Trương Thị Thu Hiền*, Bùi Quốc
Thắng**
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả
đặc điểm dịch tễ học, nguyên nhân, lâm sàng, cận
lâm sàng và điều trị trong tràn dịch dưỡng trấp
màng phổi(TDDCMP) ở trẻ £ 2 tháng tuổi.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Tất cả trẻ £ 2 tháng tuổi được chẩn đoán TDDCMP nhập viện
và điều trị tại khoa Sơ sinh và khoa Hô hấp Bệnh Viện Nhi Đồng
I.Hồi cứu, mô tả hàng loạt ca.
Kết quả: Trong 6 năm,
từ 2003-2009, chúng tôi đă thu thập
được 25 trường hợp TDDCMP theo tiêu chuẩn
chọn mẫu. Có 2 nhóm nguyên nhân: TDDCMP vô căn bẩm sinh (60%) và
TDDCMP sau phẫu thuật thoát vị hoành (40%). Tuổi khởi
bệnh đa số £ 30 ngày (84%), gần
một nửa các ca là £ 7 ngày (44%), riêng
nhóm thoát vị hoành (TVH) có 100% TKB £ 30 ngày. Tỉ
lệ nam/ nữ là 1,5/1, nhóm vô căn là 2/1, nhóm TVH là 1/1. Đa số bệnh nhi có địa chỉ
và nơi sanh ở tỉnh (88%). Tiền căn sanh non, cân nặng lúc sanh thấp và sanh ngạt chỉ chiếm
16% mỗi loại. Đa
số các ca đều có rối loạn
nhịp thở (72%), bỏ bú hay bú kém (84%). 100% các ca có co lơm
ngực và giảm phế âm bên tràn dịch. Nhiễm trùng
huyết (76%) và viêm phổi (84%) là 2 bệnh lư kèm theo rất thường gặp. Tim bẩm
sinh có 44% ca, đặc biệt thông liên nhĩ 24% các ca. Thiếu máu, tăng
bạch cầu, toan máu, CRP cao là những
thay đổi cận lâm sàng hay gặp. Ngoài
ra đạm máu giảm gặp ở những ca nặng và
tử vong. Biện pháp duy tŕ - nội khoa là chủ lực
trong điều trị TDDCMP với sự kết hợp MCT
(Medium chain triglycerides)(72%) và Octreotide (36%).
Tỉ lệ tử vong là 20%, đều thuộc nhóm vô
căn. Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong luôn là nhiễm trùng huyết,
suy hô hấp nặng. Thời gian nằm viện trung b́nh là
30,8± 23,26 ngày.
Kết luận: TDDCMP là 1 bệnh hiếm nhưng là dạng tràn dịch
màng phổi hay gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Tỉ lệ tử vong c̣n cao. Trên thế giới và ở
Việt Nam chưa có nhiều
thông tin và nghiên cứu về bệnh này, chưa có phác đồ điều
trị, đặc biệt ở sơ sinh.
Từ khóa: tràn dịch dưỡng chấp màng phổi
CHYLOTHORAX
IN BABIES UNDER 2 MONTHS AT CHILDREN’S HOSPITAL 1
Truong
Thi Thu Hien, Bui Quoc Thang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 11-2010: 353 - 360
Objectives: To describe the
epidemiology, cause, clinical and laboratory features and treatment results of
chylothorax in babies under 2 months old.
Material and method: Observational study. All babies under 2 months old, diagnosed with
chylothorax at Neonatal and Respiratory Departments, Children’s Hospital 1 from
1/2003 to 7/2009.

Results: There were 25
babies diagnosed with chylothorax in the study.
Two etiologies were identified among all cases: idiopathic congenital
chylothorax (60%) and congenital diaphragmatic hernias (40%). The
age at diagnosis was mostly under or at 30 days (84%), among these,
44% were under 7 days old. Boys and girls ratio was 1.5/1, among the congenital
group, the ratio was 2/1, and in diaphragmatic hernia group was 1/1. Most of
cases’ addresses and birth places were provincial (88%). Prematurity, low birth
weight (<2500gr), and asphyxia patients, each of them accounts for 16%.
Sepsis and pneumonia were the most common associated conditions with: 76% and
84% respectively. Congenital heart diseases were seen in 44% of these cases,
especially atrial septal defects (24%). Almost all laboratory results showed
evidence of anemia, acidemia, elevation of WBC and CRP. Low proteinemia was
seen in the severe and fatal cases. Conservation therapy was the main
standpoint of the management plan, with the use of MCT in diet 72%, or
Octreotide 36%. Mortality rate was 20%, all belonged to the congenital
chylothorax group. Sepsis and severe respiratory distress were the two direct
causes of death. The mean hospitalized period was: 30.8± 23.26 days.
Conclusions: Chylothorax in young babies is rare but the most common cause of
pleural effusions. The mortality is high. Worldwide and in
Keyword: chylothorax
Tràn dịch dưỡng
chấp màng phổi (TDDCMP) là một bệnh hiếm ở
sơ sinh(7,11) nhưng lại là dạng tràn dịch
màng phổi thường gặp nhất ở lứa tuổi
này(13). Tuy không diễn tiến cấp
tính nhưng hậu quả nặng nề do mất dịch
dưỡng chấp: mất các chất béo, dinh dưỡng,
điện giải, đặc biệt là mất đi các
tế bào miễn dịch cần thiết cho cơ thể
gây suy dinh dưỡng và suy giảm miễn dịch(9). Mặt khác, hậu
quả này càng trầm trọng hơn, góp phần tăng tỉ
lệ tử vong cho lứa tuổi sơ sinh. Y văn và các nghiên cứu trên thế giới
chưa đề cập nhiều đến bệnh lư này ở
sơ sinh. Tại Việt
Do đó, với mong muốn t́m hiểu rơ ràng hơn về các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị trong TDDCMP sơ sinh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục đích tổng kết, mô tả những đặc điểm của bệnh và bước đầu khảo sát tính hiệu quả của Somatostatin – Octreotide trong điều trị TDDCMP sơ sinh tại khoa sơ sinh Bệnh Viện Nhi Đồng 1 và qua đó góp phần mở ra những nghiên cứu mới, có giá trị trong chẩn đoán, theo dơi và điều trị TDDMP ở sơ sinh.
Mô tả các đặc điểm về dịch tể học, nguyên nhân, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị trong TDDCMP ở trẻ £ 2 tháng tại khoa Sơ Sinh và khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi đồng I từ tháng 01/2003 đến tháng 6/ 2009.
Hồi cứu, mô tả hàng
loạt ca.
Tất cả trẻ £ 2 tháng tuổi nhập vào khoa Sơ Sinh và khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi đồng I từ tháng 01/ 2003 đến tháng 6/ 2009 thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán TDDCMP như sau:
- Tiêu chuẩn chuẩn đoán h́nh ảnh: Có tràn dịch màng phổi một hoặc hai bên qua Xquang/ siêu âm ngực.
- Chọc ḍ màng phổi- xét nghiệm sinh hóa dịch màng phổi:
+ Đối
với nhóm vô căn:
Triglycerid > 110 mg%.
+ Đối với nhóm sau mổ lồng ngực: chọn cả những ca Triglycerid < 110 mg%.
Tiêu
chí loại trừ: Không
Qua hồi
cứu các hồ sơ bệnh án nhập viện vào khoa
Sơ Sinh và khoa Hô Hấp Bệnh Viện Nhi đồng I từ
tháng 01/ 2003 đến tháng 6/ 2009, chúng tôi có 25 bệnh nhi thỏa
tiêu chí chọn mẫu, đưa vào lô nghiên cứu và ghi nhận
được các kết quả sau:
Tuổi khởi bệnh (TKB) trong lô nghiên cứu nhỏ nhất là 1 ngày, lớn nhất là 60 ngày. Có 44% ca có TKB £ 7 ngày, 84% TKB £ 30 ngày. Nhóm sau mổ thoát vị hoành (TVH) có 100% các ca có TKB £ 30 ngày; Tỉ lệ nam/nữ là 1,5/1, nhóm vô căn: 2/1, nhóm sau mổ TVH: 1/1; Hầu hết là dân tộc Kinh, chỉ có 4% là người dân tộc thiểu số; Đa số cư ngụ ở tỉnh (88%), tỉ lệ khá đều ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.
Có 4 trường hợp (TH): 16% tuổi thai < 37 tuần (32-36), tất cả thuộc nhóm vô căn. C̣n lại là 84% TH có tuổi thai từ 37-42 tuần, không có TH nào > 42 tuần; Cân nặng lúc sanh (CNLS) trung b́nh: 2996,0 ± 465,01 gram (2300-3800), 3 TH (12%) có CNLS < 2500gr, c̣n lại 88% ca CNLS từ 2500-3800 gr, không có TH nào < 1500 gr hay > 4000gr; Có 16 TH (64%) sanh tại BV tuyến tỉnh, 5 TH (20%) sanh tại BV Từ Dũ- TP HCM, 2 TH sanh tại BV huyện, 1 TH sanh tại trạm y tế xă, 1 TH sanh tại nhà là người dân tộc thiểu số; Sanh thường chiếm tỉ lệ cao nhất: 19 TH (76%), kế đến là sanh mổ: 4 ca (16%), sanh hút: 2 ca (8%); Sanh ngạt có 4 ca (16%), mỗi nhóm nguyên nhân có 2 TH, cả 4 ca sanh ngạt này đều sanh thường, tại BV tuyến tỉnh; Các tiền căn sản khoa, tiền căn gia đ́nh, tiền căn mẹ mắc bệnh mạn tính không ghi nhận được qua hồi cứu hồ sơ bệnh án.
Có 15 TH
(60%), không t́m thấy nguyên nhân, xếp vào nhóm vô căn, c̣n lại
10 TH (40%) được chẩn đoán TDDCMP sau phẫu thuật
lồng ngực. Trong 10 trường hợp
sau mổ lồng ngực, tất cả đều là sau mổ
thoát vị hoành bẩm sinh, không có nguyên nhân phẫu thuật
nào khác được ghi nhận.
Bỏ bú/bú
kém (21 trường hợp: 84%) và thở bất thường
(18 trường hợp: 72%) là 2 triệu chứng được
ghi nhận nhiều nhất. Ngoài ra c̣n có các dấu hiệu:
tím tái (36%), ọc sữa (28%), chướng bụng (20%).
Trong đó tím tái và ọc sữa đều gặp ở
nhóm vô căn.
Tăng hay
giảm thân nhiệt đều gặp ở nhóm TDDCMP vô
căn nhiều hơn (53,33%) so với
nhóm sau mổ TVH (20%); Tỉ lệ rối loạn nhịp
thở (thở nhanh, thở chậm hay thở bất
thường) đều có tỉ lệ cao ở cả 2
nhóm nguyên nhân (74,33% và 70%); Trị số mạch và nhịp tim
trung b́nh của 2 nhóm TDDCMP là 149,20±16,81. Chỉ có 4 TH (16%) mạch,
nhịp tim ³ 180 lần/ phút, sau đó về
b́nh thường không cần dùng thuốc. Không có ca nào có mạch-
nhịp tim < 60 lần/ phút.
Nhóm vô căn có 93,33% trường hợp có trị số SpO2
< 95%, và 53,33% ca có SpO2 £ 90%. Nhóm sau mổ TVH có 50% ca có SpO2
< 95%, trong đó không có ca nào giảm nặng £ 90%; Dấu hiệu tím tái (môi và/hoặc
đầu chi) có 9 trường hợp đều thuộc
nhóm vô căn.
100% các ca đều có thở co lơm ngực, 100% các ca ghi nhận phế âm giảm bên tràn dịch và có 21 trường hợp (84%) có ran ẩm ở phổi.
Vàng da (36%), gan to (24%) là 2 dấu hiệu ghi nhận nhiều
nhất. Ngoài
ra c̣n có các dấu hiệu khác: phù (16%), chướng bụng
(16%), c̣n lại:
thiếu máu, xuất huyết dưới da, lách to, mỗi
TH có 1 ca (4%). Nhóm TDDCMP vô căn có tỉ lệ các triệu
chứng kèm theo cao hơn nhóm TVH.
Viêm phổi
(84%) và nhiễm trùng huyết (76%) là 2 bệnh cảnh kèm theo nhiều nhất. Nhóm TVH có
100% các TH kèm viêm phổi, nhiễm trùng huyết th́ gần
tương đương giữa 2 nhóm nguyên nhân.
Ngoài ra c̣n có các bệnh: vàng da tăng bilirubin gián tiếp, xẹp
phổi (28% mỗi bệnh), trào ngược dạ dày thực
quản, suy tim (8% mỗi bệnh), chủ
yếu gặp ở nhóm vô căn.
Có 13/25 ca
trong lô nghiên cứu của chúng tôi có kém dị tật bẩm
sinh (52%), trong đó có 10 ca (40%) là tim bẩm
sinh, các tật khác là: dăn năo thất, hở thành bụng, ruột
xoay bất toàn, mỗi tật có 1 ca (4%). Đặc biệt
trong 10 trường hợp tim bẩm
sinh, có 6 ca (60%) là thông liên nhĩ, đơn độc hay
kèm theo các tật tim bẩm sinh khác như thông liên thất,
c̣n ống động mạch, hẹp động mạch
chủ.
Có 17 ca (68%)
đủ tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu theo WHO
2001 (Trẻ sơ sinh và trẻ £2 tháng tuổi: thiếu máu
khi Hb < 13,5g/dL và/ hoặc Hct < 34,5%),
12 ca (48%) bạch cầu tăng >20.000/mm3, 12 ca
Neutrophil > 50%, về tiểu cầu có 3 ca (12%) <150.000/
mm3, 4 ca (16%) >450.000 mm3. Thay đổi bất
thường về ḍng hồng cầu tương
đương giữa 2 nhóm nguyên nhân, về tiểu cầu
chủ yếu ở nhóm vô căn, c̣n ḍng bạch cầu
thay đổi ở nhóm sau mổ TVH cao hơn nhóm vô
căn.
Có 17/25 ca được làm KMĐM (2 ca do lâu
ngày, chữ in trên giấy kim bị mờ không đọc
được), nhóm vô căn có 7/7 ca (100%) có trị số
pH < 7,25, nhóm TVH có 8/8 ca có pH trong khoảng 7,15-7,45. Có 11/15 ca (73,3%) có HCO3- < 24 mmol/L, 11 ca có PaCO2 ³ 45mmHg, 5/15 ca (33,3%) có PaO2 £ 60mmHg.
Có 23/25 ca làm
CRP, trị số trung b́nh: 41,43±25,84 mg/L, trong đó 20/23 ca có trị số
>10 mg/L. Tỉ lệ tương đương giữa
2 nhóm; Đường huyết cao thoáng qua (³ 180mg%) có 6 ca (24%), đều thuộc
nhóm vô căn và đều có dùng Octreotide, đường
huyết thấp thoáng qua có 4 ca (16%), nhóm vô căn có 3 ca, nhóm
TVH có 1 ca.
Có 6 ca làm đạm máu: đạm toàn phần
3 ca đều giảm < 5,5g%, albumin 6 ca đều <
3,5g%. Trong đó có 5 ca thuộc nhóm vô căn, 3/6 ca tử
vong; Lipid máu làm ở 3 trường hợp, tuy nhiên chỉ
định lượng cholesterol và triglycerid toàn phần,
không làm LDL-cholesterol và HDL – cholesterol nên không kết luận
có rối loạn lipit máu.
Có 3 dạng màu sắc DMP được
ghi nhận: vàng đục (10 ca: 40%), vàng nhạt (9 ca: 36%),
trắng đục (6 ca: 24%), nhóm TVH có tỉ lệ màu vàng
nhạt (60%) cao hơn nhóm vô căn (20%).
Bảng
1. Kết quả các chỉ số sinh hóa
dịch màng phổi
|
Các
chỉ số sinh hóa DMP |
Trung b́nh |
|
Triglycerid (mg%) |
33,5-3800 |
|
Đạm (g/L) |
46,43 ± 32,09 (3,77-136,5) |
|
Đường (mg%) |
110,38 ± 37,16 (9,6-201,5) |
|
LDH (U/L) |
380,36 ± 219,11 (59-923) |
|
Rivalta (+) |
16 (64%) |
Riêng về trị số triglycerid DMP, nhóm vô căn có 60% TH từ 110-500 mg%, nhóm TVH có 60% ca < 110mg%; 100% ca có > 80% tế bào lympho trong DMP, 100% ca có kết quả cấy DMP (-).
Có 10 ca (40%) có kết quả cấy dương tính
ngoài DMP, tỉ lệ cao nhất là Acinetobacter spp (60%),
Pseudomonas aeruginosa (40%), Klebsiella spp (30%), Staphylococus (20%). Trong 10 ca này, có 6 ca thuộc
nhóm TVH, 4 ca thuộc nhóm vô căn.
Tất cả 25 ca đều có h́nh ảnh TDMP trên Xquang/ siêu âm ngực. Vị trí TDMP ghi nhận: 16 ca (64%) bên trái, 4 ca bên phải (16%), và 5 ca (20%) 2 bên. Nhóm vô căn tràn dịch bên trái 7 ca (46,67%), bên phải 3 ca (20%), 2 bên 5 ca (33,33%). Đặc biệt nhóm TVH, 90% TDMP bên trái, 10% bên phải; Chỉ có 2 ca (8%) được làm CT- Scan ngực, không phát hiện có dị tật bẩm sinh ngoài tim đi kèm.
Có 4 biện
pháp điều trị nội khoa trong lô nghiên cứu: hỗ
trợ hô hấp (HTHH), dùng kháng sinh (KS), dinh dưỡng có
hay không dùng MCT (medium chain triglycerid, qua 2 chế phẩm: dung
dịch Lipofundin 20% hoặc sữa Pregestimil), dùng Octreotide
(Sandostatin̉)
Có 22 ca (88%)
được hỗ trợ ít nhất một
phương pháp (Oxy/cannula, NCPAP, thở máy, bóp bóng/mask, bóp
bóng/nội khí quản), thời gian HTHH trung b́nh: 31,0±23,3
ngày; Sử dụng KS có trong 23 ca (92%), có 9/23 ca phải
đôi KS ³ 2 lần; Sữa mẹ hoàn toàn được
áp dụng trong 7/25 ca (28%), nuôi ăn tĩnh mạch (NATM) có
MCT là 18 ca (72%), trong đó, Lipofundin dùng 17 ca (68%) nhiều
hơn sữa Pregestimil 12 ca ( 48%). Nhóm dùng sữa
mẹ là những ca bệnh cảnh nhẹ, TDMP không nhiều,
không suy hô hấp nặng như nhóm phải NATM có MCT.
Bảng 2. Đặc điểm
dinh dưỡng của lô nghiên cứu
|
Các biện pháp dinh dưỡng |
Số |
Tỉ lệ |
Thời gian trung b́nh (ngày) |
|
Nuôi ăn TM có MCT |
18 |
72 |
14,16 ± 10,87 (2-40) |
|
Sữa mẹ hoàn toàn |
7 |
28 |
13,71 ± 11,25 (7 – 38) |
|
Dùng Lipofundin |
17 |
68 |
11,94 ± 9,47 (2 – 32) |
|
Dùng Pregestimil |
12 |
48 |
16,58 ± 25,29 (2 – 86) |
Có 9 ca
(36%) dùng Octreotide, đa số các trường hợp này có
bệnh cảnh nặng: tím tái, rối loạn nhịp thở,
SpO2 < 95%, toan máu, TDMP lượng nhiều, có kèm
tim bẩm sinh (44,4%), nhiễm trùng huyết (88,9%), viêm phổi
(100%), 6/9 ca đáp ứng điều trị, 3 ca (33,3%) tử vong.
Thời điểm bắt đầu dùng: 11,3±11,5 ngày (2-38). Liều khởi
đầu trung b́nh: 1,19±0,99 mg/kg/giờ (0,16-2,8). Liều tối
đa: 3,01±2,45 mg/kg/giờ (0,16-7,0). Cách dùng: 5 ca truyền
tĩnh mạch, 4 ca tiêm dưới da. Thời gian dùng trung
b́nh: 13,60±9,97 ngày (1-31). Đáp ứng
điều trị: 6 ca (66,7%). Thời điểm đáp ứng:
12,0±9,61 ngày.
Chọc
hút màng phổi được thực hiện ở 100% các
ca trong lô nghiên cứu của chúng tôi. Có 6 ca (24%) chọc hút ³ 2 lần, có ca tới 9 lần.
Dẫn lưu màng phổi chỉ ở 1 ca (4%). Không có biện
pháp can thiệp ngoại khoa nào khác ghi nhận.
Có 20 ca (80%) khỏi, xuất viện, 5 ca
(20%) tử vong. Các ca tử vong đều thuộc nhóm vô
căn, có 3 ca dùng Octreotide nhưng 3 ca này có kèm theo suy dinh
dưỡng nặng hoặc cao áp phổi nặng. Thời
gian nằm viện trung b́nh: 30,80±23,26
ngày (7-105), trong đó có 11 ca (44%)
nằm viện ³30
ngày. Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong: 5 ca do nhiễm
trùng huyết và suy hô hấp nặng, 2 ca suy tim, 2 ca suy dinh
dưỡng nặng, 1 ca do sốc nhiễm trùng, 1 ca do cao
áp phổi nặng/ tim bẩm sinh.
Tuổi khởi bệnh đa số £ 30 ngày: 84%, nhóm vô căn tỉ lệ này
là 73,3%, nhóm sau mổ TVH 100%. Điều này phù hợp do các
ca TDDCMP sau mổ TVH được chẩn đoán TVH bẩm
sinh ngay sau sanh và được phẫu thuật cấp cứu
ngay sau đó. Có 44% ca có TKB £ 7
ngày. Điều này cũng gần tương tự với
ghi nhận của tác giả Au Macy(2), Goto(7). Có 1 ca (4%)
phát hiện TDMP trong thai kỳ và chẩn đoán TDDCMP sau
sanh, tác giả Abrams(4) th́ tỉ
lệ này là 3,2%. Tỉ lệ về giới nam/nữ của
lô nghiên cứu (1,5/1) cũng gần tương
đương với Rocha (1,3/1), nhóm vô căn bẩm sinh:
2/1 bằng với ghi nhận của tác giả Aworanti(3). Sanh non
(<37 tuần), CNLS thấp (<2500gr) và sanh ngạt trong
nghiên cứu của chúng tôi mỗi yếu tố chỉ
16%, có thấp hơn nhiều
so với nghiên cứu của Rocha(12). Các tiền
căn sản khoa, gia đ́nh và mẹ mắc bệnh mạn
tính không được ghi nhận trong 25 ca, do hạn chế
qua hồi cứu bệnh án, do khó khăn trong khai thác bệnh
sử.
Nguyên nhân vô căn bẩm sinh chiếm tỉ
lệ cao (60%), so với nguyên nhân sau mổ TVH (40%), điều
này phù hợp theo tác giả Macy Au(2): đa số
nguyên nhân TDDCMP sơ sinh là vô căn, do bất thường
bẩm sinh hệ bạch huyết, ống ngực, trung thất,…Tuy
nhiên 100% ca TDDCMP sau phẫu thuật lồng ngực là do
thoát vị hoành, không có ca nào sau phẫu thuật tim bẩm
sinh như theo hồi cứu một số y văn, có thể
do giai đoạn sơ sinh chưa can thiệp được
các phẫu thuật tim bẩm sinh, c̣n TVH bẩm sinh là 1 dị
tật bẩm sinh cần cấp cứu ngay.
Triệu
chứng cơ năng và thực thể TDDCMP sơ sinh rất
không đặc hiệu cho chẩn đoán, chủ yếu
là các triệu chứng về hô hấp, nhiễm trùng toàn
thân. Bệnh cảnh phối hợp nhiều, đa số
là viêm phổi và nhiễm trùng huyết. Điều này phù hợp
với đặc điểm bệnh lư ở trẻ £ 2 tháng tuổi. Tim
bẩm sinh (44%) với tật thông liên nhĩ (24%) cũng
chiếm tỉ lệ cao trong 25 ca, phù hợp nhận định
của tác giả Kallanagowdar(8). Nhóm TDDCMP vô căn đa số có biểu
hiện lâm sàng và bệnh cảnh phối hợp nặng nề hơn nhóm sau mổ TVH.
Do đặc
điểm bệnh lư giai đoạn sơ sinh, hầu hết
các ca có thiếu máu (theo WHO 2001), tỉ lệ cao hơn ở
nhóm vô căn so nhóm TVH. Tỉ lệ bạch cầu tăng
và Neutrophil > 50% cao hơn ở nhóm TVH, có thể một phần
do mất các tế bào miễn dịch qua dịch dưỡng
chấp, một phần do nhóm này phải qua cuộc phẫu
thuật lớn, nguy cơ nhiễm trùng cao; Khí máu động
mạch cũng phản ánh phần nào nặng nề của
bệnh, tỉ lệ bù toan khá cao (56%) do lượng dịch
nhiều chèn ép, do mất điện giải qua dịch
dưỡng chấp, do bệnh cảnh nhiễm trùng kèm
theo. CRP > 10mg% cũng có tỉ lệ rất cao: 80%, ư
nghĩa trong chẩn đoán và theo dơi nhiễm trùng; Đạm
máu giảm cũng là 1 ghi nhận đáng lưu ư trong nghiên
cứu của chúng tôi, tuy số ca làm xét nghiệm này ít (6/25)
nhưng cả 6 trường hợp đều giảm
đạm máu và trong đó có 3 ca tử vong. Đạm máu
giảm là một biến chứng của tràn dịch
dưỡng chấp do mất đi lượng đạm
cần thiết.
Dịch
màng phổi có màu sắc đa số là vàng đục, vàng
nhạt, trắng đục có tỉ lệ thấp nhất
khác với TDDCMP trẻ lớn đa số có màu trắng
đục như sữa, do trẻ sơ sinh bệnh lư
không được nuôi ăn bằng sữa qua miệng mà
phải nuôi ăn tĩnh mạch nên các chất béo chưa
được chuyển hóa và hấp thu tại ruột
non, chất béo trong hệ bạch huyết, ống ngực
chưa nhiều. Điều này cũng giải thích nồng
độ Triglyceride trong DMP ở nhóm sau mổ TVH đa số
<110 mg%, khác với nhóm vô căn 110-500 mg%, tác giả Buttiker(4) cũng nhận
định như vậy. Cấy DMP 100% ca (-) cũng phù hợp
do DMP tuy tái phát nhanh nhưng không có tính kích thích gây viêm màng phổi
như dịch lao, dịch mủ mà c̣n có tính kềm khuẩn.
Tràn dịch
bên trái có tỉ lệ cao nhất 64%, có khác với y văn(1): thường
là TDDCMP bên phải, nhóm TVH tỉ lệ này là 90%, có lẽ do
TVH xảy ra bên trái.
Đa số các ca có HTHH và sử dụng
kháng sinh trong trị liệu, do đặc điểm lâm
sàng cũng chủ yếu với t́nh trạng nhiễm trùng
huyết và viêm phổi, suy hô hấp; Dinh dưỡng với
2 biện pháp: NATM có MCT (72%) và sữa mẹ hoàn toàn (28%). Các
ca nuôi ăn sữa mẹ hoàn toàn đều có bệnh cảnh
không nặng, lượng dịch màng phổi không nhiều,
không suy hô hấp và nhiễm trùng huyết nặng, không ca
nào cần dùng Octreotide và MCT, kết quả đều khỏi,
xuất viện sau đó. Các ca cần NATM với MCT có 18 ca (72%), dùng Lipofundin
nhiều hơn sữa Pregestimil,
nhóm TVH có tỉ lệ sử dụng chế phẩm
có MCT cao hơn nhóm vô căn.
Ngược lại nhóm vô căn có 9 ca
(36%) dùng Octreotide, nhóm TVH không có trường hợp nào dùng.
Liều lượng bắt đầu và tối đa của
Octreotide trong nghiên
cứu có thấp hơn so với 1 số báo cáo tham khảo(6,10). Tỉ
lệ đáp ứng điều trị với Octreotide là
66,7%, thấp hơn theo báo cáo của Chan Shu-yan(5). Theo Tibballs(14), sự
khác biệt về hiệu quả điều trị liên
quan đến liều lượng dùng Octreotide. Về cách
dùng, thời gian dùng trung b́nh, thời điểm đáp ứng
với Octreotide gần tương đương với
các báo cáo kể trên. trong 9 ca dùng Octreotide,
có 3 ca tử vong, cả 3 trường hợp này đều
có bệnh cảnh lâm sàng rất nặng do kèm theo suy dinh
dưỡng nặng, cao áp phổi nặng, 1 ca có lượng
dịch tái phát rất nhanh, phải chọc hút giải áp
màng phổi đến 9 lần. Các biện pháp can thiệp
ngoại khoa khác: gây viêm dính màng phổi bằng tác nhân hóa học,
tạo shunt nối màng phổi- màng bụng, phẫu thuật
mở lồng ngực, cột ống ngực không
được áp dụng điều trị TDDCMP trong lô
nghiên cứu của chúng tôi, có lẽ do việc hạn chế
can thiệp thủ thuật hay phẫu thuật trong lứa
tuổi này.
Kết quả điều trị với
tỉ lệ tử vong khá cao: 5 ca - 20%, tất cả đều
thuộc nhóm vô căn. Cả 5 ca đều có nguyên nhân trực
tiếp gây tử vong là nhiễm trùng huyết và suy hô hấp
nặng. Sốc nhiễm trùng, cao áp phổi nặng và suy
dinh dưỡng nặng cũng lá những nguyên nhân trực
tiếp gây tử vong cho bệnh nhi.
TDDCMP sơ sinh tuy hiếm
nhưng tử vong cao, càng làm tăng tỉ lệ tử
vong vốn đă cao cho lứa tuổi này. Lâm sàng không đặc
hiệu nhưng việc nghe phế âm giảm là 1 dấu hiệu
nên nghi ngờ có TDDCMP v́ đây là dạng TDMP hay gặp nhất
ở sơ sinh. Thay đổi các chỉ số huyết học
là thường gặp, toan máu và giảm đạm máu
cũng là những biến chứng hay gặp, đặc
biệt ở trẻ có tràn dịch lượng nhiều. Dịch
màng phổi dù không phải là dạng trắng đục
nguyên thủy mà có thể là màu vàng đục hay vàng nhạt.
Định lượng Triglycerid DMP và các thành phần khác
(đạm, đường, LDH), đặc biệt là nên
làm thêm điện di DMP để xác định sự hiện
diện của tinh thể Chylomicron, giúp xác định chẩn
đoán. Điều trị nội khoa là biện pháp ưu
tiên hàng đầu trước khi có quyết định
can thiệp phẫu thuật v́ khả năng tự
đóng của ống ngực cao, nhưng việc điều
trị bổ sung chất béo dạng MCT rất quan trọng
và cần thiết, góp phần giảm lưu lượng bạch
huyết, giảm thất thoát dịch dưỡng chấp.
Ngoài ra, Somatostatin và đồng phân của nó là Octreotide
cũng có vai tṛ mới trong điều trị duy tŕ TDDCMP với
những tác dụng đă kể ở trên. Nhóm TDDCMP vô
căn có tiên lượng nặng hơn nhóm TDDCMP sau mổ
thoát vị hoành. Với mẫu nghiên cứu c̣n quá ít nên
chưa thể rút ra kết luận chắc chắn
nhưng qua nghiên cứu này sẽ là tiền đề cho những
nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn, góp phần chẩn
đoán sớm và điều trị hiệu quả nhất
trong TDDCMP ở trẻ em, đặc biệt trẻ £ 2 tháng tuổi.
2. Au M, Weber TR, Fleming RE, (2003), “ Successful use of Somatostatin in a case of neonatal chylothorax”, J. Pediatr Surg. 38, (7), pp. 1106-1107.
3.
Aworanti OM, (2009), “Congenital idiopathic
chylothorax in a
14. Tibballs J, Soto R, Bharucha T, (2004), “ Management of newborn lymphangiectasia and chylothorax after cardiac surgery with Octreotide infusion”, Ann Thorac Surg. 77, (6), pp. 2213-2215.