SỬ DỤNG PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUI ĐỂ XÂY DỰNG CÔNG THỨC VÀ BIỂU ĐỒ ƯỚC LƯỢNG TRỌNG LƯỢNG THAI

Vơ Minh Tuấn*, Nguyễn Thị Minh Trang**

TÓM TT

Đặt vấn đề & Mục tiêu: Ước lượng trọng lượng thai một cách chính xác luôn là mục tiêu mong muốn của nhà thực hành sản khoa v́ việc theo dơi và chọn lựa phương thức sanh thích hợp lệ thuộc phần lớn vào mức độ chính xác của trọng lượng thai. Mục tiêu nhằm xây dựng phương tŕnh ước lượng trong lượng thai tốt.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang từ 3/2009 & 8/2009 ở 472 sản phụ thai đủ tháng, tới sanh tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, được chọn ngẫu nhiên. Chúng tôi thu thập tất cả chỉ số siêu âm trước sanh 24 giờ và các dấu hiệu lâm sàng, sau đó sử dụng phương tŕnh hồi qui tuyến tính để xây dựng phương tŕnh ước lượng trong lượng thai.

Kết quả & Kết luận: Công thức Mc Donald được dùng thường xuyên trên lâm sàng thực tế có sai số rất lớn. Chúng tôi xây dựng được 2 phương tŕnh hồi qui có hệ số chính xác (R2) cao: Phương tŕnh (1) chỉ có 1 biến số độc lập dự đoán trọng lượng  thai là CVB là Y = 22,55CVB – 4142,25, phương tŕnh này đơn giản, độ tin cậy khá cao, dễ sử dụng. Phương tŕnh (2)  Y = 21,05BCTC + 21,1CVB – 4339,1  là phương tŕnh có hệ số tương quan cao nhất, tuy phải xử dụng 2 biến số bao gồm cả lâm sàng và siêu âm.

Từ khoá: Trọng lượng thai, phương tŕnh hồi qui tuyến tính.

ABSTRACT

APPLY THE LINEAR REGRESSION MODEL TO BUILD THE FORMULA AND CHART OF BIRTH WEIGHT ESTIMATION

Vo Minh Tuan, Nguyen Thi Minh Trang
* Y Hoc TP.
Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 296 - 302

Background & Objective: Birth weight estimation takes an important role for making decisions of delivery methods in OB. Our study aim is building up a good predicted formula to estimate birth weight.

Methods: A cross-sectional study conducted from March to August 2009, recruited 472 full term pregnancies that gave birth at NDGD hospital, using randomized selection. Clinical signs and ultrosound indexes were collected with 24 hour before delivery. Apply the linear regression model to build the formular and chart of birth weight estimating.

Result & Conclusion: Mc Donald equaltion that has used was inaccurate   in reality We introduced 2 birth weight estimating-formulars with significant R2: equaltion (1) Y = 22.55CVB – 4142.25 is simple, high fesibility formular. equaltion (2) Y = 21.05BCTC + 21.1CVB – 4339.1 is the formula with the best R2 regardless we have to use 2 dependent variables including clinical and ultrasound signs.

Keywords: Birth weight, linear regression model.  


ĐẶT VẤN ĐỀ


Cân nặng trẻ lúc sanh không chỉ là một trong những đánh giá quan trọng về mặt sức khỏe và t́nh trạng dinh dưỡng của bà mẹ mà c̣n đối với sự sống c̣n, tăng trưởng, phát triển thể chất, tinh thần và xă hội và của trẻ em (6). 

Ước lượng trọng lượng thai một cách chính xác luôn là mục tiêu mong muốn đạt được của các thế hệ những nhà thực hành sản khoa v́ việc theo dơi và chọn lựa phương thức sanh thích hợp lệ thuộc phần lớn vào mức độ chính xác của trọng lượng thai. Trong lịch sử thực hành sản khoa, đă có rất nhiều phương pháp lâm sàng cũng như cận lâm sàng được đề xuất nhằm ước lượng trọng lượng thai càng gần với trị số thật càng tốt. Từ các phương pháp lâm sàng cổ điển được sử dụng phổ biến như đo bề cao tử cung, ước lượng trọng lượng thai từ tuổi thai, tương quan giữa chiều cao và trọng lượng thai cho đến những phương pháp phức tạp như đo lường động năng của thai nhi khi va chạm trong tử cung đều cho thấy những sai số cũng như những khó khăn về kỹ thuật khi thực hiện.

Kể từ khi Donald và cộng sự lần đầu ứng dụng h́nh ảnh học siêu âm vào thực hành sản khoa vào năm 1958, việc chẩn đoán tiền sản và đánh giá thai trong tử cung bắt đầu phát triển mạnh mẽ và rộng khắp (7). Sử dụng siêu âm được xem như biện pháp hỗ trợ đắc lực để ước lượng trọng lượng thai nhi. Nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm t́m ra các công thức lư tưởng dùng cho việc chẩn đoán  trọng lượng thai trước sanh. Hầu hết các khảo sát này đều thực hiện xa cuộc sanh. Trong tam cá nguyệt cuối của thai kỳ, các kích thước của thai c̣n thay đổi nhiều, thường gia tăng trong ṿng 14 đến 21 ngày. V́ vậy, trọng lượng ước đoán từ những số liệu thu thập được gần cuộc sanh nhất mới có thể phản ánh trung thực nhất trọng lượng thai ở thời điểm chuyển da. Điều này hợp lư và đặc biệt quan trọng cho những thai nghi ngờ có bất xứng đầu chậu, thai to đồng thời loại bỏ những ảnh hưởng làm sai lệch kết quả ước đoán trọng lượng thai. Bên cạnh đó, đa số các khảo sát trước đây chỉ t́m mối tương quan đơn thuần hoặc giữa phương pháp lâm sàng với trọng lượng thai hoặc giữa phương pháp cận lâm sàng với trọng lượng thai, chưa kết hợp các phương pháp này lại với nhau để t́m ra một công thức ước lượng trọng lượng thai tốt nhất, mang tính ứng dụng cao.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chính

Đánh giá giá trị của các chỉ số siêu âm thai và chỉ số lâm sàng sử dụng trong ước lượng trọng lượng thai đủ tháng.

Xây dựng phương tŕnh hồi quy tuyến tính và biểu đồ ước lượng trọng lượng thai đủ tháng.

Mục tiêu phụ

So sánh công thức ước lượng trọng lượng thai thành lập được với các công thức thường sử dụng trên lâm sàng và siêu âm .

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang.

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu:  Phụ nữ có thai đủ tháng b́nh thường sống tại TP. Hồ Chí Minh.

Dân số nghiên cứu: Phụ nữ có thai đủ tháng b́nh thường đến khám và nhập viện sanh tại bệnh viện Gia Định trong thời gian tiến hành nghiên cứu.

Dân số chọn mẫu: Các sản phụ nhập viện sanh tại bệnh viện Gia Định trong thời gian nghiên cứu từ 3/2009-8/2009 đồng ư tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn nhận vào  

-        Đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần trở lên.

-        Có siêu âm ước lượng tuổi thai 3 tháng đầu thai kỳ

-        Có siêu âm thai với đầy đủ các chỉ số trong ṿng 48 giờ trước sanh.

-        Thai ngôi đầu

-        Chấp nhận tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ

-        Thai kỳ kèm theo bệnh lư nội khoa, tiền sản giật.

-        Thai có cân nặng dưới bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai.

-        Thai dị dạng.

-        Chuyển dạ giai đoạn hoạt động hay ối đă vỡ.

-        Đa ối, thiểu ối.

Cỡ  mẫu

Cỡ mẫu được tính dựa vào công thức tính cỡ mẫu để t́m hệ số tương quan.

Trường hợp chỉ có một biến số phụ thuộc và biến số độc lập:

Gọi hệ số tương quan giữa 2 biến là p:

Cỡ mẫu được tính như sau:

                N =          (5)

Trong thực tế, chúng ta không biết p, nhưng có thể ước tính qua hệ số tương quan quan sát được là r, c̣n gọi là hệ số Pearson.

Bảng 1: Số mẫu cần thiết để ước tính hệ số tương quan.

Hệ số tương quan

Số cỡ mẫu cần thiết cho power = 0,80 và

= 0,01

= 0,05

0,05

4527

3138

0,10

1128

783

 0,15

499

347

0,20

279

194

0,25

177

123

Chọn hệ số tương quan là 0,15, = 0,05, power = 0,80, hằng số C = 7,85, số cỡ mẫu tính được là N = 347.

Trường hợp nghiên cứu có một biến số phụ thuộc và nhiều biến số độc lập:

Với power = 0,80 và = 0,05, m biến số độc lập và 1 biến phụ thuộc, số lượng cỡ mẫu cần thiết tối thiểu là N > 104 + m(1).

Với m = 10, số cỡ mẫu tính được là N > 114

Chúng tôi chọn N = 347 là số cỡ mẫu lớn hơn để ước tính được hệ số tương quan với độ chính xác cao.

Phương pháp chọn mẫu

Công cụ thu thập số liệu

-        Bảng thu thập số liệu: Bảng thu thập số liệu được soạn kỹ, văn phong đơn giản, tập trung vào các biến số cần khảo sát và đă được thử nghiệm trước khi đưa vào nghiên cứu (n=30).

-        Dụng cụ đo cân nặng và chiều cao sản phụ.

-        Thước dây

-        Máy siêu âm hai chiều: ALOKA SSD1100, sản xuất tại Nhật Bản, được sử dụng tại bệnh viện từ năm 1997.

Qui tŕnh lấy mẫu

Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên sản phu thoả tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu. Họ sẽ được khám và lập bệnh án theo đúng quy tŕnh nhận bệnh tại pḥng sanh, thu thập các dữ kiện theo bảng thu thập số liệu.

Cân nặng: được đo bằng cân đo trọng lượng chuẩn tại pḥng sanh. Cân nặng trước sanh được xác định bằng cách ghi nhận cân nặng đo được trong 3 tháng đầu thai kỳ

Chiều cao, ṿng bụng, bề cao tử cung: được đo bằng thước đo chiều cao chuẩn tại pḥng sanh.

Bệnh lư nội khoa kèm: Được xác định qua bệnh sử hoặc khám lâm sàng tại thời điểm nhập viện.

Thông tin về siêu âm: Qui tŕnh siêu âm đo đạc các chỉ số như đường kính lưỡng đỉnh,  đường kính ngang bụng, đường kính trước sau bụng, chu vi bụng, chiều dài xương đùi được thực hiện trên máy siêu âm ALOKA SSD1100 tại pḥng sanh.

Các sản phụ tham gia vào nghiên cứu được giải thích về mục đích siêu âm trước khi người làm nghiên cứu thực hiện các thao tác siêu âm.

Các số đo của thai được đo đạc khi màn h́nh ở chế độ đứng yên. Đường kính lưỡng đỉnh, đường kính ngang bụng, đường kính trước sau bụng, chu vi bụng, chiều dài xương đùi được đo bằng đơn vị mm, trọng lượng thai nhi ước lượng được đo bằng đơn vị g.

Việc ước lượng trọng lượng thai trên máy siêu âm được thực hiện bằng cách sử dụng công thức Hadlock (2) và Shepard (5       ) với các chỉ số khác nhau như đường kính lưỡng đỉnh, chu vi bụng, chiều dài xương đùi.

Mức độ thống nhất kết quả siêu âm giữa người  thực hiện nghiên cứu và 1 bác sĩ siêu âm sản tại BV được thể hiện qua chỉ số Kappa. Kết quả được gọi là thống nhất giữa 2 người đo khi:          

-        Chiều dài xương đùi: sai lệch không quá 2 mm

-        Đường kính lưỡng đỉnh: sai lệch không quá 2 mm

-        Đường kính ngang bụng: sai lệch không quá  3 mm

-        Đường kính trước sau bụng: sai lệch không qua 3 mm

Kết quả về mức độ thống nhất kết quả siêu âm như sau:

Kappa (ĐKLĐ) = 1

Kappa (CDXĐ) = 0,98

Kappa (ĐKNB) = 0,97

Kappa (ĐKTSB) = 0,97

Sản phụ được theo dơi đến khi sanh. Ngay sau sanh, trẻ sơ sinh được làm rốn và cân bởi một cân đúng tiêu chuẩn tại pḥng sanh bệnh viện. Các bước lấy mẫu và thu thập thông tin được thực hiện đồng thời, không gây cản trở và ảnh hưởng lên qui tŕnh khám, nhận và theo dơi bệnh tại pḥng sanh.

Bảng thu thập số liệu sẽ được kiểm tra về mức độ hoàn tất và mức độ chính xác. Nếu không đầy đủ chúng tôi sẽ kiểm tra lại theo bệnh án và bổ sung. Nếu trong hồ sơ nghiên cứu thiếu những chi tiết (biến số) quan trọng, hồ sơ đó sẽ bị loại ra khỏi lô nghiên cứu.

KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Thời gian nghiên cứu kéo dài khoảng 5 tháng, từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 8 năm 2009, tại khoa sanh bệnh viện nhân dân Gia Định. Trong thời gian này, có 5.317 sản phụ đến sanh tại đây. Chúng tôi thu thập được 500 trường hợp thỏa theo tiêu chí chọn mẫu, loại khỏi mẫu nghiên cứu 28 trường hợp. Cỡ mẫu chính thức là 472 trường hợp. Trong đó, cỡ mẫu sử dụng cho mục tiêu chính là 418 trường hợp, cỡ mẫu sử dụng cho mục tiêu phụ là 54 trường hợp.

Bảng 2: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Đặc điểm

Tần suất (n = 418)

Tỉ lệ (%)

Nhóm tuổi mẹ     

Tuổi ≤ 19

Tuổi 20-34

Tuổi ≥ 35

Nghề nghiệp

Nội trợ

Lao động trí óc

Lao động chân tay

Tŕnh độ học vấn

Cấp 1

Cấp 2 - Cấp 3

Trên cấp 3

Tuổi thai

37 – 40 tuần

> 40 tuần

TLLS của bé

2.500 – 4.000g

> 4.000g

 

16

367

35

 

142

65

211

 

45

308

65

 

376

42

 

407

11

 

3,8

87,8

8,4

 

34,0

15,5

50,5

 

10,8

73,6

15,6

 

90,0

10,0

 

97,4

2,6

Phân tích đơn biến

Bảng 3: Liên quan giữa giới tính bé và TLTLS

Giới tính bé

CN trung b́nh ± SD (g)

Sai lệch trung b́nh (g)

t

P*

Nam

Nữ

3.239,72± 352,54

3.106,86± 333,44

 

132,86

 

3,95

 

0,00

*Kiểm định Independent Samples T Test.

Không có sự khác biệt về phân bố tỉ lệ về giới tính bé của nhóm nghiên cứu (49% - 51%).  Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác biệt cân nặng trung b́nh theo giới tính (p<0,05), cân nặng trung b́nh của các bé trai cao hơn các bé gái.

Bảng 4: Liên quan giữa tiền thai và TLLS

Tiền thai

 

CN trung b́nh ± SD (g)

Sai lệch trung b́nh (g)

t

P*

Con so

Con rạ

3.145,11 ± 355,97

3.245,11 ± 337,72

 

100

 

- 1,98

 

0,04

*Kiểm định Independent Samples T Test

Cân nặng trung b́nh của các bé nhóm con rạ cao hơn nhóm con so có ư nghĩa thống kê (P<0,05)

Bảng 5: Tóm tắt tương quan giữa các biến độc lập, liên tục với TLT

Biến số

PTHQ

Hệ số xác định R2

BMI

Y = 32,27BMI + 2369

0,02

TC

Y = 23,25MĐTC+  2879,83

0,09

VB

Y = 35,07VB – 98,34

0,25

BCTC

Y = 116,58BCTC – 511,20

0,35

ĐKLĐ

Y = 72,89ĐKLĐ – 3441,24

0,27

CDXĐ

Y = 86,37CDXĐ – 2832,81

0,25

ĐKNB

Y = 70,56ĐKNB – 4010,07

0,83

ĐKTSB

Y = 67,8ĐKTSB – 3936,25

0,85

CVB

Y = 22,55CVB – 4142,25

0,86

Bảng 6: Tương quan giữa các biến số độc lập, định lượng.

Biến số

VB

BCTC

ĐKLĐ

CDXĐ

ĐKNB

ĐKTSB

CVB

VB

1

0,56

0,36

0,31

0,44

0,47

0,46

BCTC

0,56

1

0,34

0,35

0,53

0,57

0,56

ĐKLĐ

0,36

0,34

1

0,47

0,47

0,49

0,49

CDXĐ

0,31

0,35

0,47

1

0,50

0,50

0,51

ĐKNB

0,44

0,53

0,47

0,50

1

0,95

0,98

ĐKTSB

0,47

0,57

0,49

0,50

0,95

1

0,99

CVB

0,46

0,56

0,49

0,51

0,98

0,99

1

Theo kết quả thống kê phân tích cho thấy, mức độ tương quan giữa các biến số khảo ở mức trung b́nh đến mức rất mạnh (0,31 – 0,99), các mối tương quan có ư nghĩa thống kê (p < 0,05). Hai biến số ĐKNB, ĐKTSB, CVB có mối tương quan gần như hoàn hảo (0,98 – 0,99), nếu đưa vào xây dựng PTHQ sẽ gây ra hiện tượng đa cộng tuyến. Trong đó, CVB có tương quan cao nhất với TLT (0,93). V́ vậy, chúng tôi quyết định chọn CVB và các biến VB, BCTC, ĐKLĐ, CDXĐ để đưa vào xây dựng PTHQ đa biến.

Phân tích đa biến

Sau khi khảo sát mối tương quan của các biến số đo đạc trên lâm sàng và siêu âm cũng như độ phù hợp của các phương tŕnh hồi quy đơn biến với tập dữ liệu, những biến số có hệ số tương quan với mức độ mạnh (R2≥ 0,25) được chọn lựa để đưa vào xây dựng phương tŕnh hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp chọn từng bước (Stepwise), bao gồm VB, BCTC, ĐKLĐ, CDXĐ, CVB và tiền thai. Các biến số rời như  tiền thai và giới tính (GT) có tương quan có ư nghĩa với TLT nên cũng được đưa vào phân tích đa biến. Sau khi phân tích đa biến, chúng tôi có được 5 phương tŕnh ước lượng TLT theo bảng 7. 

Bảng 7: Phương tŕnh hồi quy tuyến tính đa biến ước lượng TLT

PTHQ*

HSTQ R

Hệ số R­­­­2

Y1  = 22,55CVB – 4142,25

0,930

0,864

Y2  = 21,05BCTC + 21,1CVB – 4339,1

0,933

0,871

Y3 = 10,61ĐKLĐ + 20,31CVB + 19,61BCTC – 5000,43

0,935

0,875

Y4 = 10,26ĐKLĐ + 20,08CVB + 20,38BCTC – 39,48GT** – 4900,7

0,937

0,878

Y5 = 9,2ĐKLĐ + 19,87CVB + 16,36BCTC + 3,52VB – 43,77GT** – 4933,95

0,938

0,880

*Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp Stepwise

**GT = 0 đối với bé trai, GT =1 đối với bé gái

Phương tŕnh chọn lựa

Sau khi các phương tŕnh hồi quy tuyến tính đa biến đă được thành lập, chúng tôi chọn lựa phương tŕnh tốt nhất dựa theo các tiêu chí sau:

-        Chính xác: thể hiện qua hệ số xác định R2, cho biết độ phù hợp của phương tŕnh với dữ liệu mẫu và có sai lệch trung b́nh thấp.

-        Đơn giản và phù hợp thực hành lâm sàng: phương tŕnh càng có ít biến số càng tốt, các biến số dễ đo đạc trên lâm sàng cũng như siêu âm trước sanh.

Bước 2 của nghiên cứu là so sánh CT thành lập với các CT Johnson, Mc Donald, Hadlock, Shepard để đánh giá độ chính xác của các CT thành lập.

Shepard

1982

Log10 BW = [-1,7492 + (0,166 X BPD) + (0,046 X AC) – (0,002646 X AC X BPD)] X 1000

Hadlock II

1985

Log10 BW = 1,335 – (0,0034 XAC X FL) + (0,0316 X BPD)+(0,0457 X AC)+(0,1623 X FL)

Chúng tôi khảo sát thêm 54 đối tượng có cùng đặc điểm với nhóm đối tượng nghiên cứu.

Bảng 8: So sánh TLT ước lượng bởi các CT lâm sàng và siêu âm với TLT lúc sanh (n = 54)

CT

GTTB

 (g)

Sai lệch trung b́nh (g)

t

P*

(KTC 95%)

Hadlock

Shepard

Johnson

Mc Donald

CT (1)

CT (2)

CT (3)

CT (4)

CT (5)

3043,11

3029,42

2922,04

3157,40

3268,23

3250,51

3267,19

3265,64

3269,02

189,29

202,98

310,37

75,00

35,81

18,10

34,79

33,23

36,60

-8,21

-16,5

-9,45

-1,87

-2,10

-1,10

-2,19

-2,10

-2,29

 0,00

0,00

0,00

0,02

0,04

0,28

0,03

0,04

0,03

*Kiểm định Paired Samples T Test

Bảng 9: Tương quan giữa TLT ước lượng bởi các  CT và TLT lúc sanh (n = 54)

Biến số

HSTQ

Hệ số R2

P*

Johnson

0,66

0,43

0,00

Mc Donald

0,69

0,47

0,00

Hadlock

0,90

0,81

0,00

Shepard

0,95

0,90

0,00

CT (1)

0,95

0,88

0,00

CT (2)

CT (3)

CT (4)

CT (5)

0,95

0,96

0,96

0,96

0,90

0,92

0,92

0,92

0,00

0,00

0,00

0,00

*Kiểm định t-Student

Theo kết quả phân tích đa biến, TLT ước lượng bởi  CT (2) phù hợp đến 90% nhóm nghiên cứu. Hơn nữa, không có sự khác biệt có ư nghĩa khi so sánh TLT ước lượng với TLT thật sự của trẻ lúc sanh. Sai lệch trung b́nh giữa TLT thật sự và TLT ước lượng thấp nhất so với các CT khác.V́ vậy, chúng tôi chọn đây là PT tốt nhất theo tiêu chí chính xác nhất, tŕnh bày như sau:

Y = 21,05BCTC + 21,1CVB – 4339,1

Ví dụ: Khi chu vi bụng thai là 339 cm, bề cao tử cung mẹ là 32 cm

Cân nặng ước lượng được tính như sau:

Y = 21,05(32) + 21,1(339) – 4339,1 = 3487 (g)

TLT ước lượng bởi  CT (1) phù hợp đến 88% nhóm nghiên cứu. Hơn nữa sự khác biệt khi so sánh với TLT thật sự , độ sai lệch trung b́nh rất thấp (35,81g).

Ngoài ra, PTHQ đơn biến theo CVB đơn giản hơn các PT khác. Do đó, CT (1) cũng có thể được chọn để sử dụng trong thực hành lâm sàng theo tiêu chí chính xác, đơn giản, tŕnh bày như  sau theo công thức và biểu đồ:

Y = 22,55CVB – 4142,25

Biểu đồ 1: Liên quan giữa TLT và chu vi bụng

KẾT LUẬN 

Công thức Mc Donald được dùng thường xuyên trên lâm sàng thực tế có sai số rất lớn.

Qua nghiên cứu chúng tôi đưa ra 2 phương tŕnh hồi qui có hệ số chính xác cao: Phương tŕnh (1) chỉ có 1 biến số độc lập dự đoán TLTLS là CVB là Y = 22,55CVB – 4142,25, phương tŕnh này đơn giản, độ tin cậy khá cao, dễ sử dụng. Phương tŕnh (2)  Y = 21,05(32) + 21,1(339) – 4339,1 = 3487 (g):  là phương tŕnh có hệ số tương quan cao nhất, tuy phải xử dụng 2 biến số bao gồm cả lâm sàng và siêu âm.

Từ kết quả nghiên cứu, các CT thành lập có thể được sử dụng trên lâm sàng để ước lượng trọng lượng thai. Các CT này có thể được cài đặt trực tiếp trên máy vi tính và đưa ra kết quả về TLT ước lượng nhanh chóng. Chúng tôi đề nghị dùng phần mềm Excel để xây dựng chương tŕnh tính toán TLT. Tùy trường hợp cụ thể, các CT có thể được chọn để áp dụng. CT (1) có ưu điểm là rất đơn giản, chỉ cần đo CVB hoặc tính CVB từ ĐKNB và ĐKTSB. CT (2) được sử dụng sẽ làm tăng độ tin cậy của TLT ước lượng được.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Green SB (1991), How many subjects does it take to do a regression analysis. Multivariat Behav Res, 26: 499-510.

2.          Hadlock FP, HRB, Carpenter RJ, Deter RL, Park SK (1984). Sonographic estimation of fetal weight. Radiology, 150: 535-540.

3.          Jones SJ , CS, Harrison M (2003). An introduction to power and sample size estimation. Emerge Med J,  20: 453-458.

4.          Johnson RW, TC (1954). Estimation of fetal weight using longitudinal measuration. Am J Obstet Gynecol, 68(3): 891-896.

5.          Shepard M, FR (1982). A standardized plane for biparietal diameter measurement. J Ultrasound Med, 1: 

6.          United Nations Children's Fund and World Health Organization, Low Birthweight: Country, regional and global estimates. UNICEF and WHO, New York and Geneva, 2004: 1.

7.          Wikstrom I, AO, Bergstrom R, Meirik O (1988). Traumatic injury in large-for-date-infants. Acta Obstet Gynecol Scand . 67(3): 259–264.