Đặng Đỗ
Thanh Cần*, Lại Huỳnh Thuận Thảo* ,
Trần
Hoàng Ngọc Anh*, Phạm Anh Tuấn*,
Vơ Văn Nho**, Vơ Tấn Sơn*
Mục tiêu: Đánh giá vai tṛ của phẫu thuật nội
soi trong điều
trị u vùng tuyến tùng.
Phương
pháp: Nghiên cứu tiền
cứu trên 24 bệnh nhân u vùng tuyến tùng đă được điều trị tại BV Chợ Rẫy
từ tháng 10 – 2006 đến tháng 10 - 2009. Tất cả bệnh
nhân đều có dăn năo thất. Phẫu thuật nội soi
mở thông sàn năo thất III và sinh thiết u được
thực hiện trong cùng một th́ mổ.
Kết quả: Đầu nước được
kiểm soát 87,5% trường hợp với thời gian
theo dơi trung b́nh là 24 tháng. Tỉ lệ sinh thiết
dương tính là 91,7%. Biến chứng tạm thời là 21%,
không có di chứng thần kinh vĩnh viễn. Tử vong là 4,2%.
Kết luận: Ngày nay, với ứng dụng phẫu
thuật nội soi cho u vùng tuyến tùng cho thấy ưu điểm
rơ rệt, tránh được những trường hợp
mổ hở hay xạ trị mù không cần thiết và cải
thiện tiên lượng điều
trị.
Từ khóa: u vùng tuyến
tùng, đầu nước, nội soi thần kinh, u mầm
bào, mở thông năo thất.
ENDOSCOPIC
THIRD VENTRICULOSTOMY AND BIOPSY OF PINEAL REGION TUMORS
Dang
Do Thanh Can, Lai Huynh Thuan Thao, Tran Hoang Ngoc Anh, Pham Anh Tuan, Vo Van
Nho, Vo Tan Son * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 214
- 218
Object: The purpose of this report
is to evaluate the role of neuroendoscopic procedures in the management of
pineal region tumors.
Methods: This prospective
study is based on a consecutive series of 24 patients with pineal region tumors
who were admitted in Cho Ray hospital from Oct 2006 to Oct 2009. All the
patients had hydrocephalus. The neuroendoscopic surgery was first applied for
third ventriculostomy and followed tumor biopsy in a single sitting.
Results: Hydrocephalus
was controlled by 87,5% in mean 24 months. The
successful ratio of biosy was 91,7%. The temporary
complication rate was 21% with no permanent morbidity. The mortality rate was 4,2%.
Conclusions: Today, neuroendoscopic surgery was applied in treatment of pineal region tumors as the initial strategy, avoiding unnecessary craniotomy and blind radiotherapy and promising excellent therapeutic outcomes.
Keywords: pineal region tumors, hydrocephalus, neuroendoscopy,
germinoma, ventriculostomy

U vùng tuyến tùng là những
loại u khá hiếm gặp.
U thường gặp ở trẻ em, chiếm 3-8% u năo trẻ
em(9). Giải phẫu bệnh lư rất
đa dạng(6,9), có khi hoàn
toàn lành tính, có khi rất ác tính (có trên 17 loại mô học).
Có hai vấn đề lớn đă được
đặt ra: một là giải quyết t́nh trạng đầu
nước đi kèm do khối u gây tắc
cống năo, hai là chẩn đoán giải phẫu
bệnh lư để lựa chọn điều trị thích hợp cho từng loại
sang thương. Quan điểm điều trị các loại
u ở vùng này cho đến ngày nay vẫn c̣n nhiều bàn cải.
Với u vùng tuyến tùng, trên 90% bệnh nhân nhập
viện v́ triệu chứng của đầu nước
do khối u gây tắc cống năo(6). Hiện nay, nội soi mở thông
sàn năo thất III được xem là phương
pháp thay thế dẫn
lưu năo thất – xoang phúc mạc (VP shunt) hiệu quả với
tỉ lệ thành công khoảng 80 – 85%(11).
Từ những
thất bại của mổ trực tiếp vào vùng tuyến
tùng với tỉ lệ tử vong rất cao 50 – 90% những
năm 1930(6,11). Xạ trị “mù” một cách
thường qui được xem là trị liệu tiêu chuẩn
được khởi xướng bởi Toldkidsen năm 1948
kéo dài đến
năm 1980(6,11). Sau đó, có hàng loạt những báo cáo về
tác dụng phụ của xạ trị trên những bệnh
nhân u vùng tuyến tùng như giảm chỉ số thông minh, tăng tần suất u màng năo, giảm
tri giác, suy trục hạ đồi – tuyến yên… Hơn nữa, khoảng 35 – 50% u vùng
này là lành tính hoàn toàn hay kém nhạy với tia xạ nên việc
xạ trị thường qui là không thích hợp(1,6,9,11). Từ đó, vấn đề chẩn
đoán giải phẫu
bệnh lư trở nên rất quan trọng, quyết định
chiến lược điều
trị.
Hiện nay, nội soi sinh thiết u vùng tuyến tùng được ứng dụng rộng răi, là phương pháp điều trị ít xâm lấn trong phác đồ đa trị liệu cho các sang thương vùng này.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: bệnh nhân u vùng tuyến
tùng có dăn năo thất, chưa được điều trị đặc hiệu ǵ trước
đó.
1. Bệnh nhân đă được đặt dẫn lưu dịch năo tuỷ trước đó.
2. U vùng tuyến tùng không
dăn năo thất.
3. Bề rộng năo thất
III < 8 mm.
4. U xâm lấn phần lớn
năo thất III gây tắc cả 2 lổ Monro.
5. U
có di căn vùng trên yên.
6. Các nang màng nhện vùng tuyến tùng.
Đây là một
nghiên cứu tiền cứu mô tả hàng loạt ca. Bệnh
nhân nhập viện được thu thập các dữ kiện
lâm sàng, h́nh ảnh học trước, sau mổ. Các chất
đánh dấu u
như αFP, ßHCG được thử trong máu
và dịch năo tuỷ. Phân tích số liệu trên phần mềm
SPSS 13.0.
Chúng
tôi sử dụng hệ thống nội soi thần kinh của
hăng AESCULAP:
-
Trocar
dài 20 cm, đường kính ngoài 6 mm.
-
Ống
nội soi cứng MINOP dài 21cm, đường kính 2,7mm có
nhiều góc nh́n: 0, 30,70 độ.
Chúng tôi chỉ tạo một điểm vào cho cả hai phẫu thuật.
Vị trí lổ khoan sọ nằm trên đường giữa
đồng tử, trước khớp vành 2 cm, phía bên bán cầu
không ưu thế
hoặc bên có năo thất dăn rộng hơn. Ống nội soi được
đưa vào năo thất
bên đến lổ Monro, vào năo thất III. Chúng tôi mở
thông sàn năo thất III bằng đầu ống thông Forgaty
4F và nong rộng bằng bóng. Sau đó, xoay ống nội soi 180 độ
ra sau để sinh thiết u. Chảy máu trong mổ
được xử trí bằng đốt điện lưỡng cực và bơm rữa nước liên tục. Dẫn
lưu năo thất ra ngoài
chỉ đặt trong một số trường hợp
chảy máu nhiều, khó kiểm soát.
Trong 24 bệnh nhân nghiên cứu có độ
tuổi từ 2 – 56 tuổi, trung b́nh 22,3 tuổi. Chủ yếu
là hai thập niên đầu tiên 54,1%.
Tỉ
lệ nam/nữ = 2,3/1
|
Giảm thị lực
|
BN |
Tỉ lệ (%) |
|
Mù, BBT |
4 |
17,4 |
|
< 5/10 |
4 |
17,4 |
|
5/10 – 9/10 |
9 |
39,1 |
|
10/10 |
6 |
26,1 |
|
Cộng |
23 |
100 |
*BBT:
bóng bàn tay
Giảm thị
lực khá phổ biến (70,8%). Có 1
trường hợp em bé 2 tuổi chúng tôi không thể
đo thị lực do bé không hợp tác. Thị lực
được đánh giá theo bảng
Snellen. Có 2 bệnh nhân bị mù, 2 bệnh nhân chỉ thấy
bóng bàn tay ở khoảng cách 0,4 - 1m. Cả 4 trường hợp này đều bị
teo gai thị hoàn toàn. Thị lực <
5/10 có 4 trường hợp, từ 5/10 đến 9/10 có 9
trường hợp. Tất cả đều
có phù gai thị. Chỉ có 1/6 trường
hợp thị lực 10/10 có phù gai thị.
|
Sau mổ Trước mổ |
Không thay đổi |
Tốt hơn |
Xấu hơn |
Cộng |
|
Mù, BBT |
2 |
0 |
2 |
4 |
|
< 5/10 |
0 |
2 |
2 |
4 |
|
5/10 – 9/10 |
0 |
7 |
0 |
7 |
|
10/10 |
6 |
0 |
0 |
6 |
|
Cộng |
8 |
9 |
4 |
21 |
Nhóm trước mổ và sau mổ < 1 tháng.
|
Chỉ số |
Trước mổ
(mm) |
Sau mổ < 1 tháng
(mm) |
|
FH |
54,70 |
49,20 |
|
FH/ID |
0,53 |
0,47 |
|
Evan |
0,39 |
0,39 |
|
TH |
12,20 |
11,20 |
|
NT_III |
16,90 |
14,50 |
Nhóm trước mổ và sau mổ > 1 tháng.
|
Chỉ số |
Trước mổ
(mm) |
Sau mổ > 1 tháng
(mm) |
Giảm (%) |
|
FH |
55,14 |
45,10 |
27 |
|
FH/ID |
0,50 |
0,43 |
26 |
|
Evan |
0,39 |
0,29 |
27 |
|
TH |
12,85 |
4,71 |
63 |
|
NT_III |
16,71 |
7,71 |
53 |
FH:
khoảng cách giữa hai sừng trán.
ID: đường kính giữa hai bảng
trong xương sọ.
Evan: chỉ số Evan.
TH: bề rộng sừng thái dương.
NT_III: bề rộng năo thất III.
Kết quả phân tích (bảng 5, 6) cho thấy sau mổ < 1 tháng kích thước năo thất nhỏ lại không đáng kể (p > 0,05). Tuy nhiên, sau mổ > 1 tháng (trung b́nh 4,8 tháng) kích thước năo thất đă nhỏ lại 26 – 63% (T test, p < 0,001). Đặc biệt là bề rộng sừng thái dương và năo thất III giảm rơ rệt nhất (53 – 63%), nhiều trường hợp đă trở về b́nh thường hoàn toàn.
|
Chỉ số |
Trước mổ
(mm) |
Sau mổ (mm) |
|
FH |
45,66 |
51 |
|
FH/ID |
0,45 |
0,46 |
|
Evan |
0,33 |
0,36 |
|
TH |
10,66 |
14,33 |
|
NT_III |
17,66 |
18,33 |
Có 3 trường hợp thất bại
(được đặt VP shunt) sau mổ 1 – 3 tuần. Chúng tôi cũng dùng các chỉ số trên để so sánh
năo thất trước và sau mổ. Kết
quả, kích thước năo thất trước và sau mổ
không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (T test, p > 0.05). Điều
đó cho thấy dù
phẫu thuật nội soi thất bại nhưng năo thất vẫn
không dăn hơn nhiều
so với trước mổ.
|
Giải phẫu bệnh
|
BN |
Tỉ lệ (%) |
|
U mầm bào |
14 |
60.9 |
|
U quái |
1 |
4.3 |
|
U sao bào |
5 |
21.9 |
|
U tế bào tuyến tùng |
1 |
4.3 |
|
Nang dạng b́ |
1 |
4.3 |
|
U sọ hầu lạc chổ |
1 |
4.3 |
Biến chứng phẫu thuật
Tỉ lệ biến chứng 21%, tất cả đều được kiểm soát, không có di chứng thần kinh. Tử vong 1 trường hợp do tổn thương đồi thị, viêm màng năo nặng.
|
Biến chứng |
Tỉ lệ (%) |
|
Động kinh |
4,2 |
|
Ḍ dịch năo tuỷ |
4,2 |
|
Giảm trí nhớ |
4,2 |
|
Máu tụ ngoài màng cứng
|
4,2 |
|
Yếu nữa người
|
4,2 |
|
Tử vong |
4,2 |
Theo nghiên cứu
của chúng tôi, tỉ lệ đầu nước
được kiểm soát là 87,5% (21/24),
với thời gian theo dơi trung b́nh 24 tháng. Các
triệu chứng nhức đầu, nôn ói giảm nhanh
trong vài ngày đầu sau mổ. So sánh với các tác giả
khác(1,4,5,11): Chales Teo (1999), Shizuo Oil (2000), Yamini
(2004), Donncha (2006), không có sự khác biệt (Chi square test,
p>0,05). Như vậy, tỉ lệ thành công chung của mở thông
sàn năo thất III trong điều trị đầu nước do u
vùng tuyến tùng khá cao thay đổi từ 71% - 90%, trung
b́nh 85%.
Chúng tôi nhận thấy thời gian bệnh kéo dài >
6 tháng có liên quan đến mức độ giảm thị
lực nặng (T test, p = 0.023). Khi tăng áp lực nội sọ gây
tăng áp lực lên bao dây thần kinh thị giác, dẫn lưu của tĩnh mạch trung tâm vơng mạc bị
ứ trệ gây xuất tiết, xuất huyết vơng mạc,
phù gai thị. Quá tŕnh này kéo dài các sợi trục
sẽ bị thiếu oxy và xơ hoá, xuất hiện những điểm mù trên lơm trung tâm.
Hậu quả là giảm thị lực tiến
triển đến mù hoàn toàn một khi có teo gai thị.
Như vậy,
giảm thị lực và phù gai liên quan rất nhiều vào
thời gian diễn tiến của bệnh.
Tiên lượng cải thiện thị lực
phụ thuộc vào mức độ giảm thị lực
trước mổ. Nhóm có giảm
thị lực nhẹ (5/10 – 9/10) có tỉ lệ cải thiện
cao hơn
nhóm có giảm thị lực nặng
(< 5/10 – mù) gấp 4 lần (T test, p = 0,03).
Chúng tôi cũng
nhận thấy không có trường hợp nào thị
lực trở về b́nh thường trong nhóm bị giảm
thị lực nặng. Hơn nữa, có hai
trường hợp c̣n thấy bóng bàn tay
vẫn bị mù sau 2 tháng dù đầu nước đă được kiểm soát. Điều đó cho thấy mở
thông sàn năo thất III cũng không thể
ngăn được diễn tiến mù khi đă có giảm thị lực nặng hay teo gai thị.
Việc phát hiện bệnh sớm rất
quan trọng giúp cải thiện tiên lượng về thị
giác.
Nói chung,
sau mở thông sàn năo thất III thành công, kích thước năo
thất bên và năo thất ba thay đổi rất muộn so
với những cải thiện triệu chứng lâm sàng.
Trong 4 tuần đầu sau mổ kích thước năo thất
giảm không đáng kể (p>0,05). Năo thất chỉ nhỏ lại rơ rệt 26 – 63%
sau hơn 1 tháng (p <
0,001) (h́nh 3). Đă có nhiều tác giả khác đánh giá kích thước năo thất trước
và sau mổ nội soi: Saint-Rose (1992), Dalrymple (1992), Schwartz
(1996), Wilcock (1997) trong giai đoạn sớm nhưng đều không cho thấy có sự khác biệt(3,7,10). Giả thuyết được
nhiều tác giả chấp nhận là do t́nh trạng đầu
nước mạn tính gây tổn thương cơ chế hấp thu dịch năo tủy của
các hạt màng nhện, sự tái phục hồi chức
năng
chậm (sau 1 tháng, ổn định sau 3 – 6 tháng) nên sau mổ
dịch năo tủy được hấp thu với tốc
chậm hơn b́nh thường. Kết quả, năo thất vẫn
c̣n dăn trong giai đoạn sớm (3,7,10).
Theo chúng tôi (2008) dù khi phẫu thuật thất
bại th́ kích thước năo thất cũng không lớn
hơn đáng kể (p > 0,05). Thậm
chí theo Kulkarni (2000) có 7% trường hợp năo thất
c̣n nhỏ hơn trước mổ(7). Do đó, Buxton (2002) khuyến
cáo: “Tiên lượng phẫu thật thành công hay thất bại
phải dựa chủ yếu vào lâm sàng, việc trông chờ
vào thay đổi kích thước năo thất có thể dẫn
đến sai lầm nghiêm trọng”(3).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ
lệ sinh thiết thành công đạt 91,7%. So sánh với
một số tác giả như Pople
(2001), Yamini (2004), Souweidance (2005), Shono (2007) cho thấy
tỉ lệ thành công thay đổi từ 89 – 100% (trung b́nh
94,2%). Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa chúng tôi với
các tác giả khác(1)(8)(11).
Từ 2 trường hợp sinh thiết
thất bại chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm:
- U nhỏ<1cm, thường nằm khuất sau – trên mép dính gian đồi thị, khó tiếp cận u, nên cắt bỏ mép dính hoặc chuyển sang sinh thiết bằng khung định vị.
- Trường hợp năo thất dăn vừa (bề rộng năo thất III < 8 mm), trong khi đường kính ngoài của trocar Aesculap 6mm, nên rất khó xoay trở ống nội soi dễ gây tai biến.
- Chọn điểm vào sinh thiết phải trước khớp vành 2 cm và cách đường giữa 3 cm (hay tốt nhất là trên đường giữa đồng tử). Nếu điểm vào quá gần đường giữa hay trên khớp vành sẽ rất khó tiếp cận u dễ gây tổn thương lổ Monro hay đồi thị.
- Lấy ít mẫu, ở ŕa u dễ âm tính. Chúng tôi sinh thiết 4 – 6 mẫu ở nhiều vị trí và lấy sâu trong ḷng u.
- Trường hợp sinh thiết lần đầu chảy máu nhiều, những lần sau rất khó xác định mốc giải phẫu, dễ thất bại.
- Lấy mẫu ở hai bên phẫu trường nơi u tiếp giáp với đồi thị dễ âm tính do lấy nhầm lớp mô đệm tăng sinh và dễ tổn thương đồi thị do co kéo.
Ngày nay với sự hỗ
trợ của các tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, phẫu thuật nội soi thần kinh cho thấy
là một phương pháp điều trị vi
xâm lấn rất hiệu quả và khá an toàn. Mở thông sàn
năo thất III qua nội soi có tỉ lệ thành công 87,5%. Cho thấy đây là phương pháp thay
thế lư tưởng cho dẫn lưu năo thất – xoang phúc
mạc vốn có nhiều biến chứng tích lũy theo thời gian.
Tỉ lệ sinh thiết
dương
tính của nội soi là 91,7% cho thấy không khác biệt nhiều so với
phương
pháp dùng khung định vị
(94%). Ưu điểm nổi bật là
việc phối hợp với mở thông sàn năo thất III
để điều
trị đầu nước tắc nghẽn trong cùng một
th́ mổ cho thấy nhiều tiện lợi. Bệnh nhân không phải trải qua hai cuộc mổ
và lệ thuộc suốt đời vào ống dẫn
lưu.
2. Bart Depreitere(2007). Endoscopic biopsy for intraventricular tumors in children. J Neurosurg 106:340-346.
6.
Henry H. Schmidek (1996). Pineal masses:
Clinical features and management. Neurosurgery, Vol 1, p 1019-1022.
9.
Mark
S. Greenberg (2005). “Pineal region tumours”. Handbook of Neurosurgery,
Six edition,