Intra-axial Brain Tumors and Intracranial Infection. In: Magnetic resonance imaging of the brain and spine, 2nd edition, pp 315-423; 707 - 773. Lippincott – Raven, Philadelphia

22.       T.Moritani, Ekholm, and P.-L.Westesson (2005). Basics of Diffusion Measurements by MR. In:  Diffusion-Weighted MR Imaging of the Brain, 1 st edition, pp 1 - 6. Springer, NewYork.

23.       Tung Ga, Evangelista P, Rogg Jm, and Al (2001). Diffusion-weighted MR imaging of rim-enhancing brain masses: is markedly decreased water diffusion specific for brain abscess?. AJR, 177: 709–712.


 


 



* Bộ môn CĐHA, ĐHYD     ** CĐHA - Bệnh viện Chợ Rẫy

Địa chỉ liên hệ: BS. Nguyễn Trí Dũng                         ĐT: 0908 863 865             Email: handsdung@yahoo.com