Nguyễn Thị Trúc Linh*,
Lê Tấn Sơn*, Lê Công Thắng**, Lê Thanh
Hùng**,
Nguyễn Thị Đan Trâm*, Huỳnh Cao Nhân**
Mục tiêu: Giới thiệu giá trị của X quang âm đạo
trong chẩn đoán niệu quản đơn lạc chỗ
trong âm đạo kết hợp với siêu âm, hệ niệu
cản quang đường tĩnh mạch và xạ h́nh thận
với 99-m dimercaptosuccinic acid. Niệu quản đơn lạc
chỗ là một dị tật hiếm gặp.
Phương
pháp: 18 bệnh nhân
nữ được chẩn đoán niệu quản
đơn lạc chỗ điều trị tại bệnh
viện Nhi Đồng 1 từ 1995 đến tháng 8/2008. Các
xét nghiệm để chẩn đoán bao gồm siêu âm, hệ
niệu cản quang đường tĩnh mạch, xạ
h́nh thận với 99m-dimercaptosuccinic acid, cuối cùng là X
quang âm đạo cản quang nếu thận kém chức
năng không t́m thấy trên xạ h́nh thận
.
Kết quả: Chụp hệ niệu cản
quang cho thấy có 1 thận kém chức năng. Có 10 thận
kém chức năng không t́m thấy được trên xạ
h́nh thận với 99m-dimercaptosuccinic acid, nhưng có 7 thận
không t́m thấy trên siêu âm, chụp hệ niệu cản
quang và xạ h́nh thận. Trong 7 bệnh nhân đó có 6 bệnh
nhân có niệu quản đơn lạc chỗ vào âm đạo
được phát hiện trên phim x quang âm đạo cản
quang. Tất cả 18 trường hợp có thận loạn
sản đă được phẫu thuật cắt bỏ
thận teo nhỏ.
Từ khóa: niệu quản đơn lạc chỗ, x
quang âm đạo
SINGLE
ECTOPIC URETER: DIAGNOSTIC VALUE OF CONTRAST VAGINOGRAPHY
Nguyen
Thi Truc Linh, Le Tan Son, Le Cong Thang, Le Thanh Hung, Nguyen Thi Dan Tram,
Huynh Cao Nhan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1 – 2010:
206-209
Objective: to present the diagnostic results of
contrast vaginography to detect vaginal ectopic ureter, in addition to
investigation with ultrasonography, intravenous urography,
and technitium-99m-dimercaptosuccinic acid renal scan. A single ectopic
ureter is a rare anomaly.
Methods: Eighteen girls
with a single ectopic ureter were treated at the Children’ Hospital No.1 from
1995 to August 2008. The diagnostic studies included ultrasonography,
intravenous urography, and technitium-99m-dimercaptosuccinic acid renal scan,
and, finally, vaginography with contrast if the renal scans could not detect
the poorly funtioning kidneys.
Results: Intravenous
urography showed the poorly funtioning kidney in 1
patient. Another 10 poorly funtioning kidneys were
revealed by technitium-99m-dimercaptosuccinic acid renal scan, but 7 kidneys
were not identifiable using contrast, ultrasonography, or radionuclide. Of
these 7 patients, 6 vaginal ectopic ureters were detected using contrast
vaginography. All 18 dysplastic kidneys were surgically removed.

Conclusions: The results of
the study have demonstrated the satisfactory dianogstic value of vaginography
as an imaging technique to detect the dyslastic kidney draining by a single
ectopic ureter.
Keywords: single ectopic ureter, vaginography.
Niệu quản
lạc chỗ là niệu quản cắm ngoài tam giác niệu.
Niệu quản lạc chỗ có thể cắm vào dọc
hệ niệu từ cổ bàng quang đến tàng sinh môn
hoặc cơ quan sinh dục(6). Bất thường này xảy ra ở
bé gái nhiều gấp 6 lần ở bé trai(4). nhiễm trùng tiểu
gặp ở cả hai giới nhưng tiểu rỉ liên tục
sau những lần đi tiểu b́nh thường chỉ gặp
ở bé gái,v́ ở bé trai niệu quản luôn luôn mở ra
phía trên cơ thắt niệu đạo. Niệu quản lạc
chỗ có 80% gặp trong niệu quản cực trên của
thận đôi và 20% gặp trên thận đơn(6). Thận có niệu quản
lạc chỗ thường nhỏ, cấu trúc bất
thường, chức năng kém hoặc không có chức
năng. Do vậy nó có thể rất khó được
chẩn đoán với các phương pháp chẩn đoán bằng
h́nh ảnh thông thường, như trên siêu âm nếu niệu
quản không giăn, trên UIV, trên xạ h́nh thận hoặc thậm
chí nội soi t́m chỗ đổ của
niệu quản vào thành âm đạo(1).
Mục đích của nghiên cứu này là báo cáo vai tṛ của X quang âm đạo cản quang để xác định niệu quản lạc chỗ trong âm đạo khi siêu âm, UIV, xạ h́nh thận DMSA không xác định được thận bởi thận mất chức năng.
Từ
12/1995- 8/2008, chúng tôi đă điều trị 18 ca thận
đơn có niệu quản lạc chỗ. Biểu hiện
lâm sàng là tiểu rỉ liên tục giữa những lần
đi tiểu b́nh thường, tả hay quần luôn thấy
ẩm ướt. Các phương tiện chẩn
đoán bao gồm siêu âm, UIV, chụp niệu đạo bàng
quang lúc đi tiểu. Đầu tiên bệnh nhân sẽ
được siêu âm bụng, nếu t́m thấy được
một thận b́nh thường, một thận có kích
thước nhỏ hoặc không t́m thấy thận c̣n lại
th́ bệnh nhân sẽ được làm xạ h́nh thận DMSA (h́nh
1). Nếu xạ h́nh cho thấy thận nhỏ
th́ chẩn đoán được xác định và bệnh
nhân sẽ được phẫu thuật cắt bỏ thận.
Nếu thận thứ hai vẫn không t́m thấy
trên xạ h́nh th́ bệnh nhân sẽ được chụp
X quang âm đạo cản quang. Một ống sonde có bóng giữ
đặt vào âm đạo vừa qua khỏi màng trinh,
bơm 1,5-2 ml nước vào bóng giữ, sau đó bơm khoảng
20 ml chất cản quang tan trong nước (ioxithalamate
(telebrix)) khoảng 20-30 giây. Sau khi tiêm sẽ được
theo dơi dưới màng h́nh huỳnh quang.
Có 18 bệnh
nhân, siêu âm phát hiện 7 thận loạn sản, trong đó
2 thận có niệu quản dăn. Trên UIV có 1 thận
kém chức năng. Xạ h́nh thận DMSA được
thực hiện trên 17 bệnh nhân, phát hiện ra 10 thận
loạn sản, c̣n 7 thận không t́m thấy. X quang âm đạo
được thực hiên trên 7 bệnh nhân này và phát hiện
ra 6 bệnh nhân có niệu quản lạc chỗ, 4 trường
hợp bên phải (hinh2) và 2 trường hợp bên trái
(h́nh 3). 1 trường hợp có niệu quản lạc chỗ
không t́m thấy trên x quang mà chỉ được thấy
trong lúc mổ thám sát.

H́nh 1. Thận
phải loạn sản trên xạ h́nh thận. không cần làm thêm xét nghiệm chẩn
đoán
![]()
![]()
![]()




H́nh 2. Niệu quản
phải lạc chỗ vào âm đạo trên phim X quang âm
đạo cản quang
A C
B D
![]()
![]()

H́nh 3. Niệu quản
trái lạc chỗ vào âm đạo trên phim X quang âm đạo
cản quang
Niệu quản lạc chỗ thường liên quan với
vị trí của chồi niệu quản trên ống Wolf. Khi chồi niệu
quản mọc trên ống Wolf quá xa từ xoang niệu sinh
dục, nó sẽ tiếp xúc với cực trên của hậu
thận. Sự tiếp xúc này sẽ gây loạn sản
thận và niệu quản cắm lạc chỗ(7). Hầu
hết loạn sản thận nặng thường liên
quan với niệu quản cắm lạc chỗ vào niệu
đạo, âm đạo, ống dẫn tinh, túi tinh. Về
phôi thai học ở nữ, niệu quản lạc chỗ
có thể cắm vào bất ḱ vị trí nào từ âm đạo,
cổ tử cung, tử cung và ṿi trứng(9). Tuy nhiên, hầu hết
niệu quản lạc chỗ ở nữ thường gặp
là vào âm đạo, hiếm khi vào thành niệu đạo âm
đạo(3).

H́nh 4. Chồi
niệu quản (xuất phát quá xa xoang niệu sinh dục)
sáp nhập hậu thận ở cực trên gây ra loạn sản
thận.
Ở nữ, triệu chứng thường gặp nhất
là tiểu rỉ liên tục. Trong vài bệnh nhân có thể thấy
nước tiểu rỉ ra từ âm đạo và một
số trường hợp khác th́ thấy thận teo và niệu
quản không được t́m thấy(24). Ở
nam, viêm mào tinh hoàn sẽ thấy trong trường hợp
niệu quản lạc chỗ vào ống dẫn tinh.
Có vài nghiên cứu được báo cáo th́ niệu
quản lạc chỗ thường kèm theo những dị
tật khác, đặc biệt là trong nhóm VACTERL(1,5,6). Tuy nhiên trong nhóm nghiên cứu của
chúng tôi chỉ có 2 bệnh nhân có dị tật kèm theo (1 trường hợp tim bẩm sinh, 1 trường hợp
tắc tá tràng).
Siêu âm có hiệu quả trong chẩn đoán thận niệu quản đôi. Tuy nhiên nếu cực trên thận nhỏ do loạn sản và niệu quản không giăn th́ siêu âm không thể phát hiện được(9). 90% niệu quản đơn lạc chỗ có thận nhỏ loạn sản6. Nếu niệu quản không giăn th́ siêu âm và UIV đều không phát hiện được. Xạ h́nh thận DMSA có hiệu quả trong việc t́m ra vị trí thận khi thận c̣n chức năng(39). Trong những trường hợp thận loạn sản, kích thước thận thường nhỏ hơn 3cm, nằm sát đốt sống thắt lưng (h́nh 5)(2,9). Trong 7 bệnh nhân của chúng tôi, thận có chức năng quá kém nên không thấy được ngay trên xạ h́nh thận DMSA.

H́nh 5.Thận loạn sản
quá nhỏ để t́m thấy trên siêu âm và xạ h́nh thận.
Một phương pháp khác là nội
soi âm đạo có sự trợ giúp của X quang cũng có
hiệu quả trong chẩn đoán xác định niệu
quản lạc chỗ, được thực hiện bởi
Currarino(4) và bondony(2). Nội soi có thể
t́m thấy được lổ đổ của niệu
quản với một catheter đặt ngược.
Tuy nhiên nội soi âm đạo không thể
phát hiện tất cả các trường hợp niệu
quản lạc chỗ. Mandell và cộng sự(8) chỉ t́m được 67% trường hợp và Pattaras(9) t́m thấy 1 trường hợp
trong 6 trường hợp niệu quản lạc chỗ
trong thận đôi, thậm chí là soi âm đạo được
lập lại nhiều lần.
Chụp X quang
âm đạo có cản quang với sự hổ trợ của
nội soi, chụp âm đạo mù đều không chỉ
ra chính xác vị trí của thận mà chỉ đơn thuần
là phát hiện ra niệu quản lạc chỗ và đó
cũng là điểm quan trọng nhất. Phương pháp này được
thực hiện không cần gây mê và có thể được
thực hiện ở bất kỳ đâu.
Borer(3) đă phải mất trung b́nh 10 xét
nghiệm chẩn đoán h́nh ảnh và 5,7 năm cho mỗi
bệnh nhân trước khi chẩn đoán xác định
niệu quản lạc chỗ vào âm đạo.
CTscan và MRI là những phương pháp có độ nhạy cao. Tuy nhiên có nhiều điểm không thuận lợi như ảnh hưởng của tia xạ và khá đắt tiền.
Ở bé gái rỉ nước tiểu liên tục sau những lần đi tiểu b́nh thường, được siêu âm và UIV t́m thấy có một thận, chúng tôi tin rằng nên nghi ngờ có một thận nhỏ đối bên. Xạ h́nh thận DMSA có thể xác định được vị trí của thận teo nhỏ loạn sản. Tuy nhiên nếu xạ h́nh thận DMSA không t́m thấy thận c̣n lại chúng ta nên chụp X quang âm đạo kiểm tra sẽ giúp phát hiện ra những trường hợp niệu quản lạc chỗ trên thận mất chức năng.
1. Ahmed S, Barker A. Single-system ectopic ureter: a review of 12 cases. J Pediatr Surg. 1992;27:491-496.
2. Bondonny JM, Boissinot F, Vergnes P, et al. Association, chez la fille, d’un rein dysplasique avec uretere simple à abouchement ec- topique vaginal et d’une anomalie génitale homolaterale. Chir Pedi- atr. 1988;29:273-280.
6.
Husmann D. Ureteral ectopy, ureteroceles, and
other anomalies of the distal ureter. In: Gonzales ET, Bauer SB, editors.
Pediatric Urology Practice.
8. Mandell J, Bauer SB, Colodny AH, et al. Ureteral ectopia in infants