Nguyễn Thị Diễm
Châu*, Lê Minh Tuấn*
Mục tiêu: Đánh
giá hiệu quả của
phương pháp dán keo Cyanoacrylate trên giác mạc có lỗ thủng
nhỏ so sánh với phương pháp ghép màng ối.
Phương
pháp: Thử nghiệm
lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên. Nghiên cứu thực
hiện trên 30 mắt của 30 bệnh nhân được
chẩn đoán là giác mạc thủng nhỏ (≤3mm) hay dọa
thủng được chia ngẫu nhiên vào 2 lô: lô 1 gồm
15 ca được dán keo, lô 2 gồm 15 ca được
ghép màng ối từ tháng 11/2008 đến hết 10/2009 tại
khoa Giác mạc, bệnh viện Mắt TP.HCM.
Kết
quả: Thời gian
trung b́nh cho 1 ca dán keo 11,7 ± 3,6 phút, cho ghép màng ối 38,6 ± 7,9
phút (p<0,05). 100% lỗ thủng giác mạc được
bịt kín và có sự tái tạo tiền pḥng ở cả 2
phương pháp trong ngày đầu sau mổ.Thời gian
trung b́nh lành biểu mô giác mạc ở lô 1 là 31,1 ± 10,9 ngày,
lô 2 là 27,5 ± 7,1 ngày (p>0,05). Có sự lành sẹo mắt yên
trong ṿng 3 tháng ở 13 mắt (86,67%) lô 1 và 14 mắt (100%) lô
2 (p>0,05). Thời gian trung b́nh màng keo tự tróc hoàn toàn 57,8
± 34,6 ngày, màng ối tan hoàn toàn 43,5 ± 21,6 ngày (p>0,05).1
trường hợp màng ối tan sớm trong tuần đầu
được ghép lần 2 vẫn tan sớm được
chuyển sang dán keo và ổn định sau 3 tuần. Sau mổ,
thị lực tăng 73,3% lô 1, 50% lô 2; thị lực không
đổi 26,7% lô 1, 35,7% lô 2; thị lực giảm 1,3% ở
lô 2 (p>0,05). Thị lực trung b́nh lô 1 cải thiện có
ư nghĩa (p<0,05) đặc biệt là trường hợp
dọa thủng hay thủng <2mm. Có 1 ca dán keo 2 lần do
sai sót kĩ thuật ở lần 1, 1ca ghép màng ối 2 lần
đều thất bại được dán keo. Tăng cộm
xốn sau mổ 73,3% lô 1, 28,6% lô 2 (p<0,05). Lô 1 có 2 ca dính mống
ngay sau dán trong đó 1 ca tách dính được, lô 2 có 2 ca ít
máu tiền pḥng tự hết. Không có trường hợp
nào viêm kết mạc gai nhú khổng lồ, nhiễm trùng tiến
triển, tăng nhăn áp.
Kết
luận: Keo Cyanoacrylate
có khả năng bịt kín lỗ thủng giác mạc nhỏ
tạo điều kiện cho quá tŕnh lành sẹo tốt,
thao tác nhanh mà không cần khâu vá. Phương pháp dán keo tốt
cho trường hợp giác mạc dọa thủng hay thủng
<2mm về sự lành sẹo và cải thiện thị lực, ít biến chứng, hữu ích khi giác mạc tươi chưa có sẵn để ghép.
Từ
khoá: thủng giác mạc,
keo cyanoacrylate, màng ối.
CYANOACRYLATE
TISSUE ADHESIVE VERSUS MULTILAYERED AMNIOTIC MEMBRANE TRANSPLANTATION IN SMALL
CORNEAL PERFORATIONS
Nguyen Thi Diem Chau, Le Minh Tuan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 -
Supplement of No 1 -2010: 237 - 244
Objectives: To compare the efficacy of Cyanoacrylate tissue adhesive and
Multilayered amniotic membrane transplantation in small corneal perforations.

Methods: Randomized
Controlled clinical Trial. Thirty patients (30 eyes) with actual corneal
perforations ≤ 3mm in diameter or impending perforations were randomly divided into 2
groups : group 1 comprsed 15 eyes treated with Cyanoacrylate tissue adhesive
(CTA) and group 2 comprised 15 eyes treated with Amniotic membrane
transplantation (AMT) from Nov 2008 to Oct 2009 at Cornea departement of The
Eye hospital in HCMC.
Results: The mean
interval of time needed for corneal application of CTA was 11.7 ± 3.6 minutes,
for AMT was 38.6 ± 7.9 minutes (p<0.05). 100% cases had the cessation of
aqueous leak and reformation of chamber depth during the first postoperative
day with both methods. The mean interval of time needed for reepithelialization
was 31.3 ± 10.9 days in group 1 and 27.5 ± 7.1 days in group 2 (p>0.05).
Thirteen (86.67%) eyes had successful healing of cornea in group 1, compared
with 14 (100%) eyes in group 2. CTA was naturally dislodged in 57.8 ± 34.6 days
while amniotic membrane was completely dissolved in 43.5 ± 21.6 days
(p>0.05). Amniotic membrane was dissolved in 1 case during the first week
postoperative follow-up, she had the same result in the second AMT, ultimately
she was applicated CTA, she was better at 3 weeks later. Visual outcome
improved about 11 (73.3%) eyes in group
1, 7 (50%) eyes in group 2; remained
stable in 4 (26.7%) eyes in group 1and 5 (35.7%) of group 2; decreased in 2
(1.3%) in group 2 (p>0.05). The mean of vision was increased in group 1
especially in cases with impendind or actual corneal perforations < 2mm.
Reapplication of CTA was required in 1 case. Reoperation was performed in 1
case but it still had no success. Excessive irritation after intervention was
happened in 11 (73.3%) eyes in group 1 and 4 (28.6%) eyes in group 2 (p<0.05).
In group 1, 2 case had iris sticked corneal
perforation but 1case could not be unstiched. In group 2, 2 cases had little
blood in anterior chamber, both of them were better. No eye in 2 groups has
been occurred giant papillary conjunctivitis, corneal infection, secondary glaucoma.
Conclusion: Cyanoacrylate
tissue adhesive has possibilty of blocking small corneal perforation. That help the process of healing wound. The application of
CTA is fast because of sutureless. This method is less coplication and good at
healing scar and increasing vision for impending or actual corneal perforations
<2mm. This treatment is useful in emergency cases when corneal tissues are
not ready.
Keywords: corneal perforation, cyanoacrylate tissue adhesive, anmiotic membrane.
Thủng giác mạc là t́nh trạng
giác mạc bị mất toàn bộ chiều dày gây phá vỡ
cấu trúc toàn vẹn của nhăn cầu và đe dọa tổ
chức nội nhăn. Nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn đến thủng giác mạc làm mất chức
năng thị giác.
Trong đó, viêm loét giác mạc biến chứng thủng chiếm
tỉ lệ không nhỏ(1). Vấn đề đặt ra là làm thế nào bịt
kín lỗ thủng giác mạc bảo tồn nhăn cầu và
duy tŕ thị lực. Giải pháp lư tưởng nhất,
mang tính sinh học nhất là ghép giác mạc. Tuy nhiên, nguồn giác mạc tươi không phải luôn luôn có sẵn
nên có nhiều biện pháp thay thế nhằm đóng lỗ
thủng giác mạc tạm thời trong thời gian chờ
ghép giác mạc. Các biện pháp đă được sử
dụng như ghép kết mạc, ghép
màng ối, dán keo sinh học,... Màng ối là một vật liệu sinh học
tương thích với
mô giác mạc cao lại dễ t́m, có thể dùng trong nhiều
chỉ định ghép bảo tồn khác nhau được
sử dụng phổ biến và rộng răi ở nhiều
nước. Hiện tại, ở nước
ta phương pháp ghép màng
ối vá lỗ thủng giác mạc là lựa chọn
đứng sau ghép giác mạc.
Gần đây, nước ta bắt đầu
tiếp cận với phương pháp dùng keo sinh học
đóng lỗ thủng giác mạc nhỏ với kĩ thuật đơn giản, nhanh
chóng, mà không cần khâu vá (hạn chế tổn thương mô giác mạc quanh lỗ thủng cũng như kích thích và loạn thị
do chỉ khâu). Kĩ thuật này được
thực hiện hơn 30 năm nay trên các quốc gia tiến bộ với nhiều loại
keo khác nhau(9). Loại keo rẻ tiền
và hiệu quả đang được sử dụng là
keo Cyanoacrylate. Nhiều tác giả châu Á đă dùng keo này
cho giác mạc dọa thủng và thủng thật sự,
báo cáo tỉ lệ lành sẹo là 83 – 86%(8)(10), trong đó tỉ lệ có thị
lực cải thiện cao (chiếm 77,8% các ca lành sẹo)(7), ít gây biến chứng(4), và không gây độc giác mạc. Với
lỗ thủng giác mạc nhỏ thủ thuật dán keo có
thể thực hiện ngay trên đèn khe(4)(6) trong thời gian ngắn. Bệnh
nhân cũng
không cần nằm viện trong quá
tŕnh theo dơi sau dán keo. Tuy keo là vật liệu
lạ đối với cơ thể lại
thô ráp trên giác mạc gây kích thích mắt nhưng có thể khắc phục bằng cách cho bệnh
nhân mang kính sát tṛng mềm sau dán.
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có tài liệu nào báo cáo về phương pháp dùng keo sinh học trên giác mạc nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng của keo Cyanoacrylate trên giác mạc có lỗ thủng nhỏ ≤ 3mm và đồng thời so sánh với phương pháp ghép màng ối trên các đối tượng có cùng đặc điểm lâm sàng từ đó rút ra được hiệu quả, tính ưu việt cũng như những mặt hạn chế của phương pháp.
Nghiên cứu tiến cứu
thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên.
Tất cả
những bệnh nhân có lỗ thủng giác mạc nhỏ
≤3mm hoặc giác mạc dọa thủng lộ màng descemet
được khám và điều trị tại khoa Giác mạc
(gồm nội và ngoại trú), bệnh viện Mắt Thành
phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ đầu
tháng 11 năm 2008 đến hết tháng 10 năm 2009. Mỗi ca được theo dơi 4 tháng.
Các bệnh nhân được
chẩn đoán là thủng giác mạc với sang
thương
có dạng h́nh phễu kích thước
nhỏ ≤
3mm hoặc dọa thủng, đă
được điều trị nội khoa trước
đó ít nhất 1 tuần, đồng ư tham gia điều
trị.
Lỗ thủng giác mạc
>3mm hay lỗ thủng ≤3mm ở sang
thương
có dạng h́nh miệng giếng,
giác mạc xung quanh thâm nhiễm rộng, tiến triển bệnh
nhanh và nặng. Bệnh nhân không hợp tác,
không đồng ư tham gia nghiên cứu.
Khám lâm sàng với các
phương tiện:
Bảng thị lực thập phân được chuyển
qua trị số logMAR để phân tích, sau đó chuyển
ngược lại để tŕnh bày kết quả, sinh hiển
vi, Fluorescein để nhuộm màu và làm Seidel test, thuốc
tê Dicain, Collyre Efticol 0,9%, bông g̣n, lọ bệnh
phẩm để soi tươi, nuôi cấy, dao
15.
Rút thăm ngẫu nhiên và ấn định phương pháp cho 30 phiếu thu thập có đánh số thứ tự sẵn, 30 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được thu nhận dần theo thứ tự thời gian ứng với số thứ tự trên phiếu và ngẫu nhiên vào 2 lô, mỗi lô có 15 bệnh nhân. Lô 1 được dán keo Cyanoacrylate và đặt kính sát tṛng mềm. Lô 2 được ghép màng ối.
- Keo Cyanoacrylate (Amcrylate) nhập từ Ấn Độ được sản xuất bởi Concord Drugs Limited cộng tác kĩ thuật với viện hóa học Ấn Độ đă được chính phủ nước này công nhận sử dụng trên mô sinh học. Keo đă được thanh trùng và khử độc và có tính năng ḱm khuẩn. Keo là monomer lỏng, khi tiếp xúc với môi trường ẩm sẽ chuyển thành dạng polymer, đóng rắn trong ṿng 5 – 10 giây (nhanh trong môi trường kiềm, chậm trong môi trường axcit). Sản phẩm này được đóng vào lọ thủy tinh chứa 0,25 ml bảo quản ở nơi mát và tối.
- Kính sát tṛng mềm loại O2 Optix của hăng Ciba Vision.
- Đĩa nhỏ vô trùng để đựng keo.
- 2 cây tăm bông xenlulô để thấm khô.
- Dao 15 lắp sẵn cán, vành mi, Spatule tách mống mắt dính khi cần, kính sinh hiển vi.
- Ống chích 5ml, 10ml, kim tiền pḥng, kim 26½.
- Thuốc tê Dicain, Lidocain, nước muối sinh lư 0,9%.
- Chích tê cạnh cầu với Lidocain 2%, nhỏ tê Dicain mắt kia.
- Cạo bề mặt tổn thương và cạo rộng ra 1 – 2mm bằng dao 15, rửa sạch bề mặt bằng NaCl 0,9%.
- Nếu có dính mống, pḥi mống kẹt chỗ thủng, tách nhẹ nhàng bằng spatule hay kim tiền pḥng, cắt bỏ mống pḥi nếu quá bẩn.
- Nhỏ 2 – 3 giọt keo vào đĩa đựng, chấm keo bằng đầu cán nhựa của cây tăm bông.
- Một tay cầm tăm bông đă chấm keo ở đầu cán, một tay cầm tăm bông chấm thật khô tổn thương. Khi tổn thương vừa khô là chấm keo ngay một lớp thật mỏng, sau đó có thể thêm 1 – 2 lớp mỏng sau cho vừa đủ phủ chỗ khuyết mô không lan rộng ra bề mặt.
- Rửa mủ tiền pḥng nếu có, bơm hơi tái tạo tiền pḥng khi xẹp.
- Chờ 2 phút cho keo khô hoàn toàn rồi đặt kính sát tṛng mềm.
- Tiếp tục nhỏ và uống thuốc đang sử dụng.
- Khám hàng ngày trong tuần đầu, khám sau 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần, 4 tuần, 6 tuần, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng.
- Ghi nhận t́nh trạng màng keo, t́nh trạng bệnh nhân đau, viêm, kích thích, biểu mô hóa, lành sẹo, đo thị lực,... theo bảng thu thập số liệu, chụp h́nh lưu lại ở mỗi lần tái khám.
Màng ối tươi được lấy từ ngân hàng mô thuộc
Trung tâm Đào
tạo và Bồi dưỡng cán bộ
y tế TP HCM, nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc
Thạch. Màng ối được lấy và xử lư theo
đúng tiêu chuẩn của Hiệp hội ngân hàng mô Hoa Kỳ
(AATB: American Association of Tissue Banks).
- Các dụng cụ phẫu thuật dùng cho đại phẫu, sinh hiển vi phẫu thuật.
- Chỉ nylon 10.0.
- Dung dịch Lactate Ringer Hoặc NaCl 0.9%, thuốc tê Dicain, Lidocain.
- Ống chích 5 ml, 10 ml, kim tiền pḥng, kim 26 ½ để rửa mủ và bơm hơi tiền pḥng hay tách dính mống.
- Tê hậu cầu bằng Lidocain 2%.
- Gọt bớt, lấy đi các chất tiết và rửa sạch nơi tổn thương, xử lư dính mống như trên.
- Đo kích thước lỗ thủng và cắt 3-5 lớp màng ối đường kính bằng nhau lớn hơn lỗ thủng 2 mm.
- Đặt 1 mảnh màng ối xếp lại ấn vào chỗ thủng hay mỏng kiểu nhét nút.
- Đặt 2-3 lớp màng ối chồng lên nhau tùy theo nhu cầu sao cho mặt biểu mô màng ối quay lên trên, có kiểm tra bằng tăm bông xenlulô.
- Khâu mảnh ghép vào giác mạc bằng 8 mũi rời với chỉ nylon 10.0, vùi chỉ vào bề dày giác mạc. Có thể cố định 4 nốt chỉ căn bản, bơm hơi tiền pḥng nếu xẹp để dễ dàng khâu các mũi tiếp theo.
- Rửa mủ tiền pḥng nếu có, bơm hơi tái tạo tiền pḥng khi xẹp.
Theo dơi như lô dán keo, cắt chỉ khi giác mạc đă biểu
mô hóa.
Bảng 1. Đặc
điểm của các lô nghiên cứu.
|
Đặc điểm |
|
Tổng số ca (N=30) |
Lô dán keo (N=15) |
Lô ghép màng ối (N=15) |
|
Tuổi
trung b́nh ± độ lệch chuẩn (min-max) |
|
44,6± 14,9 (18- 80) |
41,5 ± 12,9 (18 - 62) |
47,7 ± 16,6 (24 -80) |
|
Tỉ lệ
nam:nữ |
|
2:1 |
4:1 |
1,1:1 |
|
Tỉ lệ
mắt phải:trái |
|
1,1:1 |
1:1,1 |
1,5:1 |
|
Nguyên nhân |
VLGM |
26 |
13 |
13 |
|
Sẹo GM |
4 |
2 |
2 |
|
|
Tác nhân |
Nấm |
14 |
6 |
8 |
|
Vi trùng |
2 |
2 |
0 |
|
|
Không t́m thấy |
14 |
7 |
7 |
|
|
H́nh thái tổn
thương |
Thủng
<2mm |
17 |
8 |
9 |
|
Thủng2mm |
5 |
2 |
3 |
|
|
Thủng
2-3mm |
2 |
1 |
1 |
|
|
Dọa thủng |
6 |
4 |
2 |
|
|
Vị trí
tổn thương |
Trung tâm |
12 |
7 |
5 |
|
Cạnh
trung tâm |
13 |
5 |
8 |
|
|
Ŕa |
6 |
3 |
2 |
- Thời gian thực hiện 1 ca dán keo tối
thiểu là 5 phút, tối đa là 15 phút, trung b́nh là 11,7 ± 3,6
phút c̣n 1 ca ghép màng ối tối thiểu là 27 phút, tối
đa là 55 phút, trung b́nh là 38,6 ± 7,9 phút. Thời gian thực
hiện dán keo ngắn hơn
ghép màng ối,
sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
(p<0,05).
-
Trước dán keo có 90,9% trường hợp có tiền
pḥng nông và xẹp với 81,8% Seidel test dương tính. Trước ghép màng ối có 92,3% trường hợp
có tiền pḥng nông và xẹp với 84,6% có Seidel test
dương tính. Trong ngày đầu sau khi
can thiệp 100% lỗ thủng giác mạc đều
được bịt kín với tiền pḥng sâu và Seidel
test âm tính. Cả keo và màng ối đều thực hiện
được chức năng
vá lỗ
thủng nhỏ, hồi phục tiền pḥng và không rỉ
dịch.
-
Thời gian lành biểu mô giác mạc sau dán keo tối thiểu
là 17 ngày, tối đa là 58 ngày, trung b́nh là 31,1 ± 10,9 ngày; sau
ghép màng ối tối thiểu là 15 ngày, tối đa là 44
ngày, trung b́nh là 27,5 ± 7,1 ngày. Thời gian trung b́nh ở lô dán
keo chậm hơn ở lô ghép màng ối, sự
khác biệt không có ư nghĩa thống kê (p>0,05).
-
Thời gian để màng keo tự tróc hoàn toàn: tối thiểu
là 22 ngày, tối đa là 118 ngày, trung b́nh là 57,8 ± 34,6 ngày. Thời
gian để màng ối tan hoàn toàn: tối thiểu là 7
ngày, tối đa là 70 ngày, trung b́nh
là 43,5 ± 21,6 ngày. Thời gian màng keo tróc hay màng ối tan
khác nhau ở mỗi trường hợp, tuy nhiên thời
gian trung b́nh khác biệt không có ư nghĩa thống kê
(p>0,05), nh́n chung dán keo ổn định sau 4 tháng, ghép màng
ối ổn định sau 3 tháng. Riêng 1 trường hợp
màng ối tan sớm trong 7 ngày khi chưa
đủ
thời gian để biểu mô giác mạc lành đă dẫn
đến thất bại, phải ghép lại lần 2 và
màng ối lại tan sớm sau đó được dán keo
th́ ổn định trong 3 tuần.
-
Các trường hợp dán keo có khuynh hướng lành sẹo
và mắt yên chậm hơn ghép màng ối: 86,67% ca
(13/15 ca) dán keo mắt yên sau 12 tuần trong khi ghép màng ối
đạt được 100% ở thời điểm
này. Khi giác mạc doạ thủng hay thủng <2 mm th́ thời
gian lành sẹo mắt yên ở 2 phương pháp khác biệt không có ư nghĩa thống kê (p>0,05). Khi giác
mạc thủng với kích thước = 2 mm th́ dán keo cho thời
gian lành sẹo mắt yên chậm hơn
ghép màng ối,
sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
(p<0,05). Không thấy có sự khác biệt về thời
gian trung b́nh lành sẹo mắt yên ở các nhóm tuổi 20 -
<40 tuổi và 40 - <60 tuổi trong từng phương pháp hay giữa 2 phương pháp trong từng nhóm tuổi
(p>0,05). Các trường hợp viêm loét giác mạc cho thời
gian lành sẹo mắt yên nhanh hơn
các trường
hợp sẹo giác mạc tái viêm nhưng
dù do nguyên nhân nào th́ dán keo cũng có khuynh hướng lành sẹo
muộn hơn ghép màng ối.
-
Thị lực trung b́nh sau dán keo tăng
có ư nghĩa thống
kê so với trước dán keo thể hiện qua thị lực
logMAR trung b́nh trước dán là 2,62 ± 0,72 và sau dán cải thiện
là 1,87 ± 1,1 (p<0,05). Thị lực trung b́nh sau ghép màng ối
cũng cải thiện so với
trước ghép nhưng khác biệt không có ư
nghĩa. Thị lực logMAR trung b́nh
sau dán keo là 1,87 ± 1,1 có khuynh hướng tốt hơn ghép màng ối 2,06 ± 1,16, nhưng sự khác biệt không có ư
nghĩa thống kê. Phương pháp dán keo cho thị lực tăng
sau mổ
là 11 (73,3%) ca so với ghép màng ối có 7 (50%) ca nhưng sự
khác biệt không có ư nghĩa thống kê (p>0,05). Có 5
(33,3%) ca ở lô dán keo và 3
(21,4%) ca ở lô ghép màng ối tăng
thị lực
≥ 2 hàng (p>0,05). Tổn
thương ở ŕa có 100% ca (3/3 ca dán
keo, 2/2 ca ghép màng ối) cho thị lực tăng. Tổn
thương ở trung tâm: dán keo có 71,4%
(5/7) ca và ghép màng ối có 60% (3/5) ca tăng
thị lực
(p>0,05). Tổn thương ở cạnh trung tâm: 60%
(3/5) ca sau dán keo cho thị lực tăng
trong khi chỉ
có 25% (2/8) ca thị lực tăng
sau ghép màng ối (p>0,05). Trong trường hợp thủng giác
mạc với kích thước <2mm, dán keo cho 6/8 (75%) ca cải
thiện thị lực trong khi ghép màng ối cho 4/8 (50%) ca tăng thị lực (p>0,05). Trong lô được ghép màng ối có 2 ca giảm thị lực với tổn thương ban đầu là thủng giác mạc ≤2mm, dán keo không có ca nào giảm thị lực.
Trong phẫu thuật: có 2 ca dính mống
sau dán keo, 2 ca ghép màng ối có ít máu tiền pḥng do kim khâu chạm
tân mạch.
Sau phẫu thuật: có 1 ca keo tróc sớm
do dính vào kính sát tṛng được dán lại ngay và kết
quả tốt, 1 ca tan màng ối sớm khi giác mạc
chưa biểu mô hóa được
ghép lần 2 vẫn thất bại sau đó dán keo và ổn
định. Sự tăng mức độ
cương tụ kết mạc sau mổ
lô dán keo 6 (40%) ca cao hơn ghép màng ối 5(35,7%) ca
nhưng sự khác biệt không có ư
nghĩa thống kê (p>0,05). Tuần
thứ 1 sau mổ có 11(73,3%) ca dán keo bị tăng cảm
giác cộm xốn so với ghép màng ối chỉ có 4(28,6%), sự khác biệt
có ư nghĩa thống kê (p<0,05). Tuần thứ 2 sau mổ 100%
trường hợp dán keo giảm cảm giác cộm xốn
so với tuần thứ 1 ở mức độ ít hơn hoặc bằng trước
mổ, trong khi ghép màng ối chỉ có 10(71,4%) ca giảm cảm
giác khó chịu này sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (p<0,05). Không có
trường hợp nào bị viêm kết mạc gai nhú khổng
lồ, tăng nhăn áp hay viêm mủ nội nhăn sau mổ.
Các đặc tính phân bố ngẫu nhiên
tương đối
đồng đều trong 2 lô nghiên cứu thuận lợi
cho việc phân tích và so sánh kết quả.
Thời gian thực
hiện dán keo ngắn hơn ghép màng ối có ư nghĩa. Phương pháp dán keo được thực hiện rất nhanh
do tính đơn giản và không đ̣i hỏi
cao về kĩ thuật, vả lại số
thao tác tiến hành cũng ít hơn so
với
phương pháp ghép màng ối. Đây là ưu điểm dễ dàng nhận thấy của phương pháp
dán keo vá lỗ thủng giác mạc nhỏ.
Ngay sau khi can thiệp 100% lỗ
thủng giác mạc đều được bịt kín,
có tiền pḥng sâu dần hoặc sau bơm hơi giữ
được bóng hơi ở 2 phương pháp. Cả keo và màng ối đều đảm nhận tốt
vai tṛ bịt kín lỗ thủng giác mạc nhỏ dưới
sự ảnh hưởng của áp lực thủy dịch
nội nhăn. Lỗ thủng kín sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho quá tŕnh lành sẹo của giác mạc
được tốt hơn.
Thời gian trung b́nh lành biểu
mô giác mạc ở lô dán keo chậm hơn ở lô ghép màng ối
nhưng sự khác biệt không có ư
nghĩa thống kê. Đối chiếu
kết quả của chúng tôi với nghiên cứu khác: Theo
tác giả Setlik D.E. (North Carolina - Mỹ)(7), thời gian
trung b́nh lành biểu mô sau dán keo là 33,4 ± 9 ngày trong khi chúng tôi
có kết quả là 31,1 ± 10,9 ngày, gần như tương đương. Theo tác giả Meller D.(5), thời gian
trung b́nh lành biểu mô sau ghép màng ối là 23,7 ± 9,8 ngày và kết
quả của chúng tôi là 27,5 ± 7,1 ngày, khác biệt không nhiều.
Theo tác giả Kazuomi H.(Nhật)(2), thời gian trung b́nh lành biểu mô sau
ghép màng ối là 16,5 ± 9,8 ngày (7 – 29 ngày) sớm hơn kết
quả của chúng tôi, có lẽ do sự khác nhau về
đặc điểm chủng tộc và sự chăm sóc sau mổ.
Thời
gian màng keo tróc hay màng ối tan khác nhau ở mỗi trường
hợp, nhưng thời
gian trung b́nh ở 2 phương pháp khác biệt không
có ư nghĩa thống
kê và nh́n chung các bệnh nhân dán keo đều ổn định
sau 4 tháng, các bệnh nhân ghép màng ối ổn định
sau 3 tháng. Sự tróc keo hay tan màng ối không chỉ phụ
thuộc vào quá tŕnh lành biểu mô, lành sẹo giác mạc mà
c̣n phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nghiên cứu
này có 1 trường hợp màng ối tan sớm trong 7 ngày
sau ghép, ghép lần 2 cũng tương tự và chưa xác định
được nguyên nhân, hậu quả là chưa đủ thời
gian để biểu mô giác mạc lành và đă dẫn
đến thất bại, rồi được dán keo và ổn
định. Phương pháp dán
keo thực sự có ưu điểm trong t́nh huống
này đặc biệt khi không có giác mạc ghép bảo tồn
ngay.
Phương pháp dán keo có khuynh hướng
lành sẹo và mắt yên chậm hơn ghép màng ối v́ màng ối ngoài
tác dụng bịt kín lỗ thủng giác mạc c̣n chứa
chất dinh dưỡng cung cấp thêm cho giác mạc tạo
thuận lợi cho quá tŕnh lành sẹo trong khi keo không có tính
chất này. Nghiên cứu của chúng tôi vào thời điểm
6 tuần và 3 tháng sau dán keo có 33,3% và 86,67% ca lành sẹo
tương đương với kết quả với
tác giả Shamar A.(Ấn Độ)(8) có 31,8% ca
và 86% lành sẹo ở cùng thời điểm. Về ghép
màng ối chúng tôi có 78,57% ca lành sẹo sau 2 tháng so với
tác giả Lê Đỗ Thùy Lan(3) là 100% do chúng tôi
thực hiện trên những ca viêm loét giác mạc c̣n tác giả
này thực hiện trên những ca thủng mất chất
do chấn thương. Thời
gian lành sẹo mắt yên tương đương nhau ở 2
phương pháp khi tổn
thương giác mạc
là loại dọa thủng hay thủng <2mm nhưng giác mạc thủng
=2mm th́ dán keo cho thời gian lành sẹo chậm hơn ghép màng ối. Những
trường hợp viêm loét giác mạc sau can thiệp cho thời
gian lành sẹo sớm hơn những
trường hợp bị sẹo giác mạc tái viêm có thể
do tiến tŕnh lành sẹo trên mô sẹo bị tổn
thương khác biệt
so với quá tŕnh lành sẹo trên mô lành cũng như trên mô loét của giác
mạc.
Thị
lực sau mổ của những bệnh nhân được
dán keo có khuynh hướng cải thiện tốt hơn những
bệnh nhân được ghép màng ối nhất là với
lỗ thủng <2mm v́ phương pháp dán keo tương đối
nhẹ nhàng, ít xâm phạm mô giác mạc xung quanh trong khi ghép
màng ối cần màng ối tương đối rộng và nhiều
nốt chỉ khâu cố định ảnh hưởng
nhiều hơn đến
thị lực. Dán keo cũng
cho cải thiện thị lực khi tổn
thương ở
trung tâm hay cạnh trung tâm.
Trong phẫu
thuật: có 2 ca dính mống sau dán keo được xử
trí bằng cách bơm hơi tiền pḥng, tách mống dính qua lỗ phụ ở ŕa
giác mạc kết quả tách được 1 ca c̣n 1 ca theo
dơi không thấy biến chứng ǵ sau 4 tháng. 2 ca ghép màng ối
có ít máu tiền pḥng do kim khâu chạm tân
mạch, máu ít tự hấp thu.
Sau
phẫu thuật: có 1 ca keo tróc sớm do dính vào kính sát tṛng
được dán lại ngay và kết quả tốt, 1 ca
tan màng ối sớm khi giác mạc chưa biểu mô hóa
được ghép
lần 2 vẫn thất bại sau đó dán keo và ổn
định. Sự tăng mức độ cương tụ kết mạc cũng như sự tăng cảm giác cộm xốn
vào tuần thứ 1 sau dán keo chiếm tỉ lệ cao
hơn so với ghép màng ối có lẽ do keo không phải mô
sinh học như màng ối nên gây kích thích hơn. Tuy nhiên, tuần thứ 2
sau mổ 100% trường hợp dán keo giảm cảm giác
cộm xốn so với tuần thứ 1 ở mức
độ ít hơn hoặc bằng trước mổ
nên bệnh nhân chấp nhận được. Không có
trường hợp nào bị viêm kết mạc gai nhú khổng
lồ, tăng nhăn áp hay viêm mủ nội nhăn sau mổ ở 2 lô.
Khi
giác mạc dọa thủng hay có lỗ thủng nhỏ
đặc biệt là <2mm, chúng ta nên lựa chọn
phương pháp dán keo bảo tồn giác mạc
v́ phương pháp này đơn giản, không đ̣i
hỏi phẫu thuật viên có nhiều kinh nghiệm lại
dễ dàng thực hiện ở cơ sở y tế
chuyên khoa Mắt có trang bị loại keo này. Mặt khác, dán
keo trên lỗ thủng <2mm vừa hiệu quả vừa
an toàn lại ít biến chứng. Phương pháp ghép màng ối vẫn là phương
pháp bảo
tồn giác mạc tốt được sử dụng
trong nhiều t́nh huống khác nhau.
3. Lê Đỗ Thùy Lan, Vũ Anh Lê, Lương Thư Hà, Nguyễn Văn Thịnh, Đinh Hữu Vân Quỳnh, Vơ Quang Hồng Điểm, Trần Việt Hằng, Lê Thành, Đặng Hồng Sơn, Trần Thị Ngọc Tuyết Mai (2007). Kết quả bước đầu ghép màng ối đông khô đa lớp điều trị thủng mất chất giác mạc do chấn thương. Tạp chí Y học TP HCM chuyên đề Mắt, Đại học Y Dược TP.HCM, tập 11(3): 18 - 23.
9. Stephen P., Frederick S. (1999). Glueing technique for Corneal perforation" Central Corneal Thinning and Perforation: 457, 462-464.
10.
Yang Ji-zhong, Li Bing , Feng Xiao, Wang Xiao-wu, Feng Ke-xiao (2000). Cyanoacrylate for
corneal perforation in