Đặt vấn đề: phẫu thuật nội soi lồng ngực trong
điều trị TKMP tự phát gần đây được
xem như thay thế mổ hở kinh điển. Có nhiều
kỹ thuật được áp dụng: cắt bóng khí bằng
stapler nội soi, khâu hay cột bóng khí bằng nơ chỉ
ngoài cơ thể, đốt bóng khí bằng dao điện…
Tuy nhiên, hai kỹ thuật được áp dụng nhiều
nhất: cắt bóng khí bằng stapler và khâu bóng khí qua nội
soi.
Phương pháp nghiên cứu: đoàn hệ tiền cứu.
Kết quả: Trong thời gian từ 01/ 2007 – 01/2008, có 61 trường
hợp TKMP tự phát nguyên phát được PTNSLN tại
BV ĐHYD (nhóm 1: 25 trường hợp được cắt
bóng khí bằng Stapler nội soi) và BV Chợ Rẫy (nhóm 2:
36 trường hợp được khâu bóng khí qua NSLN). Chỉ
định phẫu thuật: tràn khí tái phát 33 trường
hợp (54,1%) dẫn lưu thất bại 18 trường
hợp (29,5%), bóng-kén khí trên CT scan 10 trường hợp
(16,4%). Thời gian phẫu thuật trung b́nh của nhóm 1 là
35,3 ± 5,8 so với nhóm 2 là 75,2 ± 9,1
(P=0,001). Thời gian dẫn lưu màng phổi 1,5 ± 0,4 và 2,4 ± 0,8 (P=0,03). Thời gian nằm viện
sau mổ 2,6 ± 0,7 và 3,2 ± 0,6 (P=0,049). Tai biến
và biến chứng: nhóm 1 có 1 trường hợp (1,6%) xẹp phổi sau mổ do tắc
đàm; nhóm 2 có 1 trường hợp (1,6%) x́ khí kéo dài không cần
phải phẫu thuật lại, tự khỏi sau 7 ngày;
không có trường hợp nào tái phát sau phẫu thuật với
thời gian theo dơi trung b́nh 12 ± 3,2 tháng.
Kết luận: Cắt bóng khí vùng đỉnh phổi bằng stapler
rút ngắn thời gian phẫu thuật, thời gian dẫn
lưu và nằm viện sau mổ. Về kết
quả lâu dài cũng tương tự như khâu bóng khí qua
nội soi. Việc chọn lựa tùy thuộc vào
điều kiện kinh tế, thói quen và tay
nghề của phẫu thuật viên.
Từ khóa: TKMP tự phát nguyên phát, TKMP tự phát thứ phát, bóng khí, kén khí
PRIMARY SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX:
HAND SEWING OR STAPLED BULLECTOMY BY VATS?
Tran Minh Bao Luan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 –
Supplement of No 1 -2010: 129-134
Introduction: Video-assisted thoracic
surgery has recently evolved as a viable alternative to thoracotomy for
spontaneous pneumothorax. There are many used techniques: hand sewing or
stapled bullectomy, endoloop bulla ligation, eliminating bullae by
electrocoagulation… However, the most used techniques of them are hand sewing
and stapled bullectomy.
Methods: prospective
cohort.

Results: A series of 61
patients with primary spontaneous pneumothorax, including 25 patients were performed
stapled bullectomy (Group 1) at
Conclusions: Stapled
bullectomy shorten duration of operation, chest drainage and hospitalization.
As though, the long term results of its is proved no
differrence to hand sewing bullectomy. Therefore, the choice is up to
concretely economic conditions of patients, habit and experience of surgeon.
Keywords: Primary spontaneous pneumothorax, secondary spontaneous pneumothorax, Blebs, Bullae.
Tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP) là cấp
cứu ngoại khoa thường gặp trong thực hành
lâm sàng. Theo Steven A. Sahn và John E. Heffner th́ tần xuất bệnh
trong dân số là 7,4 –18 trường hợp
trong 100,000 dân mỗi năm(155), theo Gupta th́ mỗi năm có
24/100,000 nam và 9,8/100,000 nữ nhập viện v́ TKMPTP(6). Mặc dù bệnh nhân tràn khí màng phổi
tự phát nguyên phát hoàn toàn không có biểu hiện lâm sàng của
bệnh lư phổi trước đó th́ 76 – 100% bóng khí t́m thấy
khi được phẫu thuật nội soi lồng ngực
và hầu như ở tất cả các trường hợp
được mổ hở kinh điển(2,4). H́nh ảnh CT scan ngực cho thấy
89% bóng khí cùng bên tràn khí ở những bệnh nhân tràn khí tự
phát nguyên phát(2). Về điều trị có thể
đơn thuần chỉ cần chọc hút hoặc dẫn
lưu màng phổi (DLMP). Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát khi chỉ
chọc hút hoặc dẫn lưu màng phổi đơn thuần
khá cao 16 -52%(155) trong năm đầu. Đối
với những trường hợp tái phát lần 1, nếu
vẫn không can thiệp th́ tỷ lệ tái phát lần 2 là
50%, lần 3 là 83%(14). Gần đây, phẫu
thuật nội soi lồng ngực (PTNS) cho thấy nhiều
ưu điểm vượt trội, hiện đang
được áp dụng rộng răi và xem như là
phương pháp điều trị thay thế mổ mở
kinh điển trước đây. Có nhiều kỹ
thuật được áp dụng như: cắt vùng đỉnh
phổi có chứa bóng khí bằng Stapler; khâu hay cột thắt
bóng khí bằng nơ chỉ ngoài cơ thể; đốt
bóng khí bằng dao điện, laser đơn thuần… kèm cắt
màng phổi thành vùng đỉnh làm dính màng phổi hay không.
Tuy nhiên, hai kỹ thuật được áp dụng nhiều
nhất là: cắt nhu mô phổi vùng đỉnh có chứa
bóng khí và khâu bóng khí.
Tại Việt
Đoàn hệ tiền cứu.
Từ 01/2007 – 01/ 2008 tại Bệnh viện
Đại học Y Dược TPHCM và Bệnh viện Chợ
Rẫy.
Tất cả bệnh nhân TKMPTP nguyên phát có chỉ
định PTNS lồng ngực.
Bệnh
nhân trẻ, tuổi từ 20 – 40, không tiền căn bệnh
lư phổi trước đó như lao phổi, COPD,… X quang phổi thẳng chụp lúc nhập
viện cho thấy h́nh ảnh TKMP toàn thể, không có h́nh ảnh
ton thương phổi bên đối diện. Trong quá tŕnh
điều trị, bệnh nhân không biểu hiện triệu
chứng lâm sàng của bệnh phổi khác; h́nh ảnh X
quang phổi, CT scan ngực không có thương tổn của
phổi cùng bên hay đối bên khi phổi nỡ.
- Điều trị với dẫn lưu kín xoang màng phỗi thất bại.
- Dẫn lưu kín xoang màng phổi thành công, phổi nở tốt nhưng trên CT scan có h́nh ảnh bóng hay kén khí trên bề mặt nhu mô phổi.
- TKMPTP tái phát cùng bên.
- Những bệnh nhân TKMPTP lần đầu sinh sống ở vùng miền núi, vùng sâu nơi điều kiện chăm sóc y tế kém hoặc ở những bệnh nhân có nghề nghiệp có khả năng nguy hiểm nếu xảy ra TKMP như : thợ lặn, phi công, …
Tất
cả những trường hợp TKMP do những nguyên
nhân thứ phát như: chấn thương, vết
thương, do thầy thuốc gây ra, hoặc TKMP kèm theo những
bệnh lư của phổi như lao, COPD…
Bệnh nhân tại
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
được cắt đỉnh phổi chứa bóng khí bằng
Stapler nội soi + làm dính màng phổi bằng betadine; bệnh
nhân tại Bệnh viện Chợ Rẫy được
khâu bóng khí vùng đỉnh phổi qua nội soi + làm dính màng
phổi bằng betadine.
Tất
cả bệnh nhân đều được ghi nhận về
tuổi, giới, nghề nghiệp đặc biệt, h́nh
ảnh X quang và CT scan. Chỉ định phẫu thuật,
thương tổn t́m thấy và các tai biến trong lúc phẫu
thuật. Thời gian dẫn lưu sau mổ, các biến chứng
và thời gian nằm viện sau mổ, tràn khí tái phát. Bệnh
nhân được theo dơi qua tái khám mỗi tháng trong 3 tháng
đầu và thăm hỏi qua điện thoại sau
đó.
Trong
thời gian từ 01/ 2007 – 01/2008, có 61 trường hợp
tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát được phẫu
thuật nội soi lồng ngực tại BV ĐHYD và BV Chợ
Rẫy.
Nhóm
1: 25 trường hợp được cắt bóng khí bằng
Stapler nội soi
Nhóm 2: 36 trường hợp
được khâu bóng khí qua nội soi lồng ngực
|
Kết
quả NC |
Nhóm 1 |
Nhóm 2 |
Cả2nhóm |
|
Tuổi |
23 ± 3,2 |
28 ± 4,8 |
25,6 ± 4,1 (16 – 52) |
|
Giới |
20 nam; |
33 nam; |
53 nam; |
|
Nghề nghiệp
đặc biệt |
1 |
1 |
2 |
|
Sinh sống xa cơ sở
y tế |
1 |
0 |
1 |
|
X quang |
|
|
|
|
Mức độ TKMP: |
|
|
|
|
Nhiều |
8 |
10 |
18 |
|
Trung b́nh |
12 |
19 |
31 |
|
Ít |
5 |
7 |
12 |
|
Bóng-kén khí |
5 |
7 |
12 |
|
Thương tổn phổi
đối bên |
0 |
0 |
0 |
|
CT scan |
|
|
|
|
Bóng khí (< 2 cm) |
16 |
22 |
38 |
|
Kén khí (> 2 cm) |
2 |
4 |
8 |
|
Thương tổn
đối bên |
4 |
7 |
11 |
|
Không t́m thấy
thương tổn |
7 |
10 |
17 |
|
Chỉ định phẫu
thuật |
|
|
|
|
TKMP tái phát |
12 |
21 |
33 (54,1%) |
|
Dẫn lưu thất
bại |
7 |
11 |
18 (29,5%) |
|
Bóng/ kén khí trên CT scan |
6 |
4 |
10 (16,4%) |
|
Thương tổn
t́m thấy lúc phẫu thuật |
|
|
|
|
Bóng-kén khí |
21 |
30 |
51 (83,6%) |
|
Vị trí: Thùy trên (S1) |
21 |
30 |
51 (83,6%) |
|
Thùy dưới (S6 ) |
5 |
8 |
13 (21,3%) |
|
Lan tỏa |
0 |
0 |
0 |
|
Không t́m thấy
thương tổn |
4 |
6 |
10 (16,4%) |
|
Tai biến và biến
chứng |
|
|
|
|
Xẹp phổi sau mổ |
1 |
0 |
1 (1,6%) |
|
X́ khí kéo dài (>7 ngày) |
0 |
1 |
1 (1,6%) |
|
Chuyển mổ mở |
0 |
0 |
0 |
|
Thời gian phẫu
thuật trung b́nh (phút) |
35,3 ± 5,8 (25 – 54) |
75,2 ± 9,1 (50 – 92) |
60,7 ± 4,2 (25 – 92) |
|
Thời gian dẫn
lưu sau mổ (ngày) |
1,5 ± 0,4 (1 – 3) |
2,6 ± 0,7 (1 – 7) |
2,1 ± 0,5 (1 – 7) |
|
Thời gian nằm viện
sau mổ (ngày) |
2,4 ± 0,8 (2 – 4) |
3,2 ± 0,6 (2 – 7) |
2,8 ± 0,4 (2 – 7) |
|
Tái phát |
0 |
0 |
0 |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 33 trường
hợp (54,1%) tràn khí màng phổi tái phát, 18 trường hợp
(29,5%) dẫn lưu thất bại, 10 trường hợp
(16,4%) có bóng-khí trên CT scan được phẫu thuật nội
soi lồng ngực (trong đó có 3 trường hợp có
nghề nghiệp đặc biệt, sinh sống xa cơ sở
y tế). Tổn thương t́m thấy trong phẫu thuật
là 51 trường hợp (83,6%) có bóng khí vùng đỉnh phổi
thùy trên, 13 trường hợp (21,3%) có bóng khí thùy dưới
(S6) kết hợp, 10 trường hợp (16,4%) không t́m thấy
tổn thương cũng được chúng tôi cắt nhu
mô phổi vùng đỉnh bằng stapler với nhóm 1, khâu
vùng đỉnh phổi với nhóm 2 và tất cả đều
được làm dính màng phổi bằng dung dịch
betadine 1% trong mổ. Về tai biến và biến chứng:
nhóm 1 có 1 trường hợp (1,6%) xẹp phổi sau mổ
do tắc đàm, chỉ cần nội soi phế quản
hút đàm; nhóm 2 có 1 trường hợp (1,6%) x́ khí kéo dài
không cần phải phẫu thuật lại, tự khỏi
sau 7 ngày. Không có trường hợp nào phải chuyển
sang mổ mở. Thời gian phẫu thuật trung b́nh của
nhóm 1 là 35,3 ± 5,8 so với nhóm 2 là 75,2 ± 9,1
(P=0,001). Thời gian dẫn lưu màng phổi trung b́nh: 1,5 ± 0,4 và 2,4 ± 0,8 (P=0,03). Thời gian nằm viện
sau mổ: 2,6 ± 0,7 và 3,2 ± 0,6 (P=0,049). Không
có trường hợp nào tái phát sau phẫu thuật cho
đến thời điểm hiện tại với thời
gian theo dơi trung b́nh 12 ± 3,2 tháng (8–20). Như vậy, cắt bóng khí bằng stapler nội
soi và khâu bóng khí qua nội soi lồng ngực cho kết quả
lâu dài tương đương nhau. Tác giả Ng CHS,
Lee TW, Wan S cũng cho rằng: về kết quả lâu dài của
2 kỹ thuật này tương đương nhau, khâu bóng
khí bằng chỉ phẫu thuật qua nội soi tiết kiệm
được chi phí phẫu thuật, nhưng điều
này đ̣i hỏi phải được thực hiện bởi
phẫu thuật viên có kinh nghiệm(4). Mặc dù vậy, cắt bóng khí bằng
Stapler nội soi cho thấy có một số điểm lợi
hơn như: dể thực hiện, rút ngắn thời
gian phẫu thuật, cắt được toàn bộ mô phổi
bệnh lư vùng đỉnh phổi, đường khâu chắc
chắn hơn, thời gian dẫn lưu màng phổi và thời
gian nằm viện sau mổ ngắn hơn. Đa số
các tác giả ngoài nước thường dùng stapler nội
soi để cắt bóng khí(10,16,7). Các kỹ thuật khác cũng
được áp dụng như: dùng nơ chỉ nội
soi (endoloop) để thắt bóng khí, đốt bóng khí bằng
dao điện hoặc laser… Đối với thắt bóng
khí bằng nơ chỉ nội soi th́ nơ chỉ dễ bị
tụt khi phổi nở, nên có tác giả khuyên nên dùng 3
nơ chỉ để thắt bóng khí và kẹp thêm clip
tăng cường để tránh tụt khi áp dụng kỹ
thuật này(4). Qua kết quả được
phân tích trên, phẫu thuật nội soi lồng ngực
trong điều trị TKMP tự phát một lần nữa
cho thấy là phương pháp xâm lấn tối thiểu với
nhiều ưu điểm: ít tai biến
và biến chứng, thời gian nằm viện ngắn, tỷ
lệ tái phát thấp gần như không có… Trong điều
kiện có thể chúng ta nên dùng stapler để cắt bóng
khí, tuy nhiên kết quả lâu dài như nhau nên chọn lựa
kỹ thuật tùy thuộc vào điều kiện kinh tế,
thói quen và tay nghề của phẫu thuật
viên.
Nhiều tác giả trong và
ngoài nước đều cho rằng: chúng ta nên tiến
hành PTNS lồng ngực cho những trường hợp:
DLMP thất bại sau 5 – 7 ngày, TKMPTP nguyên phát tái phát cùng bên,
tái phát đối bên, tràn khí hai bên cùng lúc, tràn khí kèm theo tràn
máu màng phổi(,2,7,9,11,13,155). Gần đây có tác giả khuyên
không nên chờ đợi đến 5 – 7 ngày mà chỉ cần
sau 3 ngày dẫn lưu màng phổi, khí c̣n x́ liên tục hoặc
phổi chưa nở trọn(4). Mặc dù vậy, cũng có tác giả
đặt ra vấn đề tiến hành PTNS ngay trong cấp
cứu như là liệu pháp đầu tay để điều
trị TKMPTP nguyên phát lần đầu v́ chỉ điều
trị đơn thuần bằng DLMP th́ tỷ lệ tái
phát lần đầu 16 – 52%(155) trung b́nh 30 – 40%, tái phát lần hai
khoảng 50% và tái phát lần 3 đến 83% nếu không can
thiệp phẫu thuật triệt để(14). Vấn đề có nên tiến
hành PTNS lồng ngực ngay cho bệnh nhân TKMPTP hay không
đă được tác giả Cole FH và cộng sự
nghiên cứu đưa ra kết luận là không có lợi(3), tác giả Keith S. Naunheim cũng cho
là không nên tiến hành phẫu thuật cho những bệnh
nhân tràn khí lần đầu(9). Ngược lại, tác giả Marc
Margolis và Torresini th́ ủng hộ cho việc tiến hành
PTNS lồng ngực ngay cho những bệnh nhân trẻ tràn
khí lần đầu(5,12). Trong nghiên cứu của
chúng tôi, chưa tiến hành PTNS cho những trường hợp
tràn khí lần đầu. Tuy nhiên, chúng
tôi mở rộng chỉ định áp dụng PTNS không chỉ
những trường hợp trên mà c̣n áp dụng cho những
trường hợp dẫn lưu thành công nhưng trên CT
scan có h́nh ảnh tổn thương nhu mô phổi dạng
bóng hay kén khí. Vấn đề có nên tiến
hành phẫu thuật cho bệnh nhân dẫn lưu thành công
nhưng trên CT scan có tổn thương dạng bóng, kén khí
hay không vẫn c̣n nhiều bàn căi. Theo tác giả John E.
Heffner th́ cho rằng sự hiện diện của bóng khí
trên CT scan không liên quan đến tần suất tràn khí tái phát(15). Tác giả Lang-Lazdunski
cho rằng nếu thấy tổn thương bóng hay kén khí
trên CT scan th́ nguy cơ tràn khí tái phát cao, đặc biệt
lên đến 60% đối với những người trẻ(10), tác giả Alan Sihoe(17) cũng
đồng ư quan điểm này trong nghiên cứu của
ḿnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 10 trường
hợp dẫn lưu thành công nhưng CT scan có tổn
thương bóng khí được tiến hành phẫu thuật
nên chúng tôi chưa kết luận được. Theo nhận
định của chúng tôi, nhằm giảm nguy cơ tràn
khí tái phát, chúng ta nên tiến hành PTNS lồng
ngực cho bệnh nhân dẫn lưu thành công nhưng t́m thấy
tổn thương trên CT scan.
Với những ưu điểm nổi bật, phẫu thuật nội soi long ngực trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát đă khẳng định vai tṛ của nó như là một phương pháp được chấp nhận rộng răi để thay thế phẫu thuật mở ngực kinh điển. Mặc dù cắt bóng khí vùng đỉnh phổi bằng stapler rút ngắn thời gian phẫu thuật, thời gian dẫn lưu và nằm viện sau mổ. Nhưng về kết quả lâu dài cũng tương tự như khâu bóng khí qua nội soi lồng ngực. Do vậy, việc chọn lựa tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, thói quen và tay nghề của phẫu thuật viên.
1. Adel K. Ayed, FRCSC. Suction versus water seal after thoracoscopy for primary spontaneous pneumothorax: prospective randomized study. Ann Thorac Surg 2003;75:1593-1596
5. Guido Torresini, M. Vaccarili, D. Divisi, R. Crisci et al Is video-assisted thoracic surgery justified at first spontaneous pneumothorax?. Eur J Cardiothorac Surg 2001;20:42-45
6.
Gupta
D, Hansell A, Nichols T, et al. Epidemiology of pneumothorax in
7. Hazelrigg SR, Landreneau RJ, M Mack, T Acuff, PE Seifert, JE Auer and M Magee. Thoracoscopic stapled resection for spontaneous pneumothorax. J Thorac Cardiovasc Surg, 1993 Vol 105, 389-392.
8. Henry M, Arnold T, Harvey J, et al. BTS guidelines for the management of spontaneous pneumothorax. Thorax 2003;58(Suppl II):ii39–52.
12.
Marc
Margolis, F. Gharagozloo,,
B. Tempesta, GD.
15. Sahn SA, Heffner JE. Spontaneous pneumothorax. N Engl J Med. 2000 Mar 23;342(12):868-74.
17.
Sihoe, ADL, Yim, APC, Lee, TW, et al