Vũ Lệ Anh*, Nguyễn Thành Tâm*, Trần Thị Bích
Hương*
Mở đầu: Những rối loạn chuyển
hóa khoáng chất xương là biến chứng thường
gặp và xuất hiện sớm, làm tăng nguy cơ bệnh
tật và tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn
(BTM).
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ canxi,
phosphor và PTH huyết thanh ở những bệnh nhân BTM giai
đoạn trước chạy thận nhân tạo.
Phương pháp: Cắt ngang.
Kết quả: Nghiên cứu gồm 173 bệnh
nhân BTM giai đoạn từ 3-5 theo K/DOQI chưa được
điều trị thay thế thận. Độ thanh lọc
creatinin (ĐTLcre) ước đoán là 2,6-58 ml/phút/1,73m2
da. Canxi huyết thanh giảm (canxi huyết thanh hiệu chỉnh
8,3 ± 1,7 mg/dL), và giảm dần theo độ nặng của
suy thận. Có tương quan thuận giữa canxi hiệu
chỉnh và ĐTLcre (r = 0,169; p = 0,026). Phospho huyết thanh
(trung vị 6,4 mg/dL) tăng, và tương quan nghịch với
ĐTLcre (r = -0,568; p<0,001). Nồng độ PTH huyết
thanh (trung vị 184 pg/mL) tăng dần theo độ nặng
của suy thận (hệ số tương quan giữa PTH
và ĐTLcre r = -0,594; p<0,001). Canxi tương quan nghịch
với phospho (r = -0,208; p = 0,006). Phospho tương quan thuận
với PTH (r = 0,442; p<0,001). Tương quan giữa canxi và
PTH không có ư nghĩa thống kê (p = 0,332).
Kết luận: Những rối loạn chuyển
hóa khoáng chất xương bao gồm giảm canxi, tăng
phospho và PTH xuất hiện từ giai đoạn sớm của
BTM. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai tṛ của phospho trong
sinh bệnh học của cường tuyến cận giáp
thứ phát trong BTM và có thể ứng dụng trong thực
hành lâm sàng.
Từ khóa: bệnh thận mạn, độ
thanh lọc creatinin ước đoán, rối loạn chuyển
hóa khoáng chất xương, cường tuyến cận
giáp thứ phát, giảm canxi máu, tăng phosphat máu.
SERUM
CALCIUM, PHOSPHORUS AND PTH DISORDERS IN
PRE-DIALYSIS CHRONIC KIDNEY DISEASE
Vu Le Anh, Nguyen Thanh Tam, Tran Thi Bich Huong
* Y Hoc TP. Ho
Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 407-413
Background: Mineral metabolism disturbances were the early and common
complications associated with increasing morbidity and mortality in chronic
kidney disease (CKD).
Objectives: To investigate the serum levels of
calcium, phosphorus and PTH in patients with
pre-dialysis CKD.
Method: Cross – sectional study.
Results: 173 patients pre-dialysis CKD from stage 3 to 5 (K/DOQI guidelines)
were included. Estimated creatinin clearance (eClcr) was 2.6-58 ml/min/1.73m2.
Serum calcium (corrected serum calcium was 8.3 ± 1.7 mg/dL) was low, and
worsened with the progression of renal failure. There was a positive
correlation between serum calcium and eClcr (r=0.169; p=0.026). Serum
phosphorus (median 6.4 mg/dL) was high, and negatively correlated with eClcr (r
=-0.568; p<0.001). Serum PTH (median 184 pg/mL) increased as renal function
deteriorated (correlation coefficient between serum PTH and eClcr was -0.594;
p<0.001). Serum phosphorus was negatively correlated with serum calcium (r
=-0.208; p=0.006), but was positively correlated with serum PTH (r=0.442;
p<0.001). The correlation between serum calcium and PTH was not
statistically significant (p=0.332).
Conclusion: Mineral metabolism disturbances including hypocalcemia,
hyperphosphatemia and hyperparathyroidism began early in the course of CKD.
This study emphasized the role of phosphorus in physiopathology of secondary
hyperparathyroidism in CKD, which could have some clinical implications.
Keywords: chronic kidney disease, estimated creatinine clearance, mineral
metabolism disturbance, secondary hyperparathyroidism, hypocalcemia,
hyperphosphatemia.
Những rối loạn
chuyển hóa khoáng chất xương bao gồm tăng
phospho, giảm canxi huyết thanh và cường tuyến cận
giáp thứ phát hiện diện từ giai đoạn sớm
của BTM. Chức năng thận suy giảm làm tích tụ
phosphate, cùng với sự giảm tổng hợp 1,25
dihydroxy vitamin D làm giảm hấp thu canxi từ ruột non
gây giảm canxi máu, hậu quả cuối cùng là gây cường
tuyến cận giáp thứ phát. Rối loạn chuyển
hóa khoáng chất ở bệnh nhân BTM không chỉ gây loạn
dưỡng xương, mà c̣n làm tăng vôi hóa thành mạch
máu, liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nhồi
máu cơ tim và tử vong do nguyên nhân tim mạch (1,2,6). Nghiên cứu
của chúng tôi khảo sát nồng độ canxi, phospho và
PTH huyết thanh ở những bệnh nhân BTM tại Việt
Nam, nhằm góp phần phác họa một bức tranh sơ
khởi về một rối loạn chuyển hóa quan trọng
và thường gặp, ngày càng được quan tâm trên
toàn thế giới(12,14,17).
Cắt ngang.
Khảo sát nồng
độ canxi, phospho và PTH huyết thanh ở những bệnh
nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3, 4 và 5.
Bệnh nhân nhập
viện khoa Thận BV Chợ Rẫy, hoặc đang theo
dơi tại pḥng khám Thận BV Chợ Rẫy, pḥng khám Thận
BV Đại học Y dược TP HCM từ 2006-2008.
Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh
thận mạn giai đoạn từ 3-5 theo K/DOQI 2002. Tiêu
chuẩn loại trừ: đă hoặc
đang được điều trị thay thế thận,
cường tuyến cận giáp nguyên phát, suy thận cấp,
đang được điều trị với canxi,
vitamin D hoặc chất gắn phosphat.
Định lượng
creatinin huyết thanh bằng phương pháp Jaffe. Độ
thanh lọc creatinin ước đoán từ công thức
Cockroff Gault: ĐTLcre = (140-tuổi) x cân nặng/(72 x creatinin
máu) (mL/phút). Trong đó tuổi tính bằng năm; cân nặng
tính bằng kg; creatinin máu tính bằng mg/dL. Hiệu chỉnh
ĐTLcre theo diện tích da cơ thể (DTDCT) bởi công thức
ĐTLcre hiệu chỉnh = ĐTLcre x 1,73/DTDCT (mL/phút/1,73 m2
da).
Ba nhóm chức
năng thận trong nghiên cứu được xác định
theo phân loại các giai đoạn bệnh thận mạn của
K/DOQI 2002: giai đoạn 3 có ĐTLcre 30-59 mL/phút/1,73 m2
da; giai đoạn 4 có ĐTLcre 15-29 mL/phút/1,73 m2 da;
giai đoạn 5 có ĐTLcre <15 mL/phút/1,73 m2 da.
Định lượng
intact PTH huyết tương bằng phương pháp miễn
dịch men (ELISA). Bộ xét nghiệm ACTIVE I-PTH ELISA của
hăng DSL. Định lượng phospho huyết thanh bằng
phương pháp (U.V method). Định lượng canxi toàn
phần bằng phương pháp so màu. Canxi hiệu chỉnh
được tính bằng công thức: Canxi hiệu chỉnh
(mEq/L) = Canxi đo được (mEq/L)+ 0,8 x (4-albumin huyết
thanh(g/dL))
Chúng
tôi lấy ngưỡng b́nh thường của canxi, phospho
và PTH huyết tương theo khuyến cáo của K/DOQI (16): ngưỡng b́nh thường của
canxi ở nhóm BTM giai đoạn 3 và 4 là 8,8-10,4 mg/dL; giai
đoạn 5 là 8,4-9,5 mg/dL. Ngưỡng b́nh thường của
phospho ở nhóm BTM giai đoạn 3 và 4 là 2,7-4,6 mg/dL; giai
đoạn 5 là 3,5-5,5 mg/dL. Ngưỡng PTH b́nh thường
ở nhóm BTM giai đoạn 3 là 35-70 pg/mL; giai đoạn 4
là 70-110 pg/dL; giai đoạn 5 là 150-300 pg/mL.
Dữ
liệu được tŕnh bày dưới dạng trung b́nh
± độ lệch chuẩn nếu biến có phân phối
chuẩn; hoặc trung vị [giá trị tối thiểu;giá
trị tối đa] nếu biến không có phân phối chuẩn.
Đối với biến có phân phối chuẩn, kiểm
định sự khác biệt giữa các số trung b́nh bằng
phép kiểm định phương sai ANOVA. Kiểm định
Krukall-Wallis dành cho các biến không có phân phối chuẩn. Biến
số không có phân phối chuẩn sẽ được
logarit hóa để phân tích tương quan. Mức ư
nghĩa p<0,05. Các phép kiểm thống kê sử dụng phần
mềm SPSS 15 for Windows.
Nghiên
cứu bao gồm 173 bệnh nhân với tuổi trung b́nh 53
(từ 16-84 tuổi); 87 nam và 86 nữ. Không có sự khác biệt
có ư nghĩa về mặt tuổi và giới tính giữa các
nhóm giai đoạn BTM. Số bệnh nhân BTM giai đoạn
3 là 18 người, giai đoạn 4 là 29 và giai đoạn
5 là 126 người. ĐTL creatinin dao động từ
2,6-58 ml/phút/1,73 m2 da, 50% số bệnh nhân có ĐTL
creatinin dưới 9,4 ml/phút/1,73 m2. Các thông số
canxi, phospho và PTH đều có sự biến động.
Canxi huyết thanh hiệu chỉnh (theo albumin) 8,3 ± 1,7 mg/dL.
Phospho huyết thanh tăng với trung vị 6,4 mg/dL (dao
động từ 1,1-18,3 mg/dL). PTH huyết thanh cũng
tăng cao, trung vị 184 pg/mL, dao động từ 12-1805
pg/mL.
Bảng
1: Một
số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của
mẫu nghiên cứu
|
Tỷ lệ Các |
Dân số chung (n=173) |
Các giai đoạn
BTM [ĐTLcre] (ml/phút/1,73m2
da) |
p |
||
|
GĐ3 [30-59] (n=18) |
GĐ4 [15-29] (n=29) |
GĐ5 [<15] (n=126) |
|||
|
Giới (nam, nữ)* |
87 (50,3%) |
9 |
16 |
62 |
0,845# |
|
86 (49,7%) |
9 |
13 |
64 |
||
|
Tuổi (năm)+ |
53 ± 16,4 |
49 ± 16,4 |
58 ± 15,3 |
53 ± 16,5 |
0,136## |
|
Creatinin (mg/dL)$ |
6,7 [1,1-26,4] |
1,6 [1,1-2,5] |
2,8 [2-6,5] |
9,1 [3,1-26,4] |
<0,001### |
|
ĐTLcre (mL/phút/1,73 m2
da)$ |
9,4 [2,6-58] |
41 [29-58] |
23 [14-28] |
7 [2,6-17,5] |
<0,001### |
|
Albumin (g/dL)+ |
3,7 ± 0,7 |
3,5 ± 0,8 |
3,9 ± 0,8 |
3,7 ± 0,6 |
0,14## |
|
Canxi hiệu chỉnh (mg/dL)+ |
8,3 ± 1,7 |
8,8 ± 1,5 |
8,5 ± 2,4 |
8,1 ± 1,5 |
0,18## |
|
Phospho (mg/dL)$ |
6,4 [1,1-18,3] |
4,3 [2,1-7,2] |
4,2 [1,1-18] |
7,4 [2,7-16] |
<0,001### |
|
Tích số Ca.P* |
52,7 ± 22,4 |
35,7 ± 11,5 |
39,8 ± 20 |
58 ± 21,7 |
<0,001## |
|
PTH (pg/mL)$ |
184 [12-1805] |
47 [14-237] |
89 [12-459] |
276 [28-1805] |
<0,001### |
Chú thích: kết quả
được tŕnh bày dưới dạng *: số
bệnh nhân (tỉ lệ phần trăm); +: trung
b́nh ± độ lệch chuẩn; $: trung vị [giá
trị tối thiểu-giá trị tối đa]. #:
phép kiểm Chi-square; ##: phép kiểm one-way ANOVA; ###:
phép kiểm
Kruskall-Wallis.
Nồng
độ canxi huyết thanh giảm dần theo sự suy giảm
chức năng thận. Canxi huyết thanh trung b́nh ở
nhóm BTM giai đoạn 3 là 8,8 mg/dL; ở nhóm BTM giai đoạn
4 là 8,5 mg/dL; nhóm BTM giai đoạn 5 là 8,1 mg/dL (p=0,18). Phospho
huyết thanh tăng dần từ 4,3 mg/dL ở nhóm BTM giai
đoạn 3; 4,2 mg/dL ở nhóm BTM giai đoạn 4; đến
7,4 mg/dL ở nhóm BTM giai đoạn 5 (p<0,001). PTH huyết
thanh tăng từ 47 pg/mL ở nhóm BTM giai đoạn 3; 89
pg/mL ở nhóm BTM giai đoạn 4 và 276 pg/mL ở nhóm BTM
giai đoạn 5 (p<0,001).
Giảm
canxi, tăng phospho và cường tuyến cận giáp thứ
phát biểu hiện càng rơ rệt khi suy thận càng nặng.
Tỉ lệ bệnh nhân có giảm canxi huyết thanh là 25% ở
BTM giai đoạn 3 và 55% ở nhóm BTM giai đoạn 4,
tăng đến 64% ở BTM giai đoạn 5. Trong nhóm BTM
giai đoạn 3, có 44% tăng phospho huyết thanh, nhóm giai
đoạn 5 tỉ lệ này tăng đến 88%. Nhóm BTM
giai đoạn 5 cũng có tỉ lệ bệnh nhân tăng
PTH (49%) cao hơn các nhóm BTM giai đoạn 3 và 4 (33% và 34%).
Có 24% bệnh nhân nhóm BTM giai đoạn 5 có tích số Ca.P
trên 70 mg2/dL2, cao hơn so với các nhóm BTM
giai đoạn c̣n lại (nhóm BTM giai đoạn 3 là 0%; giai
đoạn 4 là 7%) (h́nh 1, 2, 3, 4).

H́nh
1:
Phân tầng Canxi theo giai đoạn BTM

H́nh
2:
Phân tầng Phospho theo giai đoạn BTM

H́nh
3:
Phân tầng PTH theo giai đoạn BTM

H́nh
4:
Phân tầng tích số Ca.P theo giai đoạn BTM
Nghiên cứu cũng
cho thấy mối tương quan giữa canxi, phospho và PTH
huyết thanh với chức năng thận. Canxi huyết
thanh tương quan thuận với ĐTLcre (r = 0,169; p =
0,026). Phospho và PTH tương quan nghịch với ĐTLcre
(r = - 0,568 và r = -0,594; p <0,001) (bảng 2).
Bảng
2:
Tương quan giữa canxi, phospho và PTH huyết thanh với
Lg(ĐTLcre)
|
Thông số |
Hệ số
tương quan Pearson |
Mức ư nghĩa p |
|
Canxi hiệu chỉnh |
0,169 |
0,026 |
|
Lg(phospho) |
- 0,568 |
<0,001 |
|
Lg(PTH) |
- 0,594 |
<0,001 |
Xét mối liên hệ
giữa canxi, phospho và PTH huyết thanh chúng tôi nhận thấy:
canxi có tương quan nghịch với phospho (r = -0,208; p =
0,006), phospho có tương quan thuận với PTH (r =0,442;
p<0,001), nhưng không t́m thấy mối tương quan có
ư nghĩa giữa canxi và PTH
(bảng 3).
Bảng
3:
Tương quan giữa các thông số canxi, phospho và PTH
|
Biến số |
Hệ số
tương quan Pearson |
Mức ư nghĩa p |
|
|
Tương
quan với Lg(PTH) |
|
|
Canxi hiệu chỉnh |
-0,074 |
0,332 |
|
Lg(Phospho) |
0,442 |
<0,001 |
|
|
Tương quan với
Lg(phospho) |
|
|
Canxi hiệu chỉnh |
- 0,208 |
0,006 |
|
Ca hiệu chỉnh |
|
|
|
Lg(ĐTLcre) |
H́nh
5:
Tương quan giữa canxi hiệu chỉnh và Lg(ĐTLcre)
r = 0,169; r2 = 0,029; p = 0,026
|
LgPhospho |
|
|
|
Lg(ĐTLcre) |
H́nh
6:
Tương quan giữa LgPhospho và Lg(ĐTLcre) r = -0,568; r2 =
0,322; p<0,001
|
LgPhospho |
|
|
|
Lg(PTH) |
H́nh
7:
Tương quan giữa Lg(PTH) và Lg(ĐTLcre) r = -0,594; r2 =
0,353; p<0,001
|
Lg(PTH) |
|
|
|
Lg(ĐTLcre) |
H́nh
8:
Tương quan giữa LgPhospho và Lg(PTH) r = 0,442; r2 = 0,196;
p<0,001
Phương tŕnh hồi
quy: Lg(PTH) = 1,053 x Lg(Phospho) + 0,37
Qua khảo sát 173 bệnh
nhân BTM giai đoạn từ 3-5, với ĐTL creatinin từ
2,6-58 ml/phút/1,73 m2 da, chúng tôi nhận thấy, chức
năng thận giảm càng nhiều th́ những rối loạn
chuyển hóa canxi, phospho và cường tuyến cận giáp
thứ phát càng rơ rệt. Canxi giảm, phospho và PTH huyết
thanh tăng theo mức độ suy chức năng thận;
khuynh hướng rối loạn này phù hợp với sinh
lư bệnh và những nghiên cứu đă từng được
thực hiện trước đây (4,8,13). Trong nghiên cứu của chúng tôi, gần
30% bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3 có
giảm canxi huyết thanh và con số này tăng đến
65% ở nhóm BTM giai đoạn 5. Nồng độ canxi huyết
thanh giảm càng nhiều khi suy thận càng nặng (hệ
số tương quan giữa canxi và Lg(ĐTLcre) r = 0,169; p
= 0,026). Sự tích tụ phospho bắt đầu từ giai
đoạn sớm của bệnh thận mạn (giai
đoạn 2). Với mỗi 1 mg/dL tăng phospho huyết
thanh trên 35 mg/dL, nguy cơ tử vong tăng 44% (11). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ
lệ bệnh nhân có tăng phospho là 44% ở nhóm BTM giai
đoạn 3, lên đến 88% ở nhóm BTM giai đoạn
5. Suy thận càng nặng th́ phospho huyết thanh càng tăng
cao (hệ số tương quan giữa Lg(Phospho) và
Lg(ĐTLcre) r = 0,568; p<0,001).
Cường tuyến cận giáp thứ phát là biểu hiện
thường gặp ở bệnh thận mạn, xuất
hiện sớm từ BTM giai đoạn 2. PTH tăng càng
cao theo mức độ nặng của suy chức năng
thận. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, nồng
độ PTH huyết thanh tăng (số bệnh nhân có
tăng PTH chiếm tỉ lệ 33% ở nhóm BTM giai đoạn
3 và lên đến 49% ở nhóm BTM giai đoạn 5) và
tương quan nghịch với ĐTLcre (r = 0,594;
p<0,001)(3,19). Chúng tôi dựa vào hướng dẫn của
K/DOQI để phân tầng các ngưỡng tăng, giảm
hoặc b́nh thường của các thông số canxi, phospho
và PTH, cũng như tích số Ca.P. Kết quả nghiên cứu
cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có tích số Ca.P trong
ngưỡng b́nh thường th́ cao hơn nhiều so với
tỉ lệ bệnh nhân có canxi và phospho nằm trong giới
hạn b́nh thường, và ngưỡng b́nh thường của
tích số Ca.P là dưới 70 mg2/dL2 có thể
không phù hợp. V́ những rối loạn về canxi,
phospho và PTH biểu hiện rơ trong nghiên cứu của chúng
tôi trên nhóm BTM giai đoạn 3, 4 và 5; tầm soát những rối
loạn chuyển hóa này nên được thực hiện
từ những giai đoạn bệnh thận sớm
hơn.
Những giả thuyết
về sinh lư bệnh và những nghiên cứu lâm sàng kiểm
chứng cho thấy mối liên hệ phức tạp giữa
canxi, phospho và PTH trên bệnh nhân BTM. Chúng tôi phân tích kết
quả nghiên cứu, nhằm t́m ra mối liên hệ này,
cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng
lên nồng độ PTH huyết thanh.
Ở bệnh nhân bệnh
thận mạn, sự thiếu hụt men 1α hydroxylase (của
tế bào biểu mô ống thận) dẫn đến giảm
tổng hợp 1,25 dihydroxy vitamin D, gây giảm hấp thu
canxi từ ruột, hậu quả là giảm canxi trong máu. Mặc
dù có đáp ứng bù trừ bằng cách tăng hấp thu
canxi phụ thuộc gradient nồng độ, canxi huyết
thanh vẫn giảm từ bệnh thận mạn giai
đoạn 3. Giảm canxi sẽ kích thích hoạt động
tuyến cận giáp để làm tăng hấp thu từ
xương, tăng tái hấp thu canxi từ thận giúp ổn
định nồng độ canxi trong máu, nhưng cơ chế
này không đủ để giải thích cường tuyến
cận giáp thứ phát rất thường gặp ở bệnh
nhân bệnh thận mạn(16). Nghiên cứu của chúng tôi không t́m thấy
mối tương quan giữa canxi và PTH huyết thanh, chứng
tỏ có những cơ chế khác mạnh hơn trong sinh bệnh
học cường tuyến cận giáp thứ phát mà trong
đó phải kể đến 1,25 dihydroxy vitamin D.
Phospho huyết thanh
tăng dần theo tiến triển của suy chức
năng thận, và đóng vai tṛ quan trọng trong cơ chế
bệnh sinh của cường tuyến cận giáp thứ
phát(9,10,15). Cơ chế phức tạp bao gồm:
(1) tăng phospho trực tiếp kích thích hoạt động
của tuyến cận giáp; (2) sự tích tụ phospho làm
tăng FGF-23 (cao 100 lần trên ngưỡng b́nh thường),
yếu tố này ức chế sự tổng hợp 1,25
dihydroxy vitamin D, làm giảm canxi trong máu gây cường tuyến
cận giáp; (3) phospho huyết thanh tăng gây ức chế
thụ thể nhạy cảm canxi có mặt trong tế bào
tuyến cận giáp, ngoài ra c̣n gây đáp ứng điều
chỉnh xuống của các thụ thể này. Tuyến cận
giáp sẽ tăng tiết PTH ngay cả khi nồng độ
canxi huyết thanh trong ngưỡng b́nh thường. Nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy có sự tương quan
nghịch giữa canxi với phospho (r=-0,208; p=0,006); tương
quan thuận giữa phospho và PTH (r=0,442; p<0,001) nhưng
tương quan giữa canxi và PTH lại không có ư nghĩa thống
kê. Kết quả này nhấn mạnh vai tṛ của tích tụ
phospho trong sinh bệnh học của cường tuyến
cận giáp thứ phát, cũng như vai tṛ của các biện
pháp hạ phospho máu, cùng với những biện pháp điều
trị khác, nhằm hạn chế những tác hại của
những rối loạn về xương và khoáng chất
do BTM (ngoài nguy cơ gây loạn dưỡng xương do
thận, những bất thường khoáng chất
xương c̣n góp phần làm suy thận tiến triển nhanh
hơn, tăng nguy cơ vôi hóa ngoài xương, gia tăng tỉ
lệ bệnh tật và tử vong do nguyên nhân tim mạch) (5,7,10,18).
Hạn chế của
nghiên cứu: (1) có sự mất cân bằng về cỡ mẫu
trong từng giai đoạn BTM. Nhóm BTM giai đoạn 3 và 4
là 18 và 29 bệnh nhân, trong khi đó nhóm BTM giai đoạn 5
chiếm ưu thế với 126 bệnh nhân, (2) Chúng tôi dựa
vào trị số creatinin của 1 lần xét nghiệm để
đánh giá chức năng thận, do đó có nguy cơ sai lầm
trong phân giai đoạn BTM, (3) nghiên cứu của chúng tôi
chỉ tập trung phân tích các thông số canxi, phospho và PTH
huyết thanh mà không chú trọng đến các yếu tố
lâm sàng và cận lâm sàng khác có thể ảnh hưởng lên
các kết quả này.
Ứng dụng lâm
sàng và hướng nghiên cứu trong tương lai: (1) các
thông số canxi, phospho và PTH huyết thanh có những biến
động ngay từ giai đoạn sớm của BTM, v́
vậy nên đánh giá toàn bộ về rối loạn chuyển
hóa các khoáng chất này ngay từ bệnh thận mạn
giai đoạn sớm, ít nhất là từ giai đoạn
3, (2) v́ xét nghiệm PTH tương đối phức tạp
hơn, và không phải luôn sẵn có tại các cơ sở
y tế, định lượng canxi và phospho nên được
thực hiện trước tiên, dự đoán PTH huyết
thanh dựa vào mô h́nh tương quan giữa phospho và PTH
để từ đó có quyết định điều
trị đúng, (3) trong tương lai, cần những
nghiên cứu về rối loạn canxi, phospho và PTH ở những
bệnh nhân BTM giai đoạn sớm hơn và thậm chí
là những nghiên cứu tiến cứu, can thiệp nhằm
xác định thời điểm bắt đầu điều
trị, cũng như ngưỡng mục tiêu tốt nhất
để giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong.
3. De Boer IH, Gorodetskaya I, Young B, Hsu CY, Chertow GM (2002). The severity of secondary hyperparathyroidism in chronic renal insufficiency is GFR-dependent, race-dependent, and associated with cardiovascular disease, J Am Soc Nephrol, 13(11):2762-2769.
10. Isakova T, Gutiérrez OM, Wolf M (2009). A blueprint for randomized trials targeting phosphorus metabolism in chronic kidney disease, Kidney Int, 76(7):705-716.
19. Stavroulopoulos A, Porter CJ, Roe SD, Hosking DJ, Cassidy MJD (2008). Relationship between vitamin D status, parathyroid hormone levels and bone mineral density in patients with chronic kidney disease stage 3 and 4, Nephrology, 13(1):62-67.
*
Bộ môn Nội Tổng quát, khoa Y - Đại học Y
Dược Tp.Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ:
BS. Vũ Lệ Anh ĐT: 0908828916 Email: vuleanh@gmail.com