TỶ LỆ NHIỄM HUMAN PAPILLOMA VIRUS VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA PHỤ NỮ TỪ 18 ĐẾN 69 TUỔI TẠI TP. HCM

Trần Thị Lợi *, Hồ Vân Phúc **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong độ tuổi từ 18-69 tại TP HCM và các yếu tố liên quan.

Phương pháp: thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên phụ nữ 18-69 tuổi, đă có quan hệ t́nh dục trong cộng đồng thuộc các quận huyện TP HCM được chọn vào mẫu nghiên cứu. Các số liệu liên quan đến nghiên cứu được thu thập qua bảng câu hỏi soạn sẵn gồm 16 câu hỏi liên quan đến nhân khẩu, xă hội học, tiền sử của vợ và chồng với các yếu tố liên quan đến nhiễm HPV, bệnh sử phụ khoa của lần khám này, phần khám lâm sàng và chẩn đoán lâm sàng. Sau khi phỏng vấn bằng bảng thu thập số liệu, các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa, được thử nghiệm định tính và định tưp HPV.

Kết quả: Tỉ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng TH HCM là 10,84 % (164/1.550) (khoảng tin cậy 95% 0,09-0,12), trong số đó nhiễm các tưp nguy cơ cao  là 9,1% và tưp nguy cơ thấp là 1,74%. Sự phân bố các tưp theo thứ tự như sau tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất 55,95% (94/168), tưp 18 chiếm 38,1% (64/168), tưp 58 là 11,13% (19/168), tưp 11 ( 4,76%), kế tiếp là tưp 6 (3,57%), các tưp khác tỷ lệ không cao. Các yếu tố nguy cơ có liên quan là tuổi, hút thuốc lá chủ động và t́nh trạng sử dung bao cao su tránh thai.

Kết luận: tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ TP HCM cũng khá cao 10,84% và sự phân bố các tưp HPV cũng tương tự trên thế giới.

Từ khóa: vi rút HPV, ung thư cổ tử cung, tưp HPV.

ASTRACT

PREVALENCE AND RELATED FACTORS OF HUMAN PAPILLOMAVIRUS INFECTION OF SEXUALLY ACTIVE WOMEN IN HO CHI MINH CITY

Tran Thi Loi, Ho Van Phuc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh *Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 311 - 320

Objectives:  To detect the prevalence of HPV by Polymerase chain reaction (PCR) and the risk factors related to HPV infection in reproductive women.

Materials and methods: The study population of this cross-sectional study was sexually active women from 18 to 69 years old living in Ho Chi Minh City. The sample was distributed randomly in all districts of Ho Chi Minh City with the cluster random sampling relevant to the population ratio. The results of the study were collected through the questionnaire of 16 questions concerning mouths to feed, sociology, past medical history of spouse with facts related to HPV infection, the history, clinical findings and diagnosis of the pelvic examination. 

Results:   From April 2008 to January 2009, prevalence of  HPV infection of women living in Ho Chi Minh City was 10.84% (168/1,550) (95% CI 0.09-0.12) and the high risk HPV positive result was 9.10% (141/1550); 1.74% in low risk types. The most common HPV types in women, in descending order of frequency, were types 16, 18, 58, 11, 6. The risk factors related to HPV infection are age, smoking, using condom infrequently.


Conclusion:  Prevalence of HPV infection detected by PCR of sexually active women in HCM city was 10.84% and the most common  HPV types in HCM city are similar to other regions  in the world.

Keywords: Human Papillomavirus, cervical cancer, HPV types.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, ung thư cổ tử cung (CTC) đứng hàng thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên thế giới. Ung thư CTC hiện là mối quan tâm đặc biệt của ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân v́ đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở các nước đang phát triển. Hằng năm có khoảng 500.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới mắc trên toàn thế giới, 80% các trường hợp ung thư này xảy ra ở các nước đang phát triển và hơn một nửa (270.000) các bệnh nhân này sẽ tử vong v́ ung thư, ước tính cứ mỗi 2 phút có 1 phụ nữ chết v́ ung thư cổ tử cung trên thế giới .Tại nước ta hiện nay, ung thư cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số các loại ung thư và là loại ung thư sinh dục thường gặp nhất (1). Xuất độ ung thư cổ tử cung ở quần thể phụ nữ TP HCM là 28,6 % cao nhất trong các loại ung thư ở phụ nữ, c̣n ở Hà Nội tỉ lệ này chỉ chiếm 7,7 % xếp vị trí thứ ba (7). Tuy nhiên, đây là bệnh có thể pḥng ngừa nếu được tầm soát phát hiện sớm và điều trị kịp thời v́ tiến triển tự nhiên của ung thư biểu mô CTC bắt đầu bằng tổn thương tiền xâm lấn qua nhiều năm tồn tại của các yếu tố nguy cơ trong đó HPV giữ vai tṛ chính.

Trong thập niên 70, HPV được mô tả như là 1 trong những tác nhân gây biến đổi tế bào cổ tử cung (dị sản CTC) là tiền đề của ung thư cổ tử cung. Cho đến nay, HPV được xác định là nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư cổ tử cung v́ ADN của vi rút hiện diện trong hầu hết các mẫu mô ung thư cổ tử cung. Các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy 99,7%-100% các trường hợp ung thư cổ tử cung có xét nghiệm ADN vi rút  HPV dương tính so với 5%- 12% ở nhóm chứng không có ung thư cổ tử cung. Bên cạnh đó, nhiễm kéo dài các tưp HPV có thể sẽ phát triển tới các tổn thương trong biểu mô CTC ở nhiều mức độ khác nhau. Khả năng diễn tiến đến ung thư cổ tử cung gấp 250 lần ở những trường hợp nhiễm HPV kéo dài so với người không bị nhiễm. Các sang thương sẽ không diễn tiến đến ung thư nếu không bị nhiễm HPV nguy cơ cao thườmg gặp là các tưp 16,18, 31,33.

Tuy nhiên, tác nhân gây ung thư  HPV là điều kiện cần nhưng không là điều kiện đủ của ung thư cổ tử cung v́ trên 80% các ca nhiễm HPV là thoáng qua. Các đồng yếu tố góp phần không nhỏ làm tăng khả năng tồn tại lâu dài t́nh trạng nhiễm HPV đặc biệt là các tưp nguy cơ cao để tạo ra sang thương cổ tử cung ở nhiều mức độ khác nhau và cuối cùng là ung thư CTC. 

Trong cuộc chiến không ngừng của nhân loại chống lại bệnh tật, đặc biệt là căn bệnh ung thư, mà ngày nay đang được quan tâm nhất là ung thư CTC, các nhà khoa học từ thực nghiệm đến lâm sàng đă không ngừng đi sâu nghiên cứu t́m hiểu tác nhân chính gây tổn thương tế bào CTC là vi rút  HPV. Đă có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước t́m hiểu về dịch tễ học và vai tṛ gây bệnh của HPV, đặc biệt là khả năng sinh ung thư CTC. Từ một phân tích gộp của 78 nghiên cứu trên thế giới đă ước tính tỷ lệ nhiễm HPV hiệu chỉnh chung trên toàn thế giới khoảng 10% (khoảng tin cậy 95% 10,2- 10,7). Khi ước tính riêng cho từng vùng th́ Châu Phi hiện có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất khoảng 22%, Trung Mỹ 20,4%, Bắc Mỹ 11,3%, Châu Âu 8,1% và Châu Á 8% và tưp thường gặp nhất là 16, 18 (5).  Tỉ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các tưp nguy cơ rất khác nhau tuỳ thuộc vào vùng địa lư và dân số nghiên cứu. Các yếu tố liên quan đến sự nhiễm dai dẵng HPV góp phần diễn tiến đến ung thư cổ tử cung đă được các tác giả nước ngoài ghi nhận như giao hợp sớm, sanh đẻ nhiều, dùng thuốc ngừa thai lâu dài (vai tṛ estrogen), nhiễm  các bệnh lây truyền qua đường t́nh dục, giao hợp với nhiều bạn t́nh (6). Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu trên thế giới về vai tṛ thực sự của các yếu tố nguy cơ này.

Tại Việt Nam, cũng có những nghiên cứu về dịch tễ học của HPV điển h́nh là các nghiên cứu sau. Nguyễn Trọng Hiếu và cộng sự phối hợp với WHO năm 2002 phát hiện HPV bằng thử nghiệm PCR AND trên những phụ nữ b́nh thường, cho thấy tỉ lệ nhiễm HPV ở một quận nội thành TP HCM là 10,9% và ở Hà Nội là 2%. HPV được t́m thấy nhiều nhất ở phụ nữ dưới 25 tuổi ở TP HCM (22,3%)(9). Trong khi đó, BS Phạm Việt Thanh khảo sát ở 408 trường hợp có phết tế bào CTC là HSIL và ung thư CTC ước tính được tỉ lệ nhiễm HPV là 93,14 %, trong đó nhiễm nhóm nguy cơ cao là 95% và nguy cơ thấp chỉ chiếm khoảng 5% (11). Một nghiên cứu khác của BS Nguyễn Thị Mỹ Phượng xác định tỉ lệ nhiễm HPV phát hiện qua phết tế bào CTC (Pap) ở 300 phụ nữ khám phụ khoa tại bệnh viện Gia Định là 10,3% và khi kết quả Pap’s bất thường th́ tỉ lệ này là 86,1 % đồng thời nêu được các yếu tố liên quan với tỉ lệ nhiễm HPV có ư nghĩa thống kê là tiền căn viêm âm đạo, khám LS cổ tử cung (8). Gần đây nhất là nghiên cứu của TS Vũ Thị Nhung xác định tỉ lệ nhiễm HPV phát hiện bằng phương pháp PCR ở phụ nữ TP HCM là 12%, trong đó 77,78% nhiễm các tưp HPV nguy cơ cao và 66,67% các tổn thương tiền ung thư dương tính với HPV (12). Tuy nhiên, các yếu tố liên quan với nhiễm các tưp HPV trong diễn tiến thành ung thư cổ tử cung chưa được khảo sát và đánh giá thỏa đáng.

Từ những tiền đề trên cho ta nhận xét nhiễm HPV đường sinh dục có tỉ lệ khá cao ở những phụ nữ trong độ tuổi hoạt động t́nh dục và không c̣n nghi ngờ ǵ khi khẳng định HPV là nguồn gốc của ung thư CTC. Tuy nhiên, tỉ suất hiện mắc, tỉ suất mới mắc, sự phân bố các tưp HPV khác nhau giữa các vùng địa dư và các yếu tố nguy cơ của nhiễm HPVchưa được hiểu biết thấu đáo. V́ vậy, việc xác định tỉ suất hiện mắc HPV trong dân số phụ nữ Việt Nam và vai tṛ của các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV góp phần gây ra ung thư cổ tử cung là việc làm vô cùng cần thiết nhằm pḥng ngừa và giảm tỉ lệ bệnh suất và tử suất của ung thư cổ tử cung tại quê hương ḿnh.

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Xác định tỉ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan ở những phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại TPHCM” với thiết kế cắt ngang mô tả nhằm  đạt các mục tiêu sau:

Mục tiêu

Xác định tỉ lệ nhiễm  HPV ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại TP HCM.

Xác định mối liên quan giữa tiền căn bệnh lư lây lan qua đường t́nh dục, tuổi giao hợp lần đầu, số bạn t́nh,  t́nh trạng hút thuốc, sử dụng bao cao su, t́nh trạng viêm âm đạo và nhiễm HPV.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang .

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ trong lứa tuổi 18 đến 69 đă có quan hệ t́nh dục ở thành phố Hồ Chí minh.

Tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu

Gồm những phụ nữ thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:

-        Phụ nữ đă có quan hệ  t́nh dục trong độ tuổi từ 18 - 69.

-        Đồng ư tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích mục đích nghiên cứu.

-        Có trạng thái tinh thần b́nh thường và t́nh trạng sức khỏe cho phép tiến hành cuộc phỏng vấn.

-        Đang sinh sống tại các quận huyện của TP HCM

Tiêu chuẩn loại trừ

Loại ra khỏi nghiên cứu những đối tượng có một trong các tiêu chuẩn sau:

-        Không đồng ư tham gia nghiên cứu.

-        Chưa có quan hệ t́nh dục

-        Phụ nữ có bệnh tâm thần.

-        Phụ nữ có thai.

-        Đang có bệnh lư cấp cứu.

-        Không đủ điều kiện lấy bệnh phẩm như đang ra máu âm đạo, đang đặt thuốc âm đạo, hoặc đang viêm cấp âm đạo CTC…

Thu thập số liệu

Các đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được giải thích rơ mục tiêu nghiên cứu và kư tên vào bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu. Sau đó được phỏng vấn qua bảng thu thập số liệu và khám phụ khoa cho chẩn đoán lâm sàng và phết CTC lấy mẩu làm xét nghiệm PCR ADN HPV.

Xử lư và phân tích số liệu

Số liệu được nhập và quản lư bằng phần mềm Epidata phiên bản 3.1 và phân tích bằng phần mềm STATA10.

KẾT QUẢ

Trong thời gian 9 tháng từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 1 năm 2009, chúng tôi đă thực hiện khám phụ khoa và làm xét nghiệm HPV ADN cho 1.550 đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tại 20 phường/ xă của 10 quận/ huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi thu được các kết quả sau

Bảng 1. Phân bố các đặc điểm  hội học của đối tượng

Kết quả tỉ lệ nhiễm HPV

Tỉ lệ HPV dương tính trong cộng đồng TP HCM là 10,84% (168/1.550) (khoảng tin cậy 95% là 0,09-0,12). Đa số nhiễm đơn tưp 69,64%(117/168), 26,19% nhiễm 2 tưp (44/168) và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ lệ thấp nhất 4,17% (7/168 trường hợp), trong đó có 2 trường hợp dương tính không định tưp được do thuộc các tưp ngoài 24 tưp có thể định danh được của xét nghiệm. Chúng tôi tính 2 trường hợp này chung vào nhóm nhiễm đơn tưp và nguy cơ thấp để thuận tiện cho việc tính toán và phân tích. Tính trong toàn bộ mẫu th́ tỉ suất nhiễm HPV nguy cơ cao là 9,1% (141/1.550), nguy cơ thấp là 1,74 % (27/1.550). Nếu tính riêng trong nhóm dương tính với HPV th́ tưp nguy cơ cao chiếm 83,93% (141/168), và nhóm nguy cơ thấp chiếm 16,07% (27/168).

Biểu đồ 1 Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ trong độ tuổi 18-69 tại TP HCM

Nhận xét

Tỉ suất hiện mắc HPV ở phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 69 tuổi  tại TP Hồ Chí Minh là 10,84%, trong đó đa số nhiễm các tưp nguy cơ cao (9,1%) và phần nhỏ nhiễm các tưp nguy cơ thấp (1,74%)

Biểu đồ 2.   Phân bố tỉ lệ nhiễm đơn tưp và đa tưp

Nhận xét

Trong 168 trường hợp nhiễm HPV, tỉ lệ nhiễm đơn tưp chiếm cao nhất 69,64% (117/168), có 44 trường hợp nhiễm 2 tưp (26,19%) và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ lệ thấp nhất 4,17% (7/168).

Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện được nhiễm nhiều nhất là 3 tưp, và tỉ lệ nhiễm phối hợp giảm dần khi số tưp tăng dần.

Nhận xét

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đă phát hiện được 17 tưp trong số 24 tưp có thể định danh được của kỷ thuật PCR. 7 tưp không xuất hiện trong nghiên cứu của chúng tôi là các tưp 33, 35, 51, 56, 59, 66, 42.

Trong các tưp HPV dương tính nhóm nguy cơ cao, tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất 55,95% (94/168), kế đến là tưp 18 38,1% (64/168), tưp 58 là 11,13% (19/168), các tưp c̣n lại đều chiếm tỉ lệ rất thấp.

Trong các tưp thuộc nhóm nguy cơ thấp th́ đứng đầu là tưp 11 ( 4,76%), kế tiếp là tưp 6 (3,57%), các tưp khác tỷ lệ thấp.

Nhận xét

Tỉ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm tuổi  60-69 tuổi: 15,38%, kế đó là nhóm tuổi 18 - 29 tuổi khoảng 13,57% bằng tỉ lệ của nhóm tuổi từ 40-49 tuổi. Sự khác biệt có ư nghĩa về phương diện thống kê với p=0,042

Nhận xét

Những phụ nữ hút thuốc lá chủ động có tỉ lệ nhiễm HPV là 30%, trong khi những phụ nữ không hút thuốc hoàn toàn tỉ lệ nhiễm HPV là 10,68% và 10,52% nếu chồng có hút thuốc lá, sự khác biệt có ư nghĩa về phương diện thống kê (p=0,02).

Trong kết quả thu được từ nghiên cứu này không cho thấy vai tṛ của hút thuốc lá thụ động (những phụ nữ có chồng hút thuốc lá tỉ lệ nhiễm HPV cũng tương đương những phụ nữ mà cả 2 vợ chồng không hút thuốc lá) mà chỉ ra nguy cơ nhiễm HPV tăng lên gấp 3,5 lần khi phụ nữ hút thuốc chủ động so với những đối tượng không hút (OR=3,5; p=0,01).

Nhận xét

Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa các mức độ sử dụng bao cao su. Sử dùng bao cao su không thường xuyên hay không sử dụng làm tăng nguy cơ nhiễm HPV lên khoảng 2 lần so với việc sử dụng thường xuyên.

Phân tích hồi quy đa biến để t́m mối liên quan giữ tỉ lệ nhiễm HPV và các yếu tố nguy cơ:

Sau khi phân tích đơn biến chúng tôi nhận thấy có mối liên quan thực sự giữa các yếu tố về tuổi, t́nh trạng hút thuốc và sử dụng bao cao su tránh thai với t́nh trạng nhiễm HPV (giá trị p của phép kiểm định nhỏ hơn 0,05). Yếu tố viêm âm đạo tại thời diểm khám không thấy mối liên quan khi phân tích đơn biến (p=0,07 >0,05) nhưng đây là biến số chúng tôi đang quan tâm nên muốn đưa vào phân tích đa biến xem xét sự tương tác và ảnh hương với các yếu tố khác.

Chạy mô h́nh hồi quy đa biến các biến số tuổi, hút thuốc, dùng bao cao su ngừa thai, viêm âm đạo. Chúng tôi thu được kết quả sau:

Kiểm định mô h́nh với Hosmer & Lemeshow, ÷2 (6)=15,84, với p= 0,01

R2 Nagelkerke=0,014.

Kiểm định số liệu trong nghiên cứu có phù hợp với mô h́nh hồi quy đa biến không, ta thấy rằng sự khác biệt giữa số liệu trong nghiên cứu với mô h́nh hồi quy đa biến có ư nghĩa thống kê (p=0,01).

Trong bảng kết quả của phân tích hồi quy đa biến ta c̣n nhận thấy kết quả của Wald test cho các biến số tuổi và viêm âm đạo đều có giá trị lớn hơn 0,05 ( p=0,65 và p=0,11) chứng tỏ rằng sau khi hiệu chỉnh cho các biến số khác th́ hai biến số này không c̣n liên quan có ư nghĩa với t́nh trạng nhiễm HPV. C̣n biến số sử dụng bao cao su và hút thuốc thực sự liên quan có ư nghĩa với t́nh trạng nhiễm này.

Vậy sau khi hiệu chỉnh OR#3 cho biến số hút thuốc chủ động; nghĩa là nếu bản thân người phụ nữ hút thuốc th́ họ sẽ làm tăng nguy cơ dương tính với HPV gấp 3 lần so với đối tượng không hút hoặc có chồng hút thuốc. Tương tự với biến số dùng bao cao su, những phụ nữ dùng bao cao su ngừa thai thường xuyên có thể giảm khả năng nhiễm HPV 2 lần so với người không dùng hay dùng không thường xuyên.

BÀN LUẬN

Với 1.550 phụ nữ trong độ tuổi từ 18-69 nhận vào nghiên cứu, kết quả thu được có 10,84 % (164/1.550) đối tượng nhiễm HPV, tỉ lệ này tương tự với kết quả của tác giả Nguyễn Trọng Hiếu (10,9%) và hơi thấp hơn nghiên cứu của Vũ Thị Nhung (p=12%) tại TP Hồ chí Minh. So sánh với tỷ suất hiện mắc HPV trên thế giới, theo một phân tích gộp của tác giả de Sanjoes và cộng sự năm 2007 đưa ra kết quả khoảng 10% (2). Vậy t́nh h́nh nhiễm HPV của phụ nữ tại miền nam Việt nam cũng tương tự như trên thế giới.

Tỷ lệ nhiễm các tưp nguy cơ cao trong nghiên cứu của chúng tôi là 83,93% (141/168) nguy cơ thấp là 16,07% (27/168), tỷ lệ này cũng tương tự với kết quả của Vũ thị Nhung 77,78% và 13,88% lần lượt cho nguy cơ cao và thấp.

Trong số những trường hợp HPV (+) tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất: 55,95% (94/168), kế đến là tưp 18: 36,11% (64/168) và tưp 58: 11,31% (19/168). Các tưp nguy cơ thấp có tỉ lệ nhỏ hơn như tưp 11 chiếm 4,76% (8/168), tưp 6  3,57% (6/168). Tỉ lệ các tưp nguy cơ cao của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới như của Munoz và cộng sự năm 2004 về thứ tự xuất hiện của các tưp 16, 18, 58.

Bảng : So sánh tỉ lệ nhiễm các tưp HPV nguy cơ cao qua các nghiên cứu

Nghiên cứu của Vũ thị Nhung ghi nhận 3 tưp HPV hay gặp nhất trong cộng đồng là 18, 58, 16 và nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hiếu là 16, 58, 18. Khác biệt này có thể lư giải do khác nhau về thời điểm lấy mẫu, cách chọn mẫu.

Có sự khác biệt rất lớn trong sự phân bố các kiểu di truyền (genotypes) của HPV của những vùng địa dư khác nhau rên thế giới. Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc HPV ở 13 vùng trên 11 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, khảo sát 15.613 phụ nữ từ 15-60 tuổi có xét nghiệm tế bào học CTC b́nh thường đưa vào nghiên cứu tầm soát HPV bằng kỹ thuật khuyết đại chuỗi di truyền PCR (2). HPV dương tính tưp 16 ở châu Au cao hơn nhiều so với Châu Phi với OR=2,6.

Tuy có khác nhau về sự phân bố các tưp giữa các vùng địa lư khác nhau nhưng nh́n chung tưp 16, 18 luôn giữ vai tṛ quan trọng. Sự xuất hiện tưp 58  trong 3 tưp hay gặp nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh qua 3 nghiên cứu ở 3 thời điểm khác nhau cho thấy liệu tưp 58 có phải là đặc trưng của sự phân bố các tưp HPV ở Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung hay không.

Tuổi và mối liên quan với nhiễm HPV

Tuổi trung b́nh của đối tượng trong mẫu nghiên cứu là 42 tuổi, trẻ nhất là 18 tuổi và già nhất là 69 tuổi. Đa số tập trung ở nhóm tuổi từ 30-49 có 1.103 trường hợp (chiếm khoảng 65%), nhóm tuổi từ 18-29 chiếm tỷ lệ thấp 9,03%.

Trong 168 trường hợp có xét nghiệm PCR HPV ADN dương tính, có 19 đối tượng thuộc nhóm tuổi 18-29, 41 phụ nữ trong độ tuổi 30-39,  nhóm từ 40-49 tuổi có 72 người, 28 phụ nữ có tuổi từ 50 -59 và chỉ có 8 đối tượng trong nhóm 60-69. Tỉ lệ % tương ứng với từng nhóm là 11,31%, 24,4%, 42,86%, 16,67%, 4,76%. Do vậy, tính trên những đối tượng  nhiễm HPV th́ nhóm tuổi 30-49 cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (khoảng 67%) và thấp nhất ở nhóm tuổi từ 60- 69. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Vũ thị Nhung (12). Tuy nhiên, do sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm tuổi trong mẫu nghiên cứu, cụ thể là thu nhận vào 65% người từ 30-49 tuổi nên dẫn đến kết quả có 67% trong nhóm phụ nữ nhiễm HPV ở độ tuổi này. Do đó ta phải phân tích riêng trong từng nhóm tuổi cụ thể như bảng 3 để đưa ra kết luận xác hợp. Tỉ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm tuổi 60-69 tuổi chiếm 15,38%, kế đó là nhóm tuổi từ 40-49 tuổi 13,38% và 13,57% trong độ tuổi 18 – 29 (sự khác biệt có ư nghĩa về phương diện thống kê với p=0,042). Kết quả này tương tự với kết luận của Vũ thị Nhung, tỷ lệ nhiễm HPV nh́n chung ở nhóm tuổi dưới 30 tuổi thấp hơn lứa tuổi từ 30 tuổi trở lên (12). Tuy nhiên, kết quả này có khác biệt với các nghiên cứu nước ngoài; Theo Scheurer tỉ lệ nhiễm HPV cao nhất trong khoảng từ 15 đến 25, sau đó giảm dần và ổn định sau 40 tuổi và tăng trở lại vào giai đoạn quanh măn kinh và hậu măn kinh (12). Vậy có 2 đỉnh điểm của nhiễm HPV là <25 tuổi và quanh tuổi măn kinh. Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện được đỉnh là những phụ nữ trong độ tuổi quanh măn kinh và măn kinh (60- 69).

Khác biệt về tỉ lệ nhiễm HPV ở nhóm phụ nữ <30 tuổi không cao trong nghiên cứu này có thể là v́ nhiễm HPV ở nhóm tuổi trẻ thường là tạm thời nên chưa hẳn là nhóm này ít bị nhiễm mà có thể đă nhiễm thoáng qua. Thêm nữa, sự khác nhau về văn hóa và lối sống t́nh dục của phụ nữ nước ta khắc khe, nghiêm ngặt hơn so với sự dễ dàng và tự do của phụ nữ phương Tây.

Sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm HPV giữa các nhóm tuổi có ư nghĩa thống kê khi phân tích riêng rẽ (p= 0,04) nhưng khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến th́ thực sự không thấy mối liên quan này (p=0,65).

Tuổi bắt đầu quan hệ t́nh dục và nhiễm HPV

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, phụ nữ từ 18 tuổi trở lên mới được phép kết hôn đồng nghĩa với sự chấp nhận có quan hệ t́nh dục hợp pháp. Kết quả thu được từ nghiên cứu cho thấy tuổi giao hợp lần đầu nhỏ nhất là 13 tuổi, tuổi trung b́nh bắt đầu sinh hoạt t́nh dục là 23 và số trường hợp có quan hệ t́nh dục trước 18 tuổi không cao chiếm 8,65% (134/1.550). Vậy, nghiên cứu này cho thấy phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh có tuổi giao hợp lần đầu cao hơn phụ nữ trên thế giới có lẽ do nền văn hóa phong kiến Á Đông và sự cho phép của pháp luật. Cũng chính v́ lẽ đó mà ta không t́m thấy mối liên quan giữa tuổi giao hợp lần đầu và nhiễm HPV (p=0,65). Tuy nhiên, mối liên quan này vẫn c̣n nhiều tranh căi trên thế giới(12). Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và sự giao lưu, hội nhập không ngừng về văn hóa xă hội giữa Việt Nam và các nước phương Tây nên tuổi giao hợp sẽ có xu hướng sớm hơn và sẽ có sự thay đổi rơ rệt trong từng giai đoạn phát triển của xă hội. Do đó, ta cũng cần có thêm những nghiên cứu khác quan tâm đúng mức hơn về mối quan hệ này.

Yếu tố nghề nghiệp.

Nhóm phụ nữ ở nhà nội trợ chiếm phần nhiều hơn so với các công việc khác 38%. Nghiên cứu của Vũ thị Nhung cũng có phần đông đối tượng thuộc nhóm này. Ta có thể rút ra nhận xét, đặc điểm của phụ nữ Việt Nam vẫn c̣n quanh quẩn trong nhà với thiên chức làm vợ và làm mẹ nhiều hơn ra xă hội làm việc. Do vậy, họ ít có điều kiện chăm sóc sức khỏe và tầm soát bệnh lư định kỳ hơn những đối tượng thuộc nhóm nghề nghiệp khác. Tuy nhiên chúng tôi không t́m thấy mối liên quan thực sự có ư nghĩa thống kê giữa các nhóm nghề nghiệp với t́nh trạng nhiễm HPV. Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn thị Mỹ Phượng năm 2004 trên đối tượng là phụ nữ đến khám phụ khoa tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định ghi nhận có mối liên quan. Khác biệt này do sự không giống nhau về đối tượng chọn mẫu của chúng tôi trong cộng đồng, đại diện hơn khi mẫu chọn trong bệnh viện và cỡ mẫu của chúng tôi lớn hơn nhiều (1.550 > 300) nên khả năng ước lượng tham số trong dân số cũng chính xác và mạnh mẽ hơn.

Tŕnh độ học vấn của cả hai vợ chồng đối tượng với nhiễm HPV

Khoảng 70% phụ nữ có tŕnh độ học vấn cấp hai và cấp ba, trong đó cao nhất là cấp hai gần 38%. Kết quả tương tự với tŕnh độ học vấn của những ông chồng của của họ. Sự phân bố tỉ lệ này cũng giống với nghiên cứu của Vũ thị Nhung. Xét về tỉ lệ nhiễm HPV trên những nhóm học thức khác nhau ta không nhận ra mối liên hệ có ư nghĩa thống kê. Tuy nhiên, có nhiều nhận định khác nhau về vấn đề này khi so sánh với các nghiên cứu khác nhau. Với kết quả của Phạm Việt Thanh, người có học vấn từ đại học trở lên có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 2,4 lần so với phụ nữ chỉ học dưới cấp 1 (11). Ông dựa vào khía cạnh xă hội để giải thích cho điều này, phụ nữ có học thức cao thường có ư thức quan tâm đến sức khỏe, có cơ hội tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của phụ nữ và đủ điều kiện đến khám chữa bệnh ở giai đoạn sớm qua các đợt khám sức khỏe định kỳ của cơ quan. Do đó, các chương tŕnh tầm soát có khả năng phát hiện được những phụ nữ thuộc nhóm có học thức cao hơn các nhóm c̣n lại. Nghiên cứu BS Thanh thực hiện trong bệnh viện, nơi mà những đối tượng tự đến khám và chữa bệnh khi có đủ điều kiện và cho rằng ḿnh có bệnh. Kết quả của chúng tôi rút ra từ cộng đồng những phụ nữ tại các phường xă được mời đến khám ngẫu nhiên. V́ vậy, kết quả của chúng tôi mang tính đại diện và khái quát hóa cao hơn.  

T́nh trạng hôn nhân, các yếu tố về bạn t́nh và nhiễm HPV

Trên 90 % phụ nữ trong mẫu nghiên cứu hiện đang sống cùng chồng nên có đời sống quan hệ t́nh dục thường xuyên với người phối ngẫu nhất định. Do vậy, mẫu này sẽ phản ánh tốt t́nh trạng nhiễm HPV của dân số v́ yếu tố ổn định trong hôn nhân được cho rằng có liên quan đến nhiễm HPV thông qua sự thay đổi với người phối ngẫu. Tỉ lệ nhiễm HPV ở những phụ nữ có chồng chiếm 88,1% cao hơn rất nhiều so với những đối tượng hiện không sống chung chồng như góa bụa, li dị, độc thân quan hệ (11,9%). Tuy nhiên, với phép kiểm chi b́nh phương không cho ta sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về tỉ lệ nhiễm HPV giữa hai nhóm này (p = 0,31). 

Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn t́m hiểu có hay không sự thay đổi về tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ khi bản thân họ hoặc chồng của họ có nhiều hơn một bạn t́nh so với người chỉ quan hệ duy nhất với một người phối ngẫu. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy phụ nữ có từ 3 bạn t́nh trở lên có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 1,9 lần so với người chỉ có 1 hoặc 2 bạn t́nh (6). Cứ có 1 bạn t́nh mới mỗi tháng th́ nguy cơ nhiễm HPV sẽ tăng lên 10 lần, đặc biệt là khi người phối ngẫu này lại quan hệ t́nh dục với nhiều người khác, tỉ lệ nhiễm HPV sinh dục lần lượt là 83%, 17% cho nhóm có 5 bạn t́nh và chỉ 1 bạn t́nh (6). 

Nhận xét về biến số hút thuốc lá và nhiễm HPV

Số phụ nữ hút thuốc trong nghiên cứu không cao, khoảng 1,29% (20/1.550) tương đương với tỷ lệ của Nguyễn Trọng Hiếu (1,94%). Sau khi phân tích đơn biến và hồi quy đa biến, ta nhận thấy vai tṛ của hút thuốc lá chủ động có liên quan thực sự với t́nh trạng nhiễm HPV. Những phụ nữ chính họ hút thuốc hoặc cả hai vợ chồng cùng hút th́ sẽ tăng nguy cơ nhiễm HPV lên 3 lần (OR* = 3,08; p=0,02). Tỷ lệ chồng hút thuốc chiếm khá cao (55,81%) phù hợp với thực tế xă hội Việt Nam nhưng khi phân tích không t́m thấy vai tṛ nào của hút thuốc thụ động với nhiễm HPV. Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa đi sâu vào t́m hiểu loại thuốc lá sử dụng, số diếu thuốc hút trong ngày và thời gian hút. V́ vậy, đây cũng chỉ là nhận định ban đầu, cần có thêm các nghiên cứu sau để kiểm chứng và xác định lại vai tṛ thực sự của hút thuốc.

Vấn đề sử dụng bao cao su tránh thai và HPV

Trong các biện pháp tránh thai hiện đại, sử dụng bao cao su và thuốc ngừa thai uống là hai biện pháp được bàn đến nhiều nhất v́ tác động của nó lên sự thay đổi tế bào cổ tử cung. Một nghiên cứu cho thấy sử dụng thuốc ngừa thai uống liên tục trong 12 năm làm tăng nguy cơ nhiễm HPV và ung thư CTC(6). Theo Green, không có mối liên hệ nào giữa nhiễm HPV và sử dụng thuốc ngừa thai kéo dài(4). Ta nhận thấy c̣n nhiều tranh luận giữa nhiều nghiên cứu khác nhau trong việc đưa đến kết luận cuối cùng về có hay không mối liên hệ này và thời gian sử dụng thuốc ngừa thai là bao lâu sẽ gây ảnh ra thay đổi có ư nghĩa thống kê. Do đó, nghiên cứu của chúng tôi chỉ quan tâm đến biện pháp ngừa thai là bao cao su.

Chỉ có 12% phụ nữ sử dụng bao cao su thường xuyên trong cuộc sống sinh hoạt t́nh dục c̣n đa số không dùng (76,39%). Điều này chứng tỏ biện pháp ngừa thai hữu ích này chưa thực sự phổ biến trong dân số chung. Tỉ lệ nhiễm HPV ở những phụ nữ dùng bao cao su thường xuyên rất thấp (khoảng 5%) so với nhóm phụ nữ không sử dụng chiếm tỉ lệ hơn 80%. Khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến với các yếu tố nguy cơ khác ta vẫn thấy mối liên quan này có ư nghĩa thống kê (OR =2,28; p= 0,01). Vậy khi sử dụng bao cao su thường xuyên trong sinh hoạt t́nh dục th́ giảm nguy cơ nhiễm HPV đi 2 lần so với những phụ nữ không sử dụng hay sử dụng không thường xuyên. Một nghiên cứu đă đưa ra kết quả tỉ lệ sạch nhiễm HPV tích lũy trong 2 năm tương ứng ở 2 nhóm có và không sử dụng bao cao su là 4%, 23% (6). Vậy sử dụng bao cao su là tăng sự sạch nhiễm của HPV, có vai tṛ làm tăng sự thoái triển của tân sinh trong biểu mô CTC.

KẾT LUẬN

Sau chín tháng tiến hành nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu đủ lớn và có tính đại diện cho phụ nữ ở TP Hồ Chí Minh trong độ tuổi từ 18 đến 69, nhóm nghiên cứu rút ra được các kết luận như sau:

Tỉ lệ nhiễm HPV

Tỉ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ TP HCM là 10,84% (khoảng tin cậy 95% từ 0,09-0,12), nhiễm các tưp nguy cơ cao chiếm 9,1% và 1,74% nhiễm các tưp nguy cơ thấp.

Trong 168 trường hợp nhiễm HPV có 117 trường hợp nhiễm đơn tưp chiếm tỉ lệ 69,64%, nhiễm 2 tưp là 44 trường hợp chiếm 26,19% và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ lệ thấp nhất 4,17% (7/168).

Khi nhiễm phối hợp nhiều tưp th́ gần như toàn bộ các trường hợp đều nhiễm ít nhất một tưp nguy cơ cao (95% khi nhiễm 2 tưp và 100% khi 3 tưp).

Sự phân bố các tưp theo thứ tự như sau

Trong các tưp HPV nhóm nguy cơ cao, tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất 55,95% (94/168), kế đến là tưp 18 chiếm 38,1% (64/168), tưp 58 chiếm 11,13% (19/168), các tưp c̣n lại đều chiếm tỉ lệ rất thấp.

Trong các tưp thuộc nhóm nguy cơ thấp, đứng đầu là tưp 11 chiếm 4,76%, tưp 6 chiếm 3,57%, các tưp khác tỷ lệ không cao.

Các yếu tố nguy cơ liên quan với nhiễm HPV

Nghiên cứu này không t́m thấy mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa số bạn t́nh và tuổi giao hợp lần đầu nhỏ hơn 18 tuổi với nhiễm HPV.

Phụ nữ hút thuốc lá hay cả hai vợ chồng cùng hút th́ có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 3 lần những phụ nữ hoàn toàn không tiếp xúc với khói thuốc (OR*= 3,08; p= 0,02).

Những cặp vợ chồng sử dụng bao cao su tránh thai thường xuyên có khả năng bảo vệ khỏi nhiễm HPV khoảng 2 lần so với những người không sử dụng hoặc sử dụng không thong xuyên (OR*= 2,2; p= 0,01).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Bộ môn sản ĐHYD TPHCM (1996). Sản phụ khoa, tập 2, Nhà xuất bản TP HCM, lần 4, 906-917.

2.          De Sanjose S, Diaz M, Castellsague X, et al (2007). Worldwide prevalence and genotype distribution of cervical human papillomavirus DNA in women with normal cytology. Lancet Infect Dis; 7:453

3.          Franco EL, Duarte-Franco, et al (2001). Epidemiology, prevention and the role of human papillomavirus infection. CMAJ. 164: 1017-25

4.          Green JB et al (2003). Human Papillomavirus infection and use of oral contraceptives. Bristish Journal of cancer. 88(11): 1713-1720.

5.          Lee Hyo-Pyo, Sang-Soo Seo (2002). The application of human papilloma virus testing to cervical cancer screening. Yousei Medical Journal. 43(6):763-8.

6.          Munoz N et al (2002). Role or parity and human pappillomavirus in cervical cancer. Lancet. 359 (9312):1093-1101.

7.          Nguyễn Chấn Hùng, Eric Suba và cộng sự (2001). Một số nhận định về dịch tễ học của CIN- Ung thư cổ tử cung trong chương tŕnh tầm soát ung thư cổ tử cung Việt Mỹ, Hi thảo Việt Pháp 2001, 21-31.

8.          Nguyễn Thị Mỹ Phượng (2004). Tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện qua phết mỏng cổ tử cung ở bệnh khám phụ khoa tại BV NDGĐ, Luận văn thạc sĩ y học, 66-67.

9.          Nguyễn Trọng Hiếu (2004). Tần suất nhiễm HPV ở phụ nữ PT HCM và Hà Nội, Tạp chí Phụ sản, tập 4(2), 64-72.

10.       Phạm Việt Thanh (2001). Hiệu quả điều trị tân sinh trong biểu mô cô tử cung bằng ṿng cắt đốt, Luận văn chuyên khoa II, Trường ĐHYD TPHCM, 13-15.

11.       Phạm Việt Thanh (2009). Định danh HPV ở phụ nữ có phết mỏng CTC bất thường. Hội nghị sản phụ khoa Việt- Pháp- Châu Á- Thái b́nh Dương lần thứ IX, 102-110. 

12.       Scheurer ME (2005). Human papillomavirus infection: biology, epidemiology, and prevention. Int Gynecol Cancer. 15: 727-746.

13.       Vũ Thị Nhung (2006). Khảo sát t́nh h́nh nhiễm các type HPV ở phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Đề tài cấp sở, 55.