Trần Thị Lợi *, Hồ Vân Phúc **
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong độ tuổi
từ 18-69 tại TP HCM và các yếu tố liên quan.
Phương pháp: thiết kế nghiên cứu cắt ngang được
thực hiện trên phụ nữ 18-69 tuổi, đă có quan
hệ t́nh dục trong cộng đồng thuộc các quận
huyện TP HCM được chọn vào mẫu nghiên cứu.
Các số liệu liên quan đến nghiên cứu được
thu thập qua bảng câu hỏi soạn sẵn gồm 16
câu hỏi liên quan đến nhân khẩu, xă hội học,
tiền sử của vợ và chồng với các yếu tố
liên quan đến nhiễm HPV, bệnh sử phụ khoa của
lần khám này, phần khám lâm sàng và chẩn đoán lâm sàng.
Sau khi phỏng vấn bằng bảng thu
thập số liệu, các đối tượng tham gia
nghiên cứu được khám phụ khoa, được
thử nghiệm định tính và định tưp HPV.
Kết quả: Tỉ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng TH
HCM là 10,84 % (164/1.550) (khoảng tin cậy
95% 0,09-0,12), trong số đó nhiễm các tưp nguy cơ
cao là 9,1% và tưp nguy cơ thấp
là 1,74%. Sự phân bố các tưp theo thứ tự như sau
tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất 55,95% (94/168), tưp 18 chiếm
38,1% (64/168), tưp 58 là 11,13% (19/168), tưp 11 ( 4,76%), kế tiếp
là tưp 6 (3,57%), các tưp khác tỷ lệ không cao. Các yếu tố
nguy cơ có liên quan là tuổi, hút thuốc lá chủ động
và t́nh trạng sử dung bao cao su tránh thai.
Kết luận: tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ TP HCM
cũng khá cao 10,84% và sự phân bố các
tưp HPV cũng tương tự trên thế giới.
Từ khóa: vi rút HPV, ung thư cổ tử cung, tưp HPV.
PREVALENCE AND RELATED FACTORS OF HUMAN PAPILLOMAVIRUS
INFECTION OF SEXUALLY ACTIVE WOMEN IN HO
Tran Thi Loi, Ho Van Phuc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh *Vol.14 -
Supplement of No 1-2010: 311 - 320
Objectives: To detect the prevalence of HPV by Polymerase
chain reaction (PCR) and the risk factors related to HPV infection in
reproductive women.
Materials and methods: The study population of this cross-sectional study was sexually active
women from 18 to 69 years old living in
Results:
From April 2008 to January 2009, prevalence of HPV infection of
women living in

Conclusion: Prevalence of HPV infection detected by PCR
of sexually active women in HCM city was 10.84% and the most common HPV types in HCM city are similar to
other regions in the world.
Keywords: Human Papillomavirus, cervical cancer, HPV types.
Ngày nay, ung thư cổ tử cung (CTC) đứng hàng
thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên
thế giới. Ung thư CTC hiện là mối quan tâm đặc biệt của
ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân v́ đây
là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở
các nước đang phát triển. Hằng năm có khoảng
500.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới
mắc trên toàn thế giới, 80% các trường hợp
ung thư này xảy ra ở các nước đang phát triển
và hơn một nửa (270.000) các bệnh nhân này sẽ tử
vong v́ ung thư, ước tính cứ mỗi 2 phút có 1 phụ
nữ chết v́ ung thư cổ tử cung trên thế giới
.Tại nước ta hiện nay, ung thư cổ tử
cung chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số các
loại ung thư và là loại ung thư sinh dục thường
gặp nhất (1). Xuất độ ung thư cổ tử
cung ở quần thể phụ nữ TP HCM là 28,6 % cao nhất
trong các loại ung thư ở phụ nữ, c̣n ở Hà Nội
tỉ lệ này chỉ chiếm 7,7 % xếp vị trí thứ
ba (7). Tuy nhiên, đây là bệnh có thể
pḥng ngừa nếu được tầm soát phát hiện
sớm và điều trị kịp thời v́ tiến triển
tự nhiên của ung thư biểu mô CTC bắt đầu
bằng tổn thương tiền xâm lấn qua nhiều
năm tồn tại của các yếu tố nguy cơ
trong đó HPV giữ vai tṛ chính.
Trong thập niên 70, HPV
được mô tả như là 1 trong những tác nhân gây
biến đổi tế bào cổ tử cung (dị sản
CTC) là tiền đề của ung thư
cổ tử cung. Cho đến nay, HPV được xác
định là nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư cổ tử cung v́ ADN của vi rút hiện
diện trong hầu hết các mẫu mô ung thư cổ tử
cung. Các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy 99,7%-100% các trường hợp ung thư cổ
tử cung có xét nghiệm ADN vi rút
HPV dương tính so với 5%- 12% ở nhóm chứng
không có ung thư cổ tử cung. Bên cạnh
đó, nhiễm kéo dài các tưp HPV có thể sẽ phát triển
tới các tổn thương trong biểu mô CTC ở nhiều
mức độ khác nhau. Khả năng diễn tiến
đến ung thư cổ tử cung gấp
250 lần ở những trường hợp nhiễm HPV
kéo dài so với người không bị nhiễm. Các sang
thương sẽ không diễn tiến đến ung thư
nếu không bị nhiễm HPV nguy cơ cao thườmg gặp
là các tưp 16,18, 31,33.
Tuy nhiên, tác
nhân gây ung thư
HPV là điều kiện cần nhưng không là
điều kiện đủ của ung thư cổ tử
cung v́ trên 80% các ca nhiễm HPV là thoáng qua. Các đồng yếu
tố góp phần không nhỏ làm tăng khả năng tồn
tại lâu dài t́nh trạng nhiễm HPV đặc biệt là
các tưp nguy cơ cao để tạo ra sang thương cổ
tử cung ở nhiều mức độ khác nhau và cuối
cùng là ung thư CTC.
Trong cuộc chiến không
ngừng của nhân loại chống lại bệnh tật,
đặc biệt là căn bệnh ung thư, mà ngày nay
đang được quan tâm nhất là ung thư CTC, các nhà
khoa học từ thực nghiệm đến lâm sàng đă
không ngừng đi sâu nghiên cứu t́m hiểu tác nhân chính
gây tổn thương tế bào CTC là vi rút HPV. Đă có rất nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước t́m hiểu về dịch
tễ học và vai tṛ gây bệnh của HPV, đặc biệt
là khả năng sinh ung thư CTC. Từ
một phân tích gộp của 78 nghiên cứu trên thế giới
đă ước tính tỷ lệ nhiễm HPV hiệu chỉnh
chung trên toàn thế giới khoảng 10% (khoảng tin cậy
95% 10,2- 10,7). Khi ước tính riêng cho từng
vùng th́ Châu Phi hiện có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất
khoảng 22%, Trung Mỹ 20,4%, Bắc Mỹ 11,3%, Châu Âu 8,1%
và Châu Á 8% và tưp thường gặp nhất là 16, 18 (5). Tỉ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các tưp
nguy cơ rất khác nhau tuỳ thuộc vào vùng địa
lư và dân số nghiên cứu. Các yếu tố liên quan
đến sự nhiễm dai dẵng HPV góp phần diễn
tiến đến ung thư cổ tử cung đă
được các tác giả nước ngoài ghi nhận
như giao hợp sớm, sanh đẻ nhiều, dùng thuốc
ngừa thai lâu dài (vai tṛ estrogen), nhiễm các bệnh lây truyền qua
đường t́nh dục, giao hợp với nhiều bạn
t́nh (6). Tuy nhiên, vẫn chưa có
sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu trên thế
giới về vai tṛ thực sự của các yếu tố
nguy cơ này.
Tại Việt
Từ những tiền
đề trên cho ta nhận xét nhiễm HPV đường
sinh dục có tỉ lệ khá cao ở những phụ nữ
trong độ tuổi hoạt động t́nh dục và
không c̣n nghi ngờ ǵ khi khẳng định HPV là nguồn
gốc của ung thư CTC. Tuy nhiên, tỉ suất hiện mắc, tỉ suất
mới mắc, sự phân bố các tưp HPV khác nhau giữa
các vùng địa dư và các yếu tố nguy cơ của
nhiễm HPVchưa được hiểu biết thấu
đáo. V́ vậy, việc xác định tỉ suất
hiện mắc HPV trong dân số phụ nữ Việt Nam
và vai tṛ của các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV góp phần
gây ra ung thư cổ tử cung là việc làm vô cùng cần
thiết nhằm pḥng ngừa và giảm tỉ lệ bệnh
suất và tử suất của ung thư cổ tử cung
tại quê hương ḿnh.
Do đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Xác định
tỉ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan ở
những phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại
TPHCM” với thiết kế cắt ngang mô tả nhằm đạt
các mục tiêu sau:
Xác định tỉ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ trong
độ tuổi sinh sản tại TP HCM.
Xác định mối liên quan giữa tiền căn bệnh lư lây lan qua đường t́nh dục, tuổi giao hợp lần đầu, số bạn t́nh, t́nh trạng hút thuốc, sử dụng bao cao su, t́nh trạng viêm âm đạo và nhiễm HPV.
Nghiên cứu cắt ngang .
Gồm những phụ nữ
thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:
- Phụ nữ đă có quan hệ t́nh dục trong độ tuổi từ 18 - 69.
-
Đồng ư tham gia nghiên cứu sau
khi được giải thích mục đích nghiên cứu.
- Có trạng thái tinh thần b́nh thường và t́nh trạng sức khỏe cho phép tiến hành cuộc phỏng vấn.
- Đang sinh sống tại các quận huyện của TP HCM
Loại ra khỏi nghiên cứu
những đối tượng có một trong các tiêu chuẩn
sau:
- Không đồng ư tham gia nghiên cứu.
- Chưa có quan hệ t́nh dục
- Phụ nữ có bệnh tâm thần.
- Phụ nữ có thai.
- Đang có bệnh lư cấp cứu.
- Không đủ điều kiện lấy bệnh phẩm như đang ra máu âm đạo, đang đặt thuốc âm đạo, hoặc đang viêm cấp âm đạo CTC…
Các đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn
mẫu được giải thích rơ mục tiêu nghiên cứu
và kư tên vào bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu. Sau đó được phỏng
vấn qua bảng thu thập số liệu
và khám phụ khoa cho chẩn đoán lâm sàng và phết CTC lấy
mẩu làm xét nghiệm PCR ADN HPV.
Số liệu
được nhập và quản lư bằng phần mềm
Epidata phiên bản 3.1 và phân tích bằng phần mềm
STATA10.
Trong thời gian 9 tháng từ
tháng 4 năm 2008 đến tháng 1 năm 2009, chúng tôi đă
thực hiện khám phụ khoa và làm xét nghiệm HPV ADN cho
1.550 đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
tại 20 phường/ xă của 10 quận/ huyện thuộc
thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi thu
được các kết quả sau
Bảng 1. Phân bố các đặc
điểm xă
hội học của đối tượng
Tỉ lệ HPV dương tính trong cộng đồng TP HCM là 10,84% (168/1.550) (khoảng tin cậy 95% là 0,09-0,12). Đa số nhiễm đơn tưp 69,64%(117/168), 26,19% nhiễm 2 tưp (44/168) và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ lệ thấp nhất 4,17% (7/168 trường hợp), trong đó có 2 trường hợp dương tính không định tưp được do thuộc các tưp ngoài 24 tưp có thể định danh được của xét nghiệm. Chúng tôi tính 2 trường hợp này chung vào nhóm nhiễm đơn tưp và nguy cơ thấp để thuận tiện cho việc tính toán và phân tích. Tính trong toàn bộ mẫu th́ tỉ suất nhiễm HPV nguy cơ cao là 9,1% (141/1.550), nguy cơ thấp là 1,74 % (27/1.550). Nếu tính riêng trong nhóm dương tính với HPV th́ tưp nguy cơ cao chiếm 83,93% (141/168), và nhóm nguy cơ thấp chiếm 16,07% (27/168).

Biểu đồ 1 Tỷ lệ nhiễm
HPV ở phụ nữ trong độ tuổi 18-69 tại
TP HCM
Tỉ suất hiện mắc
HPV ở phụ nữ trong độ tuổi từ 18
đến 69 tuổi tại
TP Hồ Chí Minh là 10,84%, trong đó đa số nhiễm các
tưp nguy cơ cao (9,1%) và phần nhỏ nhiễm các tưp nguy
cơ thấp (1,74%)

Biểu đồ 2. Phân bố tỉ lệ nhiễm đơn tưp và đa tưp
Trong 168
trường hợp nhiễm HPV, tỉ lệ nhiễm
đơn tưp chiếm cao nhất 69,64% (117/168), có 44 trường
hợp nhiễm 2 tưp (26,19%) và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ
lệ thấp nhất 4,17% (7/168).
Nghiên cứu
của chúng tôi phát hiện được nhiễm nhiều
nhất là 3 tưp, và tỉ lệ nhiễm phối hợp giảm
dần khi số tưp tăng dần.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đă phát hiện
được 17 tưp trong số 24 tưp có thể định
danh được của kỷ thuật PCR. 7 tưp không xuất
hiện trong nghiên cứu của chúng tôi là các tưp 33, 35, 51,
56, 59, 66, 42.
Trong các tưp HPV dương
tính nhóm nguy cơ cao, tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất
55,95% (94/168), kế đến là tưp 18 38,1% (64/168), tưp 58 là
11,13% (19/168), các tưp c̣n lại đều chiếm tỉ lệ
rất thấp.
Trong các tưp thuộc nhóm nguy
cơ thấp th́ đứng đầu là tưp 11 ( 4,76%), kế tiếp là tưp 6 (3,57%), các tưp khác
tỷ lệ thấp.

Tỉ lệ nhiễm HPV
cao nhất trong nhóm tuổi 60-69 tuổi: 15,38%, kế
đó là nhóm tuổi 18 - 29 tuổi khoảng 13,57% bằng tỉ
lệ của nhóm tuổi từ 40-49 tuổi. Sự khác biệt
có ư nghĩa về phương diện thống kê với
p=0,042

Những phụ nữ hút
thuốc lá chủ động có tỉ lệ nhiễm HPV
là 30%, trong khi những phụ nữ không hút thuốc hoàn
toàn tỉ lệ nhiễm HPV là 10,68% và 10,52% nếu chồng
có hút thuốc lá, sự khác biệt có ư nghĩa về
phương diện thống kê (p=0,02).
Trong kết quả thu được từ
nghiên cứu này không cho thấy vai tṛ của hút thuốc lá
thụ động (những phụ nữ có chồng hút
thuốc lá tỉ lệ nhiễm HPV cũng tương
đương những phụ nữ mà cả 2 vợ chồng
không hút thuốc lá) mà chỉ ra nguy cơ nhiễm HPV
tăng lên gấp 3,5 lần khi phụ nữ
hút thuốc chủ động so với những đối
tượng không hút (OR=3,5; p=0,01).
Chúng tôi nhận
thấy có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa
các mức độ sử dụng bao cao su. Sử dùng bao cao su không thường
xuyên hay không sử dụng làm tăng nguy cơ nhiễm HPV
lên khoảng 2 lần so với việc sử dụng
thường xuyên.
Sau khi phân tích đơn biến
chúng tôi nhận thấy có mối liên quan thực sự giữa
các yếu tố về tuổi, t́nh trạng hút thuốc và
sử dụng bao cao su tránh thai với t́nh trạng nhiễm
HPV (giá trị p của phép kiểm định nhỏ
hơn 0,05). Yếu tố viêm âm đạo
tại thời diểm khám không thấy mối liên quan khi
phân tích đơn biến (p=0,07 >0,05)
nhưng đây là biến số chúng tôi đang quan tâm nên muốn
đưa vào phân tích đa biến xem xét sự tương
tác và ảnh hương với các yếu tố khác.
Chạy mô h́nh hồi quy đa biến các biến số tuổi, hút thuốc, dùng bao cao su ngừa thai, viêm âm đạo. Chúng tôi thu được kết quả sau:
Kiểm định mô h́nh
với Hosmer & Lemeshow, ÷2 (6)=15,84, với
p= 0,01
R2 Nagelkerke=0,014.
Kiểm định số
liệu trong nghiên cứu có phù hợp với mô h́nh hồi
quy đa biến không, ta thấy rằng sự khác biệt
giữa số liệu trong nghiên cứu với mô h́nh hồi
quy đa biến có ư nghĩa thống kê (p=0,01).
Trong bảng kết quả của phân tích hồi quy đa biến ta c̣n nhận thấy kết quả của Wald test cho các biến số tuổi và viêm âm đạo đều có giá trị lớn hơn 0,05 ( p=0,65 và p=0,11) chứng tỏ rằng sau khi hiệu chỉnh cho các biến số khác th́ hai biến số này không c̣n liên quan có ư nghĩa với t́nh trạng nhiễm HPV. C̣n biến số sử dụng bao cao su và hút thuốc thực sự liên quan có ư nghĩa với t́nh trạng nhiễm này.
Vậy sau khi hiệu chỉnh
OR#3 cho biến số hút thuốc chủ động;
nghĩa là nếu bản thân người phụ nữ hút
thuốc th́ họ sẽ làm tăng nguy cơ dương
tính với HPV gấp 3 lần so với đối tượng
không hút hoặc có chồng hút thuốc. Tương tự với
biến số dùng bao cao su, những phụ nữ dùng bao
cao su ngừa thai thường xuyên có thể
giảm khả năng nhiễm HPV 2 lần so với
người không dùng hay dùng không thường xuyên.
Với
1.550 phụ nữ trong độ tuổi từ 18-69 nhận
vào nghiên cứu, kết quả thu được có 10,84 %
(164/1.550) đối tượng nhiễm HPV, tỉ lệ
này tương tự với kết quả của tác giả
Nguyễn Trọng Hiếu (10,9%) và hơi thấp hơn
nghiên cứu của Vũ Thị Nhung (p=12%) tại TP Hồ
chí Minh. So sánh với tỷ suất hiện mắc HPV trên
thế giới, theo một phân tích gộp của tác giả
de Sanjoes và cộng sự năm 2007 đưa ra kết quả
khoảng 10% (2). Vậy t́nh h́nh nhiễm
HPV của phụ nữ tại miền nam Việt nam
cũng tương tự như trên thế giới.
Tỷ lệ nhiễm các
tưp nguy cơ cao trong nghiên cứu của chúng tôi là 83,93%
(141/168) nguy cơ thấp là 16,07% (27/168), tỷ lệ này
cũng tương tự với kết quả của
Vũ thị Nhung 77,78% và 13,88% lần lượt cho nguy
cơ cao và thấp.
Trong số những trường
hợp HPV (+) tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất: 55,95% (94/168), kế đến là tưp 18: 36,11%
(64/168) và tưp 58: 11,31% (19/168). Các tưp nguy cơ thấp có tỉ
lệ nhỏ hơn như tưp 11 chiếm 4,76%
(8/168), tưp 6 3,57% (6/168). Tỉ lệ các tưp nguy cơ cao của chúng tôi phù
hợp với các nghiên cứu trên thế giới như của
Munoz và cộng sự năm 2004 về thứ tự xuất
hiện của các tưp 16, 18, 58.
Bảng : So sánh tỉ lệ
nhiễm các tưp HPV nguy cơ cao qua các nghiên cứu

Nghiên cứu
của Vũ thị Nhung ghi nhận 3 tưp HPV hay gặp nhất
trong cộng đồng là 18, 58, 16 và nghiên cứu của
Nguyễn Trọng Hiếu là 16, 58, 18. Khác biệt này có thể
lư giải do khác nhau về thời điểm lấy mẫu,
cách chọn mẫu.
Có sự khác
biệt rất lớn trong sự phân bố các kiểu di
truyền (genotypes) của HPV của những vùng địa
dư khác nhau rên thế giới. Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc
HPV ở 13 vùng trên 11 quốc gia trên thế giới trong
đó có Việt
Tuy có khác nhau về sự
phân bố các tưp giữa các vùng địa lư khác nhau
nhưng nh́n chung tưp 16, 18 luôn giữ vai
tṛ quan trọng. Sự xuất hiện tưp 58 trong 3 tưp hay gặp nhất tại
Thành phố Hồ Chí Minh qua 3 nghiên cứu ở 3 thời
điểm khác nhau cho thấy liệu tưp 58 có phải là
đặc trưng của sự phân bố các tưp HPV ở
Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung hay không.
Tuổi trung b́nh của
đối tượng trong mẫu nghiên cứu là 42 tuổi,
trẻ nhất là 18 tuổi và già nhất là 69 tuổi. Đa
số tập trung ở nhóm tuổi từ 30-49 có 1.103
trường hợp (chiếm khoảng 65%), nhóm tuổi từ
18-29 chiếm tỷ lệ thấp 9,03%.
Trong 168 trường hợp
có xét nghiệm PCR HPV ADN dương tính, có 19 đối
tượng thuộc nhóm tuổi 18-29, 41 phụ nữ trong
độ tuổi 30-39, nhóm từ
40-49 tuổi có 72 người, 28 phụ nữ có tuổi từ
50 -59 và chỉ có 8 đối tượng trong nhóm 60-69. Tỉ
lệ % tương ứng với từng nhóm là 11,31%, 24,4%, 42,86%, 16,67%, 4,76%. Do vậy, tính trên
những đối tượng nhiễm HPV th́ nhóm tuổi
30-49 cũng chiếm tỉ lệ cao nhất (khoảng 67%)
và thấp nhất ở nhóm tuổi từ 60- 69. Kết quả này tương tự với nghiên cứu
của Vũ thị Nhung (12). Tuy nhiên, do sự phân bố không
đồng đều giữa các nhóm tuổi trong mẫu
nghiên cứu, cụ thể là thu nhận vào 65% người
từ 30-49 tuổi nên dẫn đến kết quả có
67% trong nhóm phụ nữ nhiễm HPV ở độ tuổi
này. Do đó ta phải phân tích riêng trong từng nhóm tuổi
cụ thể như bảng 3 để đưa ra kết
luận xác hợp. Tỉ lệ nhiễm HPV cao nhất
trong nhóm tuổi 60-69 tuổi chiếm 15,38%, kế đó là
nhóm tuổi từ 40-49 tuổi 13,38% và 13,57% trong độ
tuổi 18 – 29 (sự khác biệt có ư nghĩa về
phương diện thống kê với p=0,042). Kết quả
này tương tự với kết luận của Vũ
thị Nhung, tỷ lệ nhiễm HPV nh́n chung
ở nhóm tuổi dưới 30 tuổi thấp hơn lứa
tuổi từ 30 tuổi trở lên (12). Tuy nhiên, kết quả này có khác biệt
với các nghiên cứu nước ngoài; Theo Scheurer tỉ lệ
nhiễm HPV cao nhất trong khoảng từ 15 đến
25, sau đó giảm dần và ổn định sau 40 tuổi
và tăng trở lại vào giai đoạn quanh măn kinh và hậu
măn kinh (12). Vậy có 2 đỉnh
điểm của nhiễm HPV là <25 tuổi và quanh tuổi
măn kinh. Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện
được đỉnh là những phụ nữ trong
độ tuổi quanh măn kinh và măn kinh (60- 69).
Khác biệt về tỉ lệ nhiễm
HPV ở nhóm phụ nữ <30 tuổi không cao trong nghiên cứu
này có thể là v́ nhiễm HPV ở nhóm tuổi trẻ
thường là tạm thời nên chưa hẳn là nhóm này
ít bị nhiễm mà có thể đă nhiễm thoáng qua.
Thêm nữa, sự khác nhau về văn hóa và lối sống
t́nh dục của phụ nữ nước
ta khắc khe, nghiêm ngặt hơn so với sự dễ
dàng và tự do của phụ nữ phương Tây.
Sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm HPV giữa các nhóm tuổi có ư nghĩa thống kê khi phân tích riêng rẽ (p= 0,04) nhưng khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến th́ thực sự không thấy mối liên quan này (p=0,65).
Theo quy định
của pháp luật Việt
Nhóm phụ
nữ ở nhà nội trợ chiếm phần nhiều
hơn so với các công việc khác 38%. Nghiên
cứu của Vũ thị Nhung cũng có phần đông
đối tượng thuộc nhóm này. Ta có thể
rút ra nhận xét, đặc điểm của phụ nữ
Việt
Khoảng 70% phụ nữ có tŕnh độ học vấn cấp hai và cấp ba, trong đó cao nhất là cấp hai gần 38%. Kết quả tương tự với tŕnh độ học vấn của những ông chồng của của họ. Sự phân bố tỉ lệ này cũng giống với nghiên cứu của Vũ thị Nhung. Xét về tỉ lệ nhiễm HPV trên những nhóm học thức khác nhau ta không nhận ra mối liên hệ có ư nghĩa thống kê. Tuy nhiên, có nhiều nhận định khác nhau về vấn đề này khi so sánh với các nghiên cứu khác nhau. Với kết quả của Phạm Việt Thanh, người có học vấn từ đại học trở lên có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 2,4 lần so với phụ nữ chỉ học dưới cấp 1 (11). Ông dựa vào khía cạnh xă hội để giải thích cho điều này, phụ nữ có học thức cao thường có ư thức quan tâm đến sức khỏe, có cơ hội tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của phụ nữ và đủ điều kiện đến khám chữa bệnh ở giai đoạn sớm qua các đợt khám sức khỏe định kỳ của cơ quan. Do đó, các chương tŕnh tầm soát có khả năng phát hiện được những phụ nữ thuộc nhóm có học thức cao hơn các nhóm c̣n lại. Nghiên cứu BS Thanh thực hiện trong bệnh viện, nơi mà những đối tượng tự đến khám và chữa bệnh khi có đủ điều kiện và cho rằng ḿnh có bệnh. Kết quả của chúng tôi rút ra từ cộng đồng những phụ nữ tại các phường xă được mời đến khám ngẫu nhiên. V́ vậy, kết quả của chúng tôi mang tính đại diện và khái quát hóa cao hơn.
Trên 90 % phụ
nữ trong mẫu nghiên cứu hiện đang sống cùng
chồng nên có đời sống quan hệ t́nh dục
thường xuyên với người phối ngẫu nhất
định. Do vậy, mẫu này sẽ phản ánh tốt
t́nh trạng nhiễm HPV của dân số v́ yếu tố ổn
định trong hôn nhân được cho rằng có liên quan
đến nhiễm HPV thông qua sự thay đổi với
người phối ngẫu. Tỉ lệ nhiễm HPV ở
những phụ nữ có
chồng chiếm 88,1% cao hơn rất
nhiều so với những đối tượng hiện
không sống chung chồng như góa bụa, li dị, độc
thân quan hệ (11,9%). Tuy nhiên, với phép kiểm chi b́nh
phương không cho ta sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê về tỉ lệ nhiễm HPV giữa hai nhóm này (p = 0,31).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn t́m hiểu có hay không sự thay đổi về tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ khi bản thân họ hoặc chồng của họ có nhiều hơn một bạn t́nh so với người chỉ quan hệ duy nhất với một người phối ngẫu. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy phụ nữ có từ 3 bạn t́nh trở lên có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 1,9 lần so với người chỉ có 1 hoặc 2 bạn t́nh (6). Cứ có 1 bạn t́nh mới mỗi tháng th́ nguy cơ nhiễm HPV sẽ tăng lên 10 lần, đặc biệt là khi người phối ngẫu này lại quan hệ t́nh dục với nhiều người khác, tỉ lệ nhiễm HPV sinh dục lần lượt là 83%, 17% cho nhóm có 5 bạn t́nh và chỉ 1 bạn t́nh (6).
Số phụ nữ hút
thuốc trong nghiên cứu không cao, khoảng 1,29%
(20/1.550) tương đương với tỷ lệ của
Nguyễn Trọng Hiếu (1,94%). Sau khi phân tích đơn biến
và hồi quy đa biến, ta nhận thấy vai tṛ của
hút thuốc lá chủ động có liên quan thực sự với
t́nh trạng nhiễm HPV. Những phụ nữ chính họ
hút thuốc hoặc cả hai vợ chồng cùng hút th́ sẽ
tăng nguy cơ nhiễm HPV lên 3 lần (OR* = 3,08; p=0,02). Tỷ lệ chồng hút thuốc
chiếm khá cao (55,81%) phù hợp với
thực tế xă hội Việt
Trong các biện pháp tránh thai
hiện đại, sử dụng bao cao su và thuốc ngừa
thai uống là hai biện pháp được bàn đến
nhiều nhất v́ tác động của nó lên sự thay
đổi tế bào cổ tử cung. Một nghiên cứu
cho thấy sử dụng thuốc ngừa thai uống liên
tục trong 12 năm làm tăng nguy cơ nhiễm HPV và ung
thư CTC(6). Theo Green, không có mối liên hệ nào giữa
nhiễm HPV và sử dụng thuốc ngừa thai kéo dài(4). Ta nhận thấy c̣n nhiều tranh luận
giữa nhiều nghiên cứu khác nhau trong việc
đưa đến kết luận cuối cùng về có
hay không mối liên hệ này và thời gian sử dụng
thuốc ngừa thai là bao lâu sẽ gây ảnh ra thay đổi
có ư nghĩa thống kê. Do đó, nghiên cứu của chúng
tôi chỉ quan tâm đến biện pháp ngừa thai là bao cao su.
Chỉ có 12% phụ nữ sử dụng bao
cao su thường xuyên trong cuộc sống sinh hoạt t́nh
dục c̣n đa số không dùng (76,39%).
Điều này chứng tỏ biện pháp ngừa thai hữu ích này chưa thực sự phổ
biến trong dân số chung. Tỉ lệ nhiễm
HPV ở những phụ nữ dùng bao cao su thường
xuyên rất thấp (khoảng 5%) so với nhóm phụ nữ
không sử dụng chiếm tỉ lệ hơn 80%.
Khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến với các
yếu tố nguy cơ khác ta vẫn thấy mối liên
quan này có ư nghĩa thống kê (OR =2,28; p=
0,01). Vậy khi sử dụng bao cao su thường xuyên
trong sinh hoạt t́nh dục th́ giảm nguy cơ nhiễm
HPV đi 2 lần so với những phụ nữ không sử
dụng hay sử dụng không thường xuyên. Một
nghiên cứu đă đưa ra kết quả tỉ lệ
sạch nhiễm HPV tích lũy trong 2 năm tương ứng
ở 2 nhóm có và không sử dụng bao cao su là 4%, 23% (6). Vậy sử dụng bao cao su là
tăng sự sạch nhiễm của HPV, có vai tṛ làm
tăng sự thoái triển của tân sinh trong biểu mô
CTC.
Sau chín tháng tiến hành nghiên cứu cắt
ngang với cỡ mẫu đủ lớn và có tính đại
diện cho phụ nữ ở TP Hồ Chí Minh trong độ
tuổi từ 18 đến 69, nhóm nghiên cứu rút ra
được các kết luận như sau:
Tỉ lệ nhiễm HPV ở
phụ nữ TP HCM là 10,84% (khoảng tin
cậy 95% từ 0,09-0,12), nhiễm các tưp nguy cơ cao chiếm
9,1% và 1,74% nhiễm các tưp nguy cơ thấp.
Trong 168
trường hợp nhiễm HPV có 117 trường hợp
nhiễm đơn tưp chiếm tỉ lệ 69,64%, nhiễm 2 tưp là 44 trường hợp
chiếm 26,19% và nhiễm 3 tưp chiếm tỉ lệ thấp
nhất 4,17% (7/168).
Khi nhiễm
phối hợp nhiều tưp th́ gần như toàn bộ các
trường hợp đều nhiễm ít nhất một
tưp nguy cơ cao (95% khi nhiễm 2 tưp và 100% khi 3 tưp).
Trong các tưp HPV nhóm nguy cơ
cao, tưp 16 chiếm tỉ lệ cao nhất 55,95% (94/168), kế
đến là tưp 18 chiếm 38,1% (64/168), tưp 58 chiếm 11,13%
(19/168), các tưp c̣n lại đều chiếm tỉ lệ rất
thấp.
Trong các tưp
thuộc nhóm nguy cơ thấp, đứng đầu là tưp
11 chiếm 4,76%, tưp 6 chiếm 3,57%, các tưp khác tỷ lệ
không cao.
Nghiên cứu này không t́m thấy mối liên quan có ư nghĩa thống
kê giữa số bạn t́nh và tuổi giao hợp lần
đầu nhỏ hơn 18 tuổi với nhiễm HPV.
Phụ nữ hút thuốc lá hay cả hai vợ chồng cùng hút th́ có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 3 lần những phụ nữ hoàn toàn không tiếp xúc với khói thuốc (OR*= 3,08; p= 0,02).
Những cặp vợ chồng sử dụng
bao cao su tránh thai thường xuyên có khả năng bảo
vệ khỏi nhiễm HPV khoảng 2 lần so với những
người không sử dụng hoặc sử dụng không
thong xuyên (OR*= 2,2; p= 0,01).
1. Bộ môn sản ĐHYD TPHCM (1996). Sản phụ khoa, tập 2, Nhà xuất bản TP HCM, lần 4, 906-917.
2. De Sanjose S, Diaz M, Castellsague X, et al (2007). Worldwide prevalence and genotype distribution of cervical human papillomavirus DNA in women with normal cytology. Lancet Infect Dis; 7:453
3. Franco EL, Duarte-Franco, et al (2001). Epidemiology, prevention and the role of human papillomavirus infection. CMAJ. 164: 1017-25
7. Nguyễn Chấn Hùng, Eric Suba và cộng sự (2001). Một số nhận định về dịch tễ học của CIN- Ung thư cổ tử cung trong chương tŕnh tầm soát ung thư cổ tử cung Việt Mỹ, Hội thảo Việt Pháp 2001, 21-31.
10. Phạm Việt Thanh (2001). Hiệu quả điều trị tân sinh trong biểu mô cô tử cung bằng ṿng cắt đốt, Luận văn chuyên khoa II, Trường ĐHYD TPHCM, 13-15.
12. Scheurer ME (2005). Human papillomavirus infection: biology, epidemiology, and prevention. Int Gynecol Cancer. 15: 727-746.
13. Vũ Thị Nhung (2006). Khảo sát t́nh h́nh nhiễm các type HPV ở phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Đề tài cấp sở, 55.