Nguyễn Văn Việt Thành*,
Hồ Khánh Đức**
Mở đầu: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp hiện nay
đă được sử dụng rộng răi. Ưu
điểm chính của phẫu thuật nội soi tuyến
giáp là thẩm mỹ, giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại
với công việc và tự tin trong giao tiếp. Phẫu thuật
cắt tuyến giáp qua nội soi qua ngă nách – quầng vú bằng
dao cắt siêu âm đảm bảo cả hai yêu cầu thẩm
mỹ và an toàn trong điều trị.
Mục tiêu: Mô tả kỹ thuật mổ
và đánh giá kết quả điều trị
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu mô tả tất cả các trường
hợp bướu giáp được phẫu thuật
nội soi qua ngă nách quầng vú bằng dao cắt
siêu âm tại bệnh viện Bình Dân từ
6/2008 – 6/2009.
Kết quả: 40 (8 nam – 32 nữ) trường hợp
bướu giáp được phẫu
thuật nội soi qua ngă nách quầng vú bằng dao cắt
siêu âm tại bệnh viện Bình Dân và
được theo dõi ít
nhất 3 tháng. Độ tuổi trung b́nh
là 32(16 – 63 tuổi). Bướu giáp đơn
nhân: 26(65%), bướu giáp đa nhân 1 thuỳ:
4(10%), bướu giáp đa nhân 2 thuỳ: 5(12,5%); basedow ổn: 5(12,5%). Ba trocar
được đặt ở vị trí: nách, quầng vú
hai bên. Khoang cổ được tạo bằng
đốt điện đơn cực với khí CO2
áp lực 8-10mmHg. Bướu
được cắt bằng dao siêu âm. Thời gian phẫu thuật trung b́nh 90 phút (60-180).
Hai trường hợp bị khàn tiếng
nhẹ và hồi phục sau 3 tháng. Hai trường
hợp tê tay tạm thời sau mổ. Tất
cả bệnh nhân sau mổ đều an toàn, hài ḷng về
tính thẩm mỹ.
Kết luận: Đây là kỹ thuật mổ an
toàn và hiệu quả đối với những phẫu
thuật viên có kinh nghiệm trong mổ nội soi và
mổ hở bướu giáp. Lợi ích lớn
nhất là tính an toàn, thẩm mỹ cao. Kỹ thuật
đă có thể áp dụng đối với bướu
giáp đơn nhân, đa nhân và basedow ổn.
Từ khóa: cắt tuyến giáp nội soi
ENDOSCOPIC THYROIDECTOMY VIA AXILLO – BILATERAL – BREAST – APPROACH
WITH HARMONIC SCALPEL IN
Nguyen Van Viet Thanh, Ho Khanh Duc
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1 –2010: 174 - 178
Introduction: Endoscopic surgery is widely employed for the treatment of goiter. The
greatest benefits is cosmetic, making patient back to
work early, confident in communication. Endoscopic thyroidectomy via
axillo – bilateral – breast – approach with harmonic scalpel is both
safe and cosmetic.
Objectives: Describe the technique and evaluate efficacy of this procedure.
Materials and Methods: Descriptive
study, all patients have the goiter treated by endosopic thyroidectomy via axillo
– bilateral – breast – approach with harmonic scalpel from 6/ 2008
to 6/2009 in Binh Dan hospital.

Results: 40 cases (8 males – 32 females) of endoscopic thyroidectomy axillo –
bilateral – breast – approach with harmonic scalpel were done with a 3 month
follow-up. Mean age was 32
(range 16 to 63). 26 solitary nodular goiter (65%), 4
multinodular at one lobe (10%), 5 multinodular at two lobes (12.5%) and 5
basedow (12.5%) underwent near-total lobectomy or thyroidectomy. Three trocars
were placed at axilla, and both of breasts. The working space was created by
monopolar cautery and maintained with a continuous pressure of 8 to 10 mmHg
carbon dioxide (CO 2). The thyroid lobectomy was realized by harmonic
scalpel. The mean operating time was 90 min (range 60-180 min). 2 cases
recurrent laryngeal nerve palsies and 2 cases postoperative tetany
occurred but these cases were well again. All patients were satisfied with the
cosmetic results.
Conclusions: It is a safe and effective technique in the hands of an appropriately
trained surgeon. The patient get a cosmetic benefit .
It is possible to realize in cases: solitary nodular goiter, multinodular
goiter, and basedow.
Key word: endoscopic thyroidectomy
Bướu giáp là một bệnh
lư phổ biến trên thế giới nói chung
và ở Việt
Áp dụng kỹ thuật mổ nội soi cắt
bướu giáp bằng dao cắt siêu âm qua ngă nách – quầng
vú
Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật này qua kết quả điều trị
Tiền cứu,
mô tả cắt ngang
Các trường hợp bướu giáp được
phẫu thuật nội soi từ 6/2008 – 6/2009 tại bệnh
viện B́nh Dân.
Bướu
giáp có kích thước mỗi thùy qua khám lâm sàng và siêu âm
≤ 4cm.
B́nh giáp trên
lâm sàng và cận lâm sàng.
Bệnh nhân không đồng ư phẫu thuật nội
soi.
Ung thư tuyến giáp đă có chẩn đoán qua FNA và bướu tái phát.
Xét nghiệm tiền phẫu, chức năng tuyến
giáp (TSH, T3, T4), siêu âm tuyến giáp, FNA, dùng lugol 1% 7 ngày
trước mổ trong các trường hợp basedow.
Bệnh nhân nằm ngửa, mê nội khí quản,
được kê gối dưới vai để ngữa
cổ. Màn h́nh
nội soi đặt về phía trái hoặc phải tùy từng
phẫu thuật viên (PTV). PTV có thể đứng
cùng bên hoặc đối bên với bướu, người
phụ đứng đối bên. Rạch da đường
5mm ở 2 bên quầng vú, dùng kelly bóc tách
lớp dưới da. Đặt 2 trocar 5mm dài
(trocar tự tạo) hướng về hơm ức. Ống kính 5mm đặt qua trocar 5mm đối bên
PTV. Rạch da 10mm đường hơm nách
cùng bên PTV chính và đặt trocar 10mm (trocar mổ nội soi
ổ bụng) hướng về hơm ức và bơm CO2. Dùng đốt
điện đơn cực tạo khoang cổ, khoang cổ
được duy tŕ bằng khí CO2 với áp lực từ
8-10mmHg. Dùng đốt điện đơn cực bóc tách
đường giữa khối cơ trước tuyến
giáp. Bộc lộ bướu, dùng dao cắt
đốt siêu âm để cắt gần trọn một
hoặc cả hai thùy tuyến giáp. Lấy
bướu qua ngă đặt trocar 10mm ở hơm nách. Đặt ống dẫn lưu qua trocar 10mm.
Băng ép vùng cổ.
Dẫn
lưu sẽ được rút vào ngày thứ 2. Bệnh nhân xuất viện
vào ngày thứ 2, cắt chỉ sau 1 tuần, tái khám sau 1
tháng và 3 tháng.
Từ 6/2008 – 6/2009, chúng tôi
đă thực hiện 40 trường hợp phẫu thuật
nội soi cắt thùy tuyến giáp cho các trường hợp
bướu giáp đơn nhân, đa nhân và Basedow và theo dơi
sau mổ 1 – 3 tháng.
Nữ:
32 (80%), nam: 8 (20%)
Tuổi trung b́nh: 32
(19 - 63 )
Bướu giáp
đơn nhân: 26 (65%)
Bướu
giáp đa nhân 1 thùy: 4 (10%), 2 thùy: 5 (12,5%)
Basedow ổn:
5 (12,5%)
Phương pháp mổ
Cắt
gần trọn thùy giáp: 30 (75%)
Cắt
gần hết tuyến giáp: 10 (25%)
Đặt
dẫn lưu: 100%
Giải phẫu bệnh
Trước mổ (FNA): 100% bướu lành tính
Sau mổ: bướu lành 100%
Kết quả phẫu thuật
Máu mất trong lúc mổ:
20ml (10-50ml)
Thời gian mổ trung b́nh: 90 phút (60-180 phút)
- Khàn tiếng tạm thời: 2 (5%)
- Tê tay tạm thời sau mổ: 2 (5%)
- Bầm máu nhẹ ở cổ và thành ngực: 5 (12,5%)
- Không trường hợp nào bị tràn khí dưới da nặng
Bệnh nhân được xuất
viện vào ngày hậu phẫu thứ 2
Tái khám sau 1 tháng, 3 tháng:
- Tất cả các bệnh nhân mổ nội soi hoàn toàn đều hài ḷng v́ không có sẹo ở cổ, không cảm giác nuốt vướng. Các vết sẹo ở thành ngực lành tốt, không trường hợp nào bị nhiễm trùng vết mổ.
- 5 trường hợp basedow, sau mổ, bệnh nhân b́nh giáp trên cả lâm sàng và cận lâm sàng.
- Không ghi nhận trường hợp nào bướu tái phát hoặc suy giáp sau mổ.
Phẫu thuật bướu
cổ kinh điển (mổ hở) đă có từ năm
952 sau Công nguyên do bác sĩ Moolish người Ba Tư thực
hiện. Sau đó, Theodor Kocher, phẫu thuật viên người
Thụy Sĩ được
xem như người đặt nền tảng cho phẫu
thuật bướu giáp. Có nhiều kỹ thuật và
trường phái trong việc cắt bướu giáp
nhưng nh́n chung các kỹ thuật đều có điểm
chung là “đường mổ kinh điển” rạch da
đường ngang cổ, chiều dài đường mổ
tùy thuộc vào độ lớn của bướu. Sau mổ,
bệnh nhân có vết sẹo dài ở cổ, ảnh hưởng
đến tính thẩm mỹ, nhất là đối với
các bệnh nhân nữ. Ngoài ra, sau mổ, bệnh nhân c̣n gặp
các vấn đề khác như nuốt vướng, dị
ứng chỉ. Phẫu thuật nội soi tuyến giáp bắt
đẩu được mô tả trong y văn vào khoảng
năm 1996 – 1997. Gagner là người đầu tiên thực
hiện phẫu thuật cắt tuyến cận giáp qua nội
soi(1). Một
năm sau, Huscher báo cáo cắt thùy phải tuyến giáp hoàn
toàn qua nội soi(3). Ngày nay, phẫu
thuật nội soi điều trị bệnh lư tuyến
giáp đă trở nên phổ biến với mục đích
thẩm mỹ. Nhiều phương pháp mổ đă
được báo cáo của các tác giả trong và ngoài nước
với nhiều ưu và khuyết điểm khác nhau(2,4,7).
Về chỉ
định mổ, đa số các tác giả khuyên nên mổ
đối với các trường hợp bướu giáp
đơn nhân lành tính kích thước nhỏ hơn 4cm(1,3,4). Tuy nhiên, một
số tác giả nước ngoài cũng đă báo cáo phẫu
thuật cắt bướu có kích thước lớn
hơn 4cm, thậm chí 11cm(2). Một số
khác c̣n tiến hành mổ ung thư giáp dạng nhú(5). Trong thực
tế, chúng tôi nhận thấy hiện tại phẫu thuật
nội soi tuyến giáp chỉ nên áp dụng đối với
những trường hợp bướu nhỏ hơn 4 cm
nếu là bướu nhân và bướu độ II nếu
là bướu lan tỏa. Lư do là phẫu trường trong mổ
nội soi tuyến giáp là một khoang tương đối
hẹp không cho chúng ta một không gian rộng răi khi cắt
bướu như trong mổ hở. Về phương diện
ung thư, chúng tôi nhận thấy trong quá tŕnh lấy bướu
ra khỏi khoang cổ, mô bướu phải đi qua một
quăng đường dài chật hẹp. Khả năng
rơi văi tế bào ung thư là rất cao. V́ thế, trên
quan điểm của chúng tôi, các trường hợp phẫu
thuật tuyến giáp nội soi phải có kết quả giải
phẫu bệnh trước mổ lành tính. Chúng tôi cũng
đă mổ được 5 trường hợp basedow.
Các trường hợp này đều được điều
chỉnh về b́nh giáp trước mổ trên cả lâm sàng, cận lâm
sàng và được dùng lugol 1% trước mổ để
hạn chế tối đa chảy máu trong và sau mổ.
Về đường vào của các trocar,
nhiều cách vào trocar trong phẫu thuật nội soi tuyến
giáp được mô tả. Hiện tại, vẫn
chưa có loại trocar nội soi nào dành riêng cho phẫu thuật
tuyến giáp. Đa số tác giả đều sử dụng
trocar mổ nội soi ổ bụng để thực hiện.
Nhược điểm của các trocar này là quá ngắn gây
khó khăn trong quá tŕnh phẫu thuật và hơn hết là tất
cả các sẹo lỗ trocar đều nằm trước
ngực, làm giảm tính thẩm mỹ, vốn là ưu
điểm lớn nhất của phẫu thuật nội
soi tuyến giáp, đặc biệt đối với
cơ địa sẹo lồi. Trong kỹ thuật mổ
của chúng tôi, với đường vào của các trocar từ
nách và quầng vú, các sẹo lỗ trocar được giấu
kín, đảm bảo tính thẩm mỹ cao giúp bệnh nhân
tự tin trong giao tiếp(6). Để
được điều đó, chúng tôi nghiên cứu và thiết
kế 2 loại trocar 5mm dài đi từ quầng vú đến
hơm ức. Mặt khác, với đường vào ở giữa
này, chúng tôi có thể cắt bướu ở cả hai thùy
không mà không phụ thuộc
vào vị trí của bướu như một số tác giả:
3 trocar ở vị trí đối bên với bướu, vậy
để cắt được 2 thùy phải cần 6 lỗ
trocar.
Vị trí Trocar

Dụng
cụ tự chế
Về
khoang cổ, chúng tôi chọn cách bơm khí CO2 với áp lực
khoảng 8 - 10mmHg đảm bảo một khoảng trống
tốt để thao tác và tránh được biến chứng
tăng CO2 máu gây toan hóa máu và tràn khí dưới da(5).
Về kỹ thuật cắt
bướu, chúng tôi dùng dao cắt siêu âm để cắt
bướu. Dụng cụ này có ưu
điểm cắt được các mạch máu có
đường kính dưới 5mm và không sinh nhiệt cao
như đốt điện. V́ thế, chúng tôi hạn
chế được tối đa biến chứng chảy
máu trong và sau mổ, cũng như khàn tiếng tạm thời
sau mổ do sức nóng lan ra khi sử dụng đốt điện(2). Điều này đặc
biệt ư nghĩa khi mổ các trường hợp basedow.
Ngoài ra, với ưu điểm vừa cắt vừa cầm
máu, dao cắt siêu âm đă giúp chúng tôi rút ngắn thời
gian phẫu thuật so với dùng đốt điện
lưỡng cực(2). Sau mổ, chúng tôi đều dẫn
lưu khoang cổ 100% qua một vị trí đặt trocar
10mm. Chúng tôi cho rằng điều này rất cần thiết
v́ bên cạnh ư nghĩa điều trị, dẫn lưu
c̣n có vai tṛ theo dơi và dự pḥng quan trọng. Khác
với mổ hở, trong mổ nội soi tuyến giáp,
khoang cổ là khoang kín. Khi có biến chứng chảy
máu xảy ra, bệnh nhân dễ bi suy hô hấp do chèn ép
đường thở v́ lượng máu chảy ra không thể
thoát ra ngoài bằng cách banh vết mổ
như trong mổ hở. Dẫn lưu được
đặt qua trocar
ở nách và được rút vào ngày thứ 2
trước xuất viện. Điều này vừa đảm
bảo tính an toàn và thẩm mỹ trong kỹ
thuật mổ của chúng tôi. Thời gian mổ
có kéo dài hơn so với mổ hở kinh điển.
Trung b́nh một ca mổ nội soi kéo dài khoảng 90 phút so
với mổ hở
khoảng 45 phút. Lượng máu mất
trung b́nh khoảng 20ml là chấp nhận được.
Bệnh nhân thường xuất viện vào
ngày thứ 2 sau mổ, cắt chỉ sau 7 ngày. Chúng tôi theo dơi tái khám sau 1
và 3 tháng. Không có trường hợp nào bị
nhiễm trùng vết mổ và hài ḷng v́ không có sẹo ở
cổ. Không bệnh nhân nào than phiền về
dị cảm ở cổ, cảm giác nuốt vướng,
những khó chịu hay gặp ở các bệnh nhân mổ hở
kinh điển. Hai bệnh nhân bị khàn tiếng và
tê tay sau mổ đă hồi phục hoàn
toàn sau 3 tháng. Đối với 5 trường hợp
basedow, sau 3 tháng, 5 bệnh nhân này đều b́nh giáp trên cả
lâm sàng và cận lâm sàng. Trong đó, một bệnh nhân nữ
đă có thai và sinh con b́nh thường.
Tuy nhiên, thời gian 3 tháng vẫn là chưa đủ đối
với việc theo dơi sau mổ bệnh
lư basedow. V́ thế, chúng tôi vẫn tiếp tục theo dơi những bệnh nhân này trong một
công tŕnh nghiên cứu khác.
Tóm lại, đối với phẫu thuật nội soi tuyến giáp, chúng tôi đă thực hiện, theo dơi, nghiên cứu trong một thời gian dài. Thời gian đầu, chúng tôi chọn bướu đơn nhân, kích thước nhỏ. Khi kỹ thuật đă thuần thục, chúng tôi mở rộng chỉ định đối với các trường hợp bướu giáp đa nhân một thùy, hai thùy và basedow ổn. Nh́n chung, đây là một lựa chọn mới, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới cho các phẫu thuật viên tuyến giáp.
Phẫu thuật nội soi cắt bướu
giáp qua ngă nách – quầng vú bằng dao cắt siêu âm có nhiều
ưu điểm như thẩm mỹ, an
toàn và hiệu quả. Các phẫu thuật viên
tuyến giáp có kinh nghiệm về mổ nội soi đều
có thể thực hiện. Bệnh nhân hồi
phục nhanh, nhanh chóng trở lại với công việc, tự
tin trong giao tiếp. Kỹ thuật
đă có thể áp dụng cho các trường hợp bướu
to, bướu đa nhân và đặc biệt là basedow ổn.
2.
Hồ