TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DƯỠNG TRẤP
TỰ PHÁT ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HỒI
SỨC SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I:
NHÂN MỘT
TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Thu Tịnh*,
Cam Ngọc Phượng**
Tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp thường vô căn là dạng
tràn dịch màng phổi thường gặp nhất ở
lứa tuổi sơ sinh. Chúng tôi báo cáo trường hợp
trẻ sơ sinh 2 ngày tuổi nhập viện với tràn dịch
màng phổi dưỡng trấp và được điều
trị với octreotide. Tràn dịch đáp ứng tốt với
truyền tĩnh mạch octreotide, dường như có kết
quả rút ngắn thời gian nằm viện. Chúng tôi kiến
nghị octreotide cần xem xét dùng điều trị tràn dịch
màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh. Tuy
nhiên cần có nghiên cứu so sánh với cỡ mẫu lớn
hơn.
Từ khóa: tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp, sơ sinh, tự phát, Octreotide
SPONTANEOUS
NEONATAL CHYLOTHORAX TREATED WITH OCTREOTIDE AT NEONATAL INTENSIVE CARE UNIT OF
Nguyen Thu Tinh,
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 –Supplement
of No 1-2010: 348 - 352
Chylothorax, which is usually idiopathic, is the most common
form of pleural effusion encountered in neonatal period. Herein we report a 2-day-old
infant who had spontaneous chylothorax and was treated with octreotide.
Neonatal chylothorax responded well to IV octreotide treatment, which appeared
to shorten the duration of hospitalization. We suggest that octreotide should
be considered in the treatment of neonatal chylothorax. However, a
comparable study with larger size is needed.
Keywords: chylothorax, neonatal, spontaneous, Octreotide
ĐẠI
CƯƠNG
Tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp là sự tích tụ dịch dưỡng trấp (hỗn
hợp của triglycerides, acids béo, proteins, immunoglobulins và
lymphocytes) trong khoang màng phổi. Sự thất thoát dịch
này vào trong khoang màng phổi
gây ra các biến chứng suy dinh dưỡng, rối loạn
điện giải và suy giảm miễn dịch(5,11,16,17).
Tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như biến chứng của phẫu thuật, sang chấn lúc sanh, dị dạng mạch bạch huyết ở phổi, chèn ép ống ngực từ bên ngoài (như thoát vị hoành bẩm sinh, u phổi, neuroblastoma), phù nhau thai không do tán huyết, phối hợp với những hội chứng khác nhau liên quan đến bất thường mạch bạch huyết hay những nguyên nhân gây tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên bên trong hay từ bên ngoài (biến chứng của đặt catheter, huyết khối…). Tuy nhiên, nguyên nhân thường gặp nhất vẫn là “vô căn”(4,5,17). Khoảng 50% các trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh được phát hiện trong tuần đầu sau sanh(3,4,7,8,9,10,17,18).
Về phượng diện chẩn
đoán tràn dịch màng phổi ở trẻ sơ sinh dựa
vào hai biểu hiện chính là dịch có thành phần
triglycerides cao và bạch cầu cao với lymphocytes ưu thế.
Hầu hết các tác giả chấp nhận tiêu chí: (1) bạch
cầu trong dịch màng
phổi > 1000/ml (Lymphocytes > 70%), (2) triglycerides > 100
mg/dl, protein > 20g/l(3,4).

Về phương diện
điều trị: điều trị quy ước gồm
hỗ trợ hô hấp, dẫn lưu màng phổi, bù dịch
và điện giải thất thoát, nuôi ăn tĩnh mạch
toàn phần hay nuôi ăn với triglycerides chuỗi trung b́nh
(MCTs), điều trị quy ước này thành công trong trong
80% các trường hợp. Tiêu chí thành công khi lượng dịch
dẫn lưu màng phổi < 10 ml/kg/ngày và thất bại
khi dẫn lưu màng phổi ra dịch > 10 ml/kg/ngày sau 2 -
4 tuần(1,2,3,4,5,17). Sau điều trị quy ước
thất bại bệnh nhân có chỉ định ngoại
khoa: phẫu thuật thắt ống ngực, shunt màng phổi
– phúc mạc, cắt màng phổi hay làm dày dính màng phổi(3,6,11,12,13,14).
Somatostatin
là một peptide hoạt động ức chế tuyến
yên tiết ra các hormone như hormone kích thích tuyến giáp
(TSH) và hormone tăng trưởng (GH), ức chế tiết
các peptide đường tiêu hoá (vasoactive intestinal peptide),
gastrin và motilin của đường tiêu hoá và ức chế
tuyến tuỵ tiết insulin, glucagon và somatostatin do đó kết
quả là làm giảm ḍng máu nội tạng, giảm lưu
lượng dịch bạch huyết và giảm thành phần
triglycerides đă được dùng điều trị một
số trường hợp(1,3,4,5,9,12,15,16).
Octreotide là
somatostatin tổng hợp tác dụng kéo dài, cơ chế tác
động vẫn chưa rơ nhưng trên mô h́nh động
vật cho thấy octreotide rút ngắn thời gian lành lổ
ḍ ống ngực cũng như rút ngắn thời gian dẫn
lưu màng phổi(2,3,4,6,12,13,14,16,17,19,20).
Sau tiêm
dưới da, octreotide được hấp thu nhanh chóng, đạt nồng độ
đỉnh trong huyết thanh sau 30 phút và nồng độ
đỉnh này đạt khoảng 20-40% so với nồng
độ đỉnh khi tiêm tĩnh mạch. Khoảng
54% lượng octreotide gắn kết với protein, chủ
yếu là lipoprotein. Octreotide được
chuyển hoá và bài tiết dưới dạng không thay đổi.
Thời gian bán huỷ ở người trưởng thành
là 1,7 giờ so với 1-3 phút của
somatostatin nội sinh. Thời gian tác dụng rất
thay đổi, thường khoảng 12 giờ. Bài tiết giảm ở bệnh nhân suy thận.
Ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo
độ thanh thải của octreotide giảm 50%. Dược động học của octreotide ở
trẻ em và sơ sinh chưa được nghiên cứu.
Tác dụng
phụ của octreotide ở trẻ sơ sinh ít gặp
được ghi nhận tăng đường huyết,
hạ đường huyết, viêm ruột hoại tử(2,4,17,20).
Sau đây chúng tôi báo cáo trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp được điều trị với octreotide.
BÁO CÁO
TRƯỜNG HỢP
Con bà Lê Thị L., nữ, sinh ngày 22/4/2009. Nhập viện Nhi Đồng 1 lúc 14h 23/4/2009.
Bệnh
nhân được sanh thường, dễ dàng, lúc tuổi
thai 40,5 tuần, cân nặng lúc sanh 2800 gram, tại BV Đa
khoa tỉnh LĐ lúc 22:05. Sau sanh trẻ tím tái
không tự thở, được hồi sức với
bóng và mask, không rơ APGAR. Sau hồi sức thở oxy ẩm
qua cannula, chích kháng sinh Claforan, Ampicillin và nuôi ăn tĩnh mạch
hoàn toàn với dextrose 10%, siêu âm ngực: tràn dịch màng phổi
phải lượng nhiều và chuyển đến BV Nhi
Đồng I với chẩn đoán: Tràn dịch màng phổi
P, thai già tháng.
Khám lâm sàng
lúc nhập viện: chiều dài 49 cm, ṿng đầu 34 cm, mạch
190 lần/phút, nhiệt độ 36,50C. H́nh thể bên ngoài
b́nh thường, không ghi nhận các dị tật bẩm
sinh. Tím khi thở oxy ẩm qua cannula SpO2: 46% à Hồng hơn khi thở NCPAP SpO2:
88%. Chi ấm, mạch rơ 190 l/p. Thở co lơm ngực nặng
64 l/p, rên rỉ. Tim đều, không âm thổi.
Phổi ran rít, ẩm, nổ. Bụng mềm,
gan lách không to. Thóp phẳng. Cường cơ và phản xạ tốt. Chụp XQ cho kết quả thâm nhiễm cả hai
phế trường và tràn dịch màng phổi P lượng
nhiều. Siêu âm ngực cho kết quả tràn dịch
màng phổi 2 bên, bên P nhiều hơn bên T, Siêu âm tim Doppler màu cho thấy tồn tại ống
động mạch d= 3mm, PAPs=25 mmHg. Chọc hút dịch màng
phổi ngày 23 tháng 4 cho kết quả Albumin: 35g/l, tế
bào: nhiều HC, BC (70% L), LDH: 364 U/L, Triglyceride: 32 mg/dl, Cấy
dịch (-). Bệnh nhân được hỗ trợ hô hấp
với NCPAP P =5 cmH2O, FiO2=61%, nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần, kháng sinh
Cefotaxim, Ampicilline và Gentamicin sau đó chuyển sang Timentin. T́nh trạng suy hô hấp không cải thiện, XQ và
siêu âm ngực cho thấy dịch màng phổi tiến triển.
Chọc hút
dịch màng phổi lần thứ 2 vào ngày 28 tháng 4 cho kết
quả dịch vàng, hơi đục, Albumin: 24g/l, tế
bào có nhiều hồng cầu, bạch cầu (80% L), Lactate:
1,44 mmol/L, LDH: 391 U/L, Triglyceride: 38 mg/dl, Cấy (-). Bệnh
nhân tiếp tục được hỗ trợ hô hấp
với NCPAP, nuôi ăn tĩnh mạch bán
phần, bắt đầu cho ăn sữa Pregestimil 14%
tăng dần đến 240 ml/ngày.
Chọc hút
dịch màng phổi lần thứ 3 vào ngày 1 tháng 5 cho kết
quả pH 9, Albumin: 16g/l, tế bào: nhiều hồng cầu,
bạch cầu (90% L), LDH: 163 U/L, Triglyceride: 347 mg/dl,
Cholesterol: 21mg%, cấy (-). Trẻ được nhịn
cho ăn sữa qua đường tiêu hoá, kháng sinh Timentin,
Vancomycin và cho chích Sandostatin® của Novartis với liều 14
mcg/kg chia 4 lần, tiêm dưới da trong 6 ngày. Suy hô hấp tiến triển nặng và bệnh
nhân được giúp thở bằng máy.
Sau đó bệnh
nhân được chuyển sang Sandostatin truyền TM, bắt đầu với liều 67 mcg/kg/ngày
(2,8mcg/kg/giờ), và tăng dần đến liều 168
cmg/kg/ngày (7mcg/kg/giờ) sau 9 ngày. Nuôi ăn
tĩnh mạch toàn phần gồm Aminoplasmal, Natrichlorua, Na,
Ca và lipid. Suy hô hấp cải thiện, bệnh
nhân được rút nội khí quản và thở NCPAP.
XQ ngực thẳng và siêu âm cho thấy cải
thiện, tràn dịch màng phổi hai bện lượng ít.
Trong suốt thời gian điều trị
Sandostatin xét nghiệm dextrostix đều trong giới hạn
b́nh thường (dao động từ 57 – 69 mg/dl).
Bệnh nhân xuất viện sau 5 tuần sau khi ổn định viêm phổi bội nhiễm, không ghi nhận có bất kỳ biến chứng.
Trường
hợp của chúng tôi gặp khó khăn trong chẩn
đoán khi mới tiếp nhận bệnh nhân. Do nhận
bệnh nhân tràn dịch màng phổi sớm phát hiện ngay
sau sanh, do đó trẻ chưa được cho ăn qua
đường tiêu hoá, nên dịch màng phổi không cho thấy sự gia
tăng triglycerides… nhận xét này cũng được ghi
nhận trong bài tổng quan của Helin(9).
Sau đây, chúng tôi lượt
qua một số trường hợp tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh được
ghi nhận trong y văn trong thời gian gần đây.
Coulter báo cáo trường hợp vào năm
2004 là trẻ sanh cực non 26 tuần, cân nặng 906 gram,
tràn dịch màng phổi vào ngày 65 sau sanh(7). Dẫn lưu màng phổi và nuôi ăn tĩnh mạch không giàm lưu lượng
dưỡng trấp nên sau đó khởi đầu
octreotide với liều 4 mcg/kg/ngày tiêm dưới da và sau
đó chuyển sang truyền tĩnh mạch tăng dần
tới liều 24 mcg/kg/ngày (1 mcg/kg/giờ) trước khi
ngưng dùng sau 28 ngày.
Trường hợp báo cáo bởi Silvasli là
trẻ sanh non 34 tuần, cân nặng 2,1 kg, bị tràn dịch
màng phổi tự phát được điều trị với
octreotide liều 3,5 mcg/kg/giờ(17). Dịch qua dẫn lưu màng phổi
hết sau 72 giờ và octreotide được giảm liều
và ngưng sau 2 ngày, không có sự tái lập dịch màng phổi
sau đó.
Young báo cáo trường hợp hiếm về
tràn dịch màng phổi dưỡng trấp được
chẩn đoán trong tử cung, trẻ đủ tháng cân nặng
3700 gram(20). Suy hô hấp tiến
triển sau dẫn lưu màng phổi nên bệnh nhân
được cho octreotide với liều 40 mcg/kg/ngày, tiêm
dưới da. Sau đó tăng liều đến 70
mcg/kg/ngày và kéo dài 17 ngày, dịch màng phổi thuyên giảm
sau đó.
Chúng tôi không ghi nhận bất kỳ yếu
tố nguy cơ gây nào gây nên tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp trong trường hợp của chúng tôi như phẫu
thuật vùng ngực, chấn thương sản khoa, đặt
catheter trung ương gây huyết khối tĩnh mạch
chủ trên nên đây là trường hợp tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp tự phát(4,5,17).
Như ghi nhận của y
văn phần lớn trường hợp tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh là không
biết nguyên nhân. Tràn dịch màng phổi bẩm sinh vô căn thường
liên quan u mạch bạch huyết, dăn mạch bạch huyết
bẩm sinh, hội chứng Down, mẹ
đa ối[. Những trẻ sơ sinh
này có ống ngực hoạt động chức năng kém
hay dị dạng mạch bạch huyết, khi gặp phải
sự gia tăng áp lực tĩnh mạch (trong chuyển dạ
sanh…) sẽ gây vỡ ống ngực bẩm sinh(3,4,7,8,9,10,17,18).
Tràn dịch màng phổi dưỡng trấp tự
phát ở trẻ sơ sinh thường là thoáng qua, thuyên giảm
khi làm giảm lưu lượng bạch mạch trong ống
ngực. Để
giảm lưu lượng bạch mạch trong ống ngực
cần loại trừ axit béo chuỗi dài trong sữa hay
nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần(4,7,19). Tuy nhiên phương pháp này sẽ
làm kéo dài thời gian thuyên giảm dịch và tăng nguy
cơ xảy ra biến chứng của việc dẫn
lưu màng phổi, thở máy, NPAP, nuôi ăn tĩnh mạch
toàn phần kéo dài…v́ vậy dẫn đến mất nước,
bạch cầu lympho, đạm, yếu tố đông cầm
máu và kháng thể và do đó làm tăng nguy cơ xảy ra
các biến chứng giảm đạm máu, giảm bạch
cẩu lympho, rối loạn đông – cầm máu, giảm
globulin miễn dịch, nhiễm trùng nặng, các biến chứng
liên quan thở máy(9,17).
Sử dụng somatostatin trong
điều trị tràn dịch màng phổi dưỡng trấp
lần đầu tiên được ghi nhận ở trẻ
sơ sinh vào năm 2003(3). Octreotide là một Somatostatin tổng
hợp. Mặc dù cơ chế tác động chính xác
chưa rơ, có thể qua trung gian các thụ thể somatostatin
trong tuần hoàn nội tạng và giảm sự tạo dịch
bạch huyết thông qua giảm tiết dịch từ dạ
dày, ruột và tuỵ hay bằng cách giảm áp lực
tĩnh mạch gan hay ḍng máu nội tạng.
Liều dùng trong y văn cho tới
nay vẫn chưa cho thấy liều chuẩn cho trẻ
sơ sinh dùng điều trị tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp, các trường hợp trong y văn
cho liều octreotide rất khác nhau cũng như chưa cho
thấy đường dùng nào là ưu việt, tiêm dưới
da hay truyền tĩnh mạch. Nghiên cứu của chúng tôi khi bắt
đầu cho tiêm dưới da liều 14mg/kg/ngày trong 6 ngày
nhưng không hiệu quả, sau đó chúng tôi chuyển sang
truyền tĩnh mạch tuy nhiên với liều cao hơn,
khởi đầu với liều 67 mcg/kg/ngày (2,8mcg/kg/giờ),
và tăng dần đến 168 cmg/kg/ngày (7mcg/kg/giờ) sau 9
ngày. Tuy nhiên không ghi nhận bất kỳ biến
chứng liên quan. Chúng tôi nhận thấy đa số
tác giả dùng truyền tĩnh mạch, chiếm ưu thế
hơn số tác giả dùng tiêm dưới da trong y văn(9). Cách dùng cũng thay đổi: có
tác giả cho liều thấp tăng dần, có tác giả
dùng 1 liều cố định liên tục cho tới khi
đạt hiệu quả hay thất bại, chúng tôi ghi nhận
liều dùng cao nhất trong nghiên cứu của Rasiah là 240
mcg/kg/ngày (10 mcg/kg/giờ) và tăng dần, dùng trong 10 ngày,
và liều khởi đầu của tác giả Rasiah là 12
mcg/kg/ngày (0,5 mcg/kg/giờ) cũng là liều khởi đầu
thấp nhất trung b́nh trong y văn(4,9). Tổng quan y văn cho thấy thời
gian điều trị từ 3-29 ngày, trung b́nh 11 ngày, thời
gian giảm liều trước ngưng thuốc trung b́nh
khoảng 3 ngày, một số tác giả không ghi nhận thời
gian giảm liều(9). Trường hợp
của chúng tôi cũng không có thời gian giảm liều
octreotide trước khi ngưng.
Tác dụng phụ tăng đường
huyết, hạ đường huyết của octreotide ở
trẻ sơ sinh được ghi nhận trong báo cáo của
Beghetti(3) và Heli(9). Mohseni ghi nhận viêm ruột hoại
tử ở trẻ lớn(15). Nhưng hầu hết các tác giả
nhận xét octreotide an toàn kể cả khi dùng liều cao, thời
gian dài (4 tuần) trong điều trị tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh(2,4,5,7,8,9,16,17,20).
Trường hợp tràn dịch màng phổi của chúng tôi thuyên giảm hoàn toàn và xuất viện sau 3 tuần, không có bất kỳ tác dụng phụ được ghi nhận. Y văn ghi nhận dùng octreotide làm thuyên giảm nhanh dịch qua dẫn lưu màng phổi, giảm các biến chứng suy dinh dưỡng và rối loạn nước điện giải, nuôi ăn qua đường tiêu hoá sớm và rút ngắn thời gian nằm viện(4,17).
Qua điều trị thành công trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp tự phát và tổng quan một số báo cáo của các tác giả khác trong y văn chúng tôi đề nghị:
Chẩn đoán tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp dựa vào: (1) bạch cầu trong dịch
màng phổi > 1000/ml (Lymphocytes > 70%), (2) triglycerides > 100
mg/dl, protein > 20g/l. Tuy nhiên khó khăn trong chẩn đoán
là tràn dịch màng phổi dưỡng trấp hay không khi trẻ
không được cho ăn lipid qua đường tiêu
hoá.
Octreotide an toàn (cả liều cao trong thời gian dài
3-4 tuần) và có hiệu quả (giảm các biến chứng
suy dinh dưỡng, rối loạn điện giải, rút
ngắn thời gian thở máy, nằm viện) trong điều
trị tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở
trẻ sơ sinh.
Biến chứng
hạ đường huyết hay tăng đường
huyết do octreotide ít gặp ở trẻ sơ sinh và
cũng dễ điều trị. Y văn có
ghi nhận liên quan giữa viêm ruột hoại tử và việc
dùng octreotide.
Dường như cho octreotide khởi đầu liều
cao (80-100 mcg/kg/ngày) có lợi hơn khi bắt đầu với
liều thấp.
Dùng octreotide đường truyền tĩnh mạch
liên tục được ưa chuộng hơn đường
tiêm dưới da.
Tuy nhiên cần có nghiên cứu với cỡ mẫu đủ lớn ở trẻ sơ sinh để so sánh các liều, đường dùng, cách dùng khác nhau với điều trị quy ước.
TRÀN
DỊCH MÀNG PHỔI DƯỠNG TRẤP TỰ PHÁT
ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HỒI SỨC
SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I:
NHÂN MỘT
TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Thu Tịnh*, Cam Ngọc
Phượng**
Tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp thường vô căn là dạng
tràn dịch màng phổi thường gặp nhất ở
lứa tuổi sơ sinh. Chúng tôi báo cáo trường hợp
trẻ sơ sinh 2 ngày tuổi nhập viện với tràn dịch
màng phổi dưỡng trấp và được điều
trị với octreotide. Tràn dịch đáp ứng tốt với
truyền tĩnh mạch octreotide, dường như có kết
quả rút ngắn thời gian nằm viện. Chúng tôi kiến
nghị octreotide cần xem xét dùng điều trị tràn dịch
màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh. Tuy
nhiên cần có nghiên cứu so sánh với cỡ mẫu lớn
hơn.
Từ khóa: tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp, sơ sinh, tự phát, Octreotide
SPONTANEOUS
NEONATAL CHYLOTHORAX TREATED WITH OCTREOTIDE AT NEONATAL INTENSIVE CARE UNIT OF
Nguyen Thu Tinh,
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 –Supplement
of No 1-2010: 348 - 352
Chylothorax, which is usually idiopathic, is the most common
form of pleural effusion encountered in neonatal period. Herein we report a 2-day-old
infant who had spontaneous chylothorax and was treated with octreotide.
Neonatal chylothorax responded well to IV octreotide treatment, which appeared
to shorten the duration of hospitalization. We suggest that octreotide should
be considered in the treatment of neonatal chylothorax. However, a
comparable study with larger size is needed.
Keywords: chylothorax, neonatal, spontaneous, Octreotide
ĐẠI
CƯƠNG
Tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp là sự tích tụ dịch dưỡng trấp (hỗn
hợp của triglycerides, acids béo, proteins, immunoglobulins và
lymphocytes) trong khoang màng phổi. Sự thất thoát dịch
này vào trong khoang màng phổi
gây ra các biến chứng suy dinh dưỡng, rối loạn
điện giải và suy giảm miễn dịch(5,11,16,17).
Tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như biến chứng của phẫu thuật, sang chấn lúc sanh, dị dạng mạch bạch huyết ở phổi, chèn ép ống ngực từ bên ngoài (như thoát vị hoành bẩm sinh, u phổi, neuroblastoma), phù nhau thai không do tán huyết, phối hợp với những hội chứng khác nhau liên quan đến bất thường mạch bạch huyết hay những nguyên nhân gây tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên bên trong hay từ bên ngoài (biến chứng của đặt catheter, huyết khối…). Tuy nhiên, nguyên nhân thường gặp nhất vẫn là “vô căn”(4,5,17). Khoảng 50% các trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh được phát hiện trong tuần đầu sau sanh(3,4,7,8,9,10,17,18).
Về phượng diện chẩn
đoán tràn dịch màng phổi ở trẻ sơ sinh dựa
vào hai biểu hiện chính là dịch có thành phần
triglycerides cao và bạch cầu cao với lymphocytes ưu thế.
Hầu hết các tác giả chấp nhận tiêu chí: (1) bạch
cầu trong dịch màng
phổi > 1000/ml (Lymphocytes > 70%), (2) triglycerides > 100
mg/dl, protein > 20g/l(3,4).

Về phương diện
điều trị: điều trị quy ước gồm
hỗ trợ hô hấp, dẫn lưu màng phổi, bù dịch
và điện giải thất thoát, nuôi ăn tĩnh mạch
toàn phần hay nuôi ăn với triglycerides chuỗi trung b́nh
(MCTs), điều trị quy ước này thành công trong trong
80% các trường hợp. Tiêu chí thành công khi lượng dịch
dẫn lưu màng phổi < 10 ml/kg/ngày và thất bại
khi dẫn lưu màng phổi ra dịch > 10 ml/kg/ngày sau 2 -
4 tuần(1,2,3,4,5,17). Sau điều trị quy ước
thất bại bệnh nhân có chỉ định ngoại
khoa: phẫu thuật thắt ống ngực, shunt màng phổi
– phúc mạc, cắt màng phổi hay làm dày dính màng phổi(3,6,11,12,13,14).
Somatostatin
là một peptide hoạt động ức chế tuyến
yên tiết ra các hormone như hormone kích thích tuyến giáp
(TSH) và hormone tăng trưởng (GH), ức chế tiết
các peptide đường tiêu hoá (vasoactive intestinal peptide),
gastrin và motilin của đường tiêu hoá và ức chế
tuyến tuỵ tiết insulin, glucagon và somatostatin do đó kết
quả là làm giảm ḍng máu nội tạng, giảm lưu
lượng dịch bạch huyết và giảm thành phần
triglycerides đă được dùng điều trị một
số trường hợp(1,3,4,5,9,12,15,16).
Octreotide là
somatostatin tổng hợp tác dụng kéo dài, cơ chế tác
động vẫn chưa rơ nhưng trên mô h́nh động
vật cho thấy octreotide rút ngắn thời gian lành lổ
ḍ ống ngực cũng như rút ngắn thời gian dẫn
lưu màng phổi(2,3,4,6,12,13,14,16,17,19,20).
Sau tiêm
dưới da, octreotide được hấp thu nhanh chóng, đạt nồng độ
đỉnh trong huyết thanh sau 30 phút và nồng độ
đỉnh này đạt khoảng 20-40% so với nồng
độ đỉnh khi tiêm tĩnh mạch. Khoảng
54% lượng octreotide gắn kết với protein, chủ
yếu là lipoprotein. Octreotide được
chuyển hoá và bài tiết dưới dạng không thay đổi.
Thời gian bán huỷ ở người trưởng thành
là 1,7 giờ so với 1-3 phút của
somatostatin nội sinh. Thời gian tác dụng rất
thay đổi, thường khoảng 12 giờ. Bài tiết giảm ở bệnh nhân suy thận.
Ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo
độ thanh thải của octreotide giảm 50%. Dược động học của octreotide ở
trẻ em và sơ sinh chưa được nghiên cứu.
Tác dụng
phụ của octreotide ở trẻ sơ sinh ít gặp
được ghi nhận tăng đường huyết,
hạ đường huyết, viêm ruột hoại tử(2,4,17,20).
Sau đây chúng tôi báo cáo trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp được điều trị với octreotide.
BÁO CÁO
TRƯỜNG HỢP
Con bà Lê Thị L., nữ, sinh ngày 22/4/2009. Nhập viện Nhi Đồng 1 lúc 14h 23/4/2009.
Bệnh
nhân được sanh thường, dễ dàng, lúc tuổi
thai 40,5 tuần, cân nặng lúc sanh 2800 gram, tại BV Đa
khoa tỉnh LĐ lúc 22:05. Sau sanh trẻ tím tái
không tự thở, được hồi sức với
bóng và mask, không rơ APGAR. Sau hồi sức thở oxy ẩm
qua cannula, chích kháng sinh Claforan, Ampicillin và nuôi ăn tĩnh mạch
hoàn toàn với dextrose 10%, siêu âm ngực: tràn dịch màng phổi
phải lượng nhiều và chuyển đến BV Nhi
Đồng I với chẩn đoán: Tràn dịch màng phổi
P, thai già tháng.
Khám lâm sàng
lúc nhập viện: chiều dài 49 cm, ṿng đầu 34 cm, mạch
190 lần/phút, nhiệt độ 36,50C. H́nh thể bên ngoài
b́nh thường, không ghi nhận các dị tật bẩm
sinh. Tím khi thở oxy ẩm qua cannula SpO2: 46% à Hồng hơn khi thở NCPAP SpO2:
88%. Chi ấm, mạch rơ 190 l/p. Thở co lơm ngực nặng
64 l/p, rên rỉ. Tim đều, không âm thổi.
Phổi ran rít, ẩm, nổ. Bụng mềm,
gan lách không to. Thóp phẳng. Cường cơ và phản xạ tốt. Chụp XQ cho kết quả thâm nhiễm cả hai
phế trường và tràn dịch màng phổi P lượng
nhiều. Siêu âm ngực cho kết quả tràn dịch
màng phổi 2 bên, bên P nhiều hơn bên T, Siêu âm tim Doppler màu cho thấy tồn tại ống
động mạch d= 3mm, PAPs=25 mmHg. Chọc hút dịch màng
phổi ngày 23 tháng 4 cho kết quả Albumin: 35g/l, tế
bào: nhiều HC, BC (70% L), LDH: 364 U/L, Triglyceride: 32 mg/dl, Cấy
dịch (-). Bệnh nhân được hỗ trợ hô hấp
với NCPAP P =5 cmH2O, FiO2=61%, nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần, kháng sinh
Cefotaxim, Ampicilline và Gentamicin sau đó chuyển sang Timentin. T́nh trạng suy hô hấp không cải thiện, XQ và
siêu âm ngực cho thấy dịch màng phổi tiến triển.
Chọc hút
dịch màng phổi lần thứ 2 vào ngày 28 tháng 4 cho kết
quả dịch vàng, hơi đục, Albumin: 24g/l, tế
bào có nhiều hồng cầu, bạch cầu (80% L), Lactate:
1,44 mmol/L, LDH: 391 U/L, Triglyceride: 38 mg/dl, Cấy (-). Bệnh
nhân tiếp tục được hỗ trợ hô hấp
với NCPAP, nuôi ăn tĩnh mạch bán
phần, bắt đầu cho ăn sữa Pregestimil 14%
tăng dần đến 240 ml/ngày.
Chọc hút
dịch màng phổi lần thứ 3 vào ngày 1 tháng 5 cho kết
quả pH 9, Albumin: 16g/l, tế bào: nhiều hồng cầu,
bạch cầu (90% L), LDH: 163 U/L, Triglyceride: 347 mg/dl,
Cholesterol: 21mg%, cấy (-). Trẻ được nhịn
cho ăn sữa qua đường tiêu hoá, kháng sinh Timentin,
Vancomycin và cho chích Sandostatin® của Novartis với liều 14
mcg/kg chia 4 lần, tiêm dưới da trong 6 ngày. Suy hô hấp tiến triển nặng và bệnh
nhân được giúp thở bằng máy.
Sau đó bệnh
nhân được chuyển sang Sandostatin truyền TM, bắt đầu với liều 67 mcg/kg/ngày
(2,8mcg/kg/giờ), và tăng dần đến liều 168
cmg/kg/ngày (7mcg/kg/giờ) sau 9 ngày. Nuôi ăn
tĩnh mạch toàn phần gồm Aminoplasmal, Natrichlorua, Na,
Ca và lipid. Suy hô hấp cải thiện, bệnh
nhân được rút nội khí quản và thở NCPAP.
XQ ngực thẳng và siêu âm cho thấy cải
thiện, tràn dịch màng phổi hai bện lượng ít.
Trong suốt thời gian điều trị
Sandostatin xét nghiệm dextrostix đều trong giới hạn
b́nh thường (dao động từ 57 – 69 mg/dl).
Bệnh nhân xuất viện sau 5 tuần sau khi ổn định viêm phổi bội nhiễm, không ghi nhận có bất kỳ biến chứng.
Trường
hợp của chúng tôi gặp khó khăn trong chẩn
đoán khi mới tiếp nhận bệnh nhân. Do nhận
bệnh nhân tràn dịch màng phổi sớm phát hiện ngay
sau sanh, do đó trẻ chưa được cho ăn qua
đường tiêu hoá, nên dịch màng phổi không cho thấy sự gia
tăng triglycerides… nhận xét này cũng được ghi
nhận trong bài tổng quan của Helin(9).
Sau đây, chúng tôi lượt
qua một số trường hợp tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh được
ghi nhận trong y văn trong thời gian gần đây.
Coulter báo cáo trường hợp vào năm
2004 là trẻ sanh cực non 26 tuần, cân nặng 906 gram,
tràn dịch màng phổi vào ngày 65 sau sanh(7). Dẫn lưu màng phổi và nuôi ăn tĩnh mạch không giàm lưu lượng
dưỡng trấp nên sau đó khởi đầu
octreotide với liều 4 mcg/kg/ngày tiêm dưới da và sau
đó chuyển sang truyền tĩnh mạch tăng dần
tới liều 24 mcg/kg/ngày (1 mcg/kg/giờ) trước khi
ngưng dùng sau 28 ngày.
Trường hợp báo cáo bởi Silvasli là
trẻ sanh non 34 tuần, cân nặng 2,1 kg, bị tràn dịch
màng phổi tự phát được điều trị với
octreotide liều 3,5 mcg/kg/giờ(17). Dịch qua dẫn lưu màng phổi
hết sau 72 giờ và octreotide được giảm liều
và ngưng sau 2 ngày, không có sự tái lập dịch màng phổi
sau đó.
Young báo cáo trường hợp hiếm về
tràn dịch màng phổi dưỡng trấp được
chẩn đoán trong tử cung, trẻ đủ tháng cân nặng
3700 gram(20). Suy hô hấp tiến
triển sau dẫn lưu màng phổi nên bệnh nhân
được cho octreotide với liều 40 mcg/kg/ngày, tiêm
dưới da. Sau đó tăng liều đến 70
mcg/kg/ngày và kéo dài 17 ngày, dịch màng phổi thuyên giảm
sau đó.
Chúng tôi không ghi nhận bất kỳ yếu
tố nguy cơ gây nào gây nên tràn dịch màng phổi dưỡng
trấp trong trường hợp của chúng tôi như phẫu
thuật vùng ngực, chấn thương sản khoa, đặt
catheter trung ương gây huyết khối tĩnh mạch
chủ trên nên đây là trường hợp tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp tự phát(4,5,17).
Như ghi nhận của y
văn phần lớn trường hợp tràn dịch màng
phổi dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh là không
biết nguyên nhân. Tràn dịch màng phổi bẩm sinh vô căn thường
liên quan u mạch bạch huyết, dăn mạch bạch huyết
bẩm sinh, hội chứng Down, mẹ
đa ối[. Những trẻ sơ sinh
này có ống ngực hoạt động chức năng kém
hay dị dạng mạch bạch huyết, khi gặp phải
sự gia tăng áp lực tĩnh mạch (trong chuyển dạ
sanh…) sẽ gây vỡ ống ngực bẩm sinh(3,4,7,8,9,10,17,18).
Tràn dịch màng phổi dưỡng trấp tự
phát ở trẻ sơ sinh thường là thoáng qua, thuyên giảm
khi làm giảm lưu lượng bạch mạch trong ống
ngực. Để
giảm lưu lượng bạch mạch trong ống ngực
cần loại trừ axit béo chuỗi dài trong sữa hay
nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần(4,7,19). Tuy nhiên phương pháp này sẽ
làm kéo dài thời gian thuyên giảm dịch và tăng nguy
cơ xảy ra biến chứng của việc dẫn
lưu màng phổi, thở máy, NPAP, nuôi ăn tĩnh mạch
toàn phần kéo dài…v́ vậy dẫn đến mất nước,
bạch cầu lympho, đạm, yếu tố đông cầm
máu và kháng thể và do đó làm tăng nguy cơ xảy ra
các biến chứng giảm đạm máu, giảm bạch
cẩu lympho, rối loạn đông – cầm máu, giảm
globulin miễn dịch, nhiễm trùng nặng, các biến chứng
liên quan thở máy(9,17).
Sử dụng somatostatin trong
điều trị tràn dịch màng phổi dưỡng trấp
lần đầu tiên được ghi nhận ở trẻ
sơ sinh vào năm 2003(3). Octreotide là một Somatostatin tổng
hợp. Mặc dù cơ chế tác động chính xác
chưa rơ, có thể qua trung gian các thụ thể somatostatin
trong tuần hoàn nội tạng và giảm sự tạo dịch
bạch huyết thông qua giảm tiết dịch từ dạ
dày, ruột và tuỵ hay bằng cách giảm áp lực
tĩnh mạch gan hay ḍng máu nội tạng.
Liều dùng trong y văn cho tới
nay vẫn chưa cho thấy liều chuẩn cho trẻ
sơ sinh dùng điều trị tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp, các trường hợp trong y văn
cho liều octreotide rất khác nhau cũng như chưa cho
thấy đường dùng nào là ưu việt, tiêm dưới
da hay truyền tĩnh mạch. Nghiên cứu của chúng tôi khi bắt
đầu cho tiêm dưới da liều 14mg/kg/ngày trong 6 ngày
nhưng không hiệu quả, sau đó chúng tôi chuyển sang
truyền tĩnh mạch tuy nhiên với liều cao hơn,
khởi đầu với liều 67 mcg/kg/ngày (2,8mcg/kg/giờ),
và tăng dần đến 168 cmg/kg/ngày (7mcg/kg/giờ) sau 9
ngày. Tuy nhiên không ghi nhận bất kỳ biến
chứng liên quan. Chúng tôi nhận thấy đa số
tác giả dùng truyền tĩnh mạch, chiếm ưu thế
hơn số tác giả dùng tiêm dưới da trong y văn(9). Cách dùng cũng thay đổi: có
tác giả cho liều thấp tăng dần, có tác giả
dùng 1 liều cố định liên tục cho tới khi
đạt hiệu quả hay thất bại, chúng tôi ghi nhận
liều dùng cao nhất trong nghiên cứu của Rasiah là 240
mcg/kg/ngày (10 mcg/kg/giờ) và tăng dần, dùng trong 10 ngày,
và liều khởi đầu của tác giả Rasiah là 12
mcg/kg/ngày (0,5 mcg/kg/giờ) cũng là liều khởi đầu
thấp nhất trung b́nh trong y văn(4,9). Tổng quan y văn cho thấy thời
gian điều trị từ 3-29 ngày, trung b́nh 11 ngày, thời
gian giảm liều trước ngưng thuốc trung b́nh
khoảng 3 ngày, một số tác giả không ghi nhận thời
gian giảm liều(9). Trường hợp
của chúng tôi cũng không có thời gian giảm liều
octreotide trước khi ngưng.
Tác dụng phụ tăng đường
huyết, hạ đường huyết của octreotide ở
trẻ sơ sinh được ghi nhận trong báo cáo của
Beghetti(3) và Heli(9). Mohseni ghi nhận viêm ruột hoại
tử ở trẻ lớn(15). Nhưng hầu hết các tác giả
nhận xét octreotide an toàn kể cả khi dùng liều cao, thời
gian dài (4 tuần) trong điều trị tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp ở trẻ sơ sinh(2,4,5,7,8,9,16,17,20).
Trường hợp tràn dịch màng phổi của chúng tôi thuyên giảm hoàn toàn và xuất viện sau 3 tuần, không có bất kỳ tác dụng phụ được ghi nhận. Y văn ghi nhận dùng octreotide làm thuyên giảm nhanh dịch qua dẫn lưu màng phổi, giảm các biến chứng suy dinh dưỡng và rối loạn nước điện giải, nuôi ăn qua đường tiêu hoá sớm và rút ngắn thời gian nằm viện(4,17).
Qua điều trị thành công trường hợp tràn dịch màng phổi dưỡng trấp tự phát và tổng quan một số báo cáo của các tác giả khác trong y văn chúng tôi đề nghị:
Chẩn đoán tràn dịch màng phổi
dưỡng trấp dựa vào: (1) bạch cầu trong dịch
màng phổi > 1000/ml (Lymphocytes > 70%), (2) triglycerides > 100
mg/dl, protein > 20g/l. Tuy nhiên khó khăn trong chẩn đoán
là tràn dịch màng phổi dưỡng trấp hay không khi trẻ
không được cho ăn lipid qua đường tiêu
hoá.
Octreotide an toàn (cả liều cao trong thời gian dài
3-4 tuần) và có hiệu quả (giảm các biến chứng
suy dinh dưỡng, rối loạn điện giải, rút
ngắn thời gian thở máy, nằm viện) trong điều
trị tràn dịch màng phổi dưỡng trấp ở
trẻ sơ sinh.
Biến chứng
hạ đường huyết hay tăng đường
huyết do octreotide ít gặp ở trẻ sơ sinh và
cũng dễ điều trị. Y văn có
ghi nhận liên quan giữa viêm ruột hoại tử và việc
dùng octreotide.
Dường như cho octreotide khởi đầu liều
cao (80-100 mcg/kg/ngày) có lợi hơn khi bắt đầu với
liều thấp.
Dùng octreotide đường truyền tĩnh mạch
liên tục được ưa chuộng hơn đường
tiêm dưới da.
Tuy nhiên cần có nghiên cứu với cỡ mẫu đủ lớn ở trẻ sơ sinh để so sánh các liều, đường dùng, cách dùng khác nhau với điều trị quy ước.
21.
Al-Arfaj, A.L., P. Upadhyaya, and K. al-Umran, Current status of
management of neonatal chylothorax. Indian J Pediatr, 1992. 59(1): p. 133-6.
22.
Al-Zubairy, S.A. and A.S. Al-Jazairi, Octreotide as a therapeutic option
for management of chylothorax. Ann Pharmacother, 2003. 37(5): p. 679-82.
23.
Au, M., T.R. Weber, and R.E. Fleming, Successful use of somatostatin in a
case of neonatal chylothorax. J Pediatr Surg, 2003. 38(7): p. 1106-7
24.
Beghetti M, S.L., Belli D, Bugmann P, Kalangos A, Coultre CL, Etiology and
management of pediatric chylothorax. J Pediatr, 2000. 136: p. 653–8.
25.
Copons Fernandez, C., et al., [Neonatal chylothorax: aetiology, clinical
course and efficacy of treatment]. An Pediatr (Barc), 2008. 68(3): p. 224-31.
26.
Cheung, Y., M.P. Leung, and M. Yip, Octreotide for treatment of
postoperative chylothorax. J Pediatr, 2001. 139(1): p. 157-9.
27.
Coulter, D.M., Successful treatment with octreotide of spontaneous
chylothorax in a premature infant. J Perinatol, 2004. 24(3): p. 194-5.
28.
Gottfried, E. and I. Amirav, [Spontaneous chylothorax in the neonate].
Harefuah, 1991. 120(6): p. 328-30.
29.
Helin, R.D., S.T. Angeles, and R. Bhat, Octreotide therapy for chylothorax
in infants and children: A brief review. Pediatr Crit Care Med, 2006. 7(6): p.
576-9.
30.
Holzgreve, W., B. Holzgreve, and C.J. Curry, Nonimmune hydrops fetalis:
diagnosis and management. Semin Perinatol, 1985. 9(2): p. 52-67.
31.
Marcia L. Buck, P.D., Octreotide for the Management of Chylothorax in
Infants and Children Pediatric
Pharmacotherapy, 2004.
32.
Markham, K.M., et al., Octreotide in the treatment of thoracic duct
injuries. Am Surg, 2000. 66(12): p. 1165-7.
33.
Rasiah, S.V., J. Oei, and K. Lui, Octreotide in the treatment of
congenital chylothorax. J Paediatr Child Health, 2004. 40(9-10): p. 585-8.
34.
Rimensberger, P.C., et al., Treatment of a persistent postoperative
chylothorax with somatostatin. Ann Thorac Surg, 1998. 66(1): p. 253-4.
35.
Mohseni-Bod, H., D. Macrae, and Z. Slavik, Somatostatin analog
(octreotide) in management of neonatal postoperative chylothorax: is it safe?
Pediatr Crit Care Med, 2004. 5(4): p. 356-7.
36.
Siu, S.L. and D.S. Lam, Spontaneous neonatal chylothorax treated with
octreotide. J Paediatr Child Health, 2006. 42(1-2): p. 65-7.
37.
Sivasli, E., et al., Spontaneous neonatal chylothorax treated with
octreotide in Turkey: a case report. J Perinatol, 2004. 24(4): p. 261-2.
38.
Turan, O., et al., Chylothorax and respiratory distress in a newborn with
trisomy 21. Eur J Pediatr, 2001. 160(12): p. 744-5.
39.
van Straaten, H.L., L.J. Gerards, and T.G. Krediet, Chylothorax in the
neonatal period. Eur J Pediatr, 1993. 152(1): p. 2-5.
40.
Young, S., et al., Severe congenital chylothorax treated with octreotide.
J Perinatol, 2004. 24(3): p. 200-2.