Phạm Thúy Trinh*, Lê Thị Anh
Đào*, Nguyễn Thị Thanh Trúc*, Nguyễn Thị
Thanh Nhàn*
Mở đầu: Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là biến chứng
thường gặp. Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đại
học Y Dược gồm có nhiều chuyên khoa, bệnh viện
lúc nào cũng quá tải và đang
được sửa chữa. Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm mục đích: Xác định tỉ
lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Đối
tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân
được mổ chương tŕnh (mổ sạch và sạch
nhiễm) và được theo dơi tối thiểu là 30 ngày sau mổ.
Phương
pháp nghiên cứu:
Tiền cứu, mô tả cắt ngang.
Kết
quả: Trong thời gian 3 tháng có 270 bệnh nhân
phù hợp tiêu chuẩn chọn bệnh,
được đưa vào nghiên cứu
và cho kết quả như sau: tỉ lệ NKVM chung là 3%. Có sự khác biệt về NKVM: tỉ lệ NKVM của
mổ mở là 6%, mổ nội soi là 1%; của bệnh nhân tiểu
đường là 21%, cơ địa khác là 2%; người bệnh
được chăm sóc vết mổ tại bệnh
viện là 1%, tại TTYT là 10%, tại y tế phường
là 0,6%, điều dưỡng đến nhà chăm
sóc là 11%; ở bệnh nhân sử dụng gạc vô trùng là 6%, sử
dụng Urgo steril là 0%.
Kết
luận: Tỉ lệ
nhiễm khuẩn vết mổ chung tại khoa Ngoại Tổng
hợp là 3%. Nhiễm khuẩn vết mổ có thể có
liên hệ với: mổ mở hay mổ nội soi, cơ
địa tiểu đường, phẫu thuật sạch
nhiễm, sử dụng gạc hay Urgo steril. Tỉ lệ
NKVM của các phân khoa lần lượt là: Niệu (7%), Thần
kinh (6%), Tiêu hóa (4%), Lồng ngực-Mạch máu (3%),
Xương khớp (2%).
Từ
khóa: nhiễm trùng vết mổ, tiểu
đường, mổ mở, mổ nội soi.
RESEARCH
OF THE WOUND INFECTION AT THE GENERAL SURGERY DEPARTMENT OF
Pham
Thuy Trinh, Le Thi Anh Dao, Nguyen Thi Thanh Truc, Nguyen Thi Thanh Nhan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1 – 2010: 124 - 128
Introduction: Surgical wound infection was one of common complications at all
hospitals. The General Surgery Deparment of
Patients and Methods: All surgical patients were scheduled for operation from May 2009 to
July 2009 (clean and clean-contaminated operation) and followed-up at least 30
days after operation. Methodology: Cross-sectional study design.
Results: 270 patients were
selected in 1463 cases at the General Surgery Department with results: The rate
of surgical wound infection was 3%. The rate of wound infection in open surgery
group was 6%, higher than laparoscopic surgery group (1%). The rate of wound
infection in diabetes group was 21%. and without diabetes was 2%, group
patients cared in hospitals 10%, nursing
Conclusion: Surgical wound
infection rate at the General Departmet was 3% in general. The wound infection
rates was related to: open surgery or laparoscopic surgery, diabetes group,
clean or clean-cantaminated operations, type of gauze. Surgical wound infection
rate at Urology department was 7%, at Neurosurgery department 6%, GI department
4%, Thoracic department 3%, Orthopaedics 2%.
Keywords: wound infection, open surgery, laparoscopic surgery, diabetes mellitus.
NKVM là biến chứng thường gặp, là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại mọi cơ sở y tế. Bên cạnh đặc tính bệnh, phẫu thuật và cơ địa, các yếu tố từ bệnh viện như: cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân viên y tế, môi trường cũng là nguyên nhân ảnh hưởng quan trọng đến t́nh trạng nhiễm khuẩn vết mổ.
Nhiễm khuẩn vết mổ ảnh hưởng nhiều đến tinh thần người bệnh, kéo dài thời gian nằm viện gây ảnh hưởng đến kinh tế người bệnh, gia tăng viện phí, khả năng hồi phục kém…
Gần đây, Cơ sở 1 Bệnh viện Đại học Y Dược đang trong thời kỳ sửa chữa, xây dựng mới từng khu vực. Điều này làm cho môi trường bệnh viện ít nhiều bị ảnh hưởng nhất là pḥng mổ và các khoa ngoại, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
Hàng tháng khoa Chống nhiễm khuẩn khảo sát định kỳ để đánh giá chung t́nh h́nh nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó có nhiễm khuẩn vết mổ. Báo cáo của khoa chống nhiễm khuẩn mang tính tổng quát, chưa khảo sát được tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo từng nhóm bệnh, từng nhóm nguy cơ.
Với thực trạng trên, Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược gồm năm phân khoa: ngoại Lồng ngực - Mạch máu, Thần kinh, Tiết niệu, Xương khớp, Tổng quát, số lượng bệnh nhân nhiều thuộc nhiều loại phẫu thuật: từ phẫu thuật sạch đến sạch nhiễm hay nhiễm. Khoa chưa khảo sát chi tiết tình hình nhiễm khuẩn vết mổ của bệnh nhân tại khoa. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích: xác định tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo các nhóm bệnh.
Tất
cả bệnh nhân được mổ chương tŕnh (mổ sạch và sạch nhiễm). Bệnh nhân được theo dơi tối thiểu là 30 ngày sau mổ.
Bệnh nhân đồng ư tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: những
bệnh nhi dưới 14 tuổi.
Tiền cứu,
mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu:
.
. ![]()
Với P là tỉ
lệ nhiễm khuẩn vết mổ, được tính
là 5%.
Thời gian: tháng 5/2009 đến tháng 7/2009.
Địa
điểm: Bệnh viện Đại học Y Dược
TP. Hồ Chí Minh.
Được
gọi là có NKVM trong trường hợp có chảy dịch
qua vết mổ ra ngoài, dịch có thể là mủ hay không.
Nếu không phải là mủ, NKVM được xếp vào
nhóm NKVM nhẹ.
Trong thời
gian từ tháng 5/2009 đến 7/2009 có 1463 ca phẫu thuật
tại Khoa Ngoại Tổng hợp, có 270 ca được
đưa vào nhóm nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn bệnh
đă tŕnh bày ở trên.
Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu.
|
Đặc
tính |
Số ca |
Tỉ lệ % |
|
Giới tính: Nữ |
126 144 |
47 53 |
|
Nhóm tuổi: ≤ 60 > 60 |
218 52 |
81 19 |
|
Chuyên khoa: Niệu Thần kinh Xương khớp Lồng ngực Tổng quát |
45 16 65 63 81 |
17 6 24 23 30 |
|
Tiền sử: Tiểu đường Không tiểu đường |
14 256 |
5 95 |
|
Phẫu thuật: Nội soi Mổ mở |
134 136 |
49 51 |
Nhận xét: Với 270 ca khảo sát, tỉ lệ người bệnh nam giới là 47%, nữ giới là 53%, gần tương đương như nhau. Đa số người bệnh ở độ tuổi ≤ 60 (81%). Số lượng bệnh nhân của các chuyên khoa gần tương đương (13% - 24%), bệnh nhân của Ngoại thần kinh thấp nhất: 6%. Đa số bệnh nhân không có bệnh kèm theo, tỉ lệ người bệnh tiểu đường chiếm 5%. Số lượng bệnh nhân được mổ mở và mổ nội soi tương đương nhau (51%, 49%).
Bảng 2: Tỉ lệ chung nhiễm khuẩn vết mổ.
|
Tình trạng vết mổ |
Số
ca |
Tỉ
lệ % |
|
Không nhiễm khuẩn |
261 |
97 |
|
Nhiễm khuẩn |
9 |
3 |
|
Tổng số |
270 |
100 |
Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung là 3%.
Bảng 3: Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo các nội dung.
|
Tình trạng vết mổ Nội dung |
Không nhiễm khuẩn Số
ca (%) |
Nhiễm
khuẩn Số
ca (%) |
p |
|
Giới tính: Nữ |
121(96) 140 (97) |
4(4) 5 (3) |
0.738 |
|
Tuổi: ≤ 60 > 60 |
212 (97) 49 (94) |
6 (3) 3 (6) |
0.381 |
|
Hình thức mổ: Mổ mở Mổ nội soi |
128(94) 133 (99) |
8(6) 1(1) |
0.036 |
|
Chuyên khoa: Niệu Thần kinh Tổng quát Xương khớp Lồng ngực |
42(93) 15(94) 79(97) 64(98) 61(97) |
3(7) 1(6) 2(3) 1(2) 2(3) |
0.45 |
|
Cơ địa: Tiểu
đường Khác |
11(79) 250(98) |
3(21) 6(2) |
0.008 |
|
Nơi chăm sóc vết mổ: Bệnh viện TTYT Đd đến
nhà thay băng Phòng mạch Y tế
phường Tự chăm
sóc Không thay băng |
268(99) 36(92) 8(89) 4(100) 180(99) 29(94) 4(100) |
2(1) 3(8) 1(11) 0(0) 1(1) 2(6) 0(0) |
0.001 |
|
Loại băng gạc: Gạc vô trùng Urgo steril |
132(94) 129(100) |
9(6) 0(0) |
0.004 |
Bảng 4: Tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ theo loại phẫu thuật.
|
Tình trạng
vết mổ |
Phẩu thuật
sạch Số ca (%) |
Phẩu thuật sạch nhiễm Số ca (%) |
||
|
Mổ mở |
Mổ NS |
Mổ mở |
Mổ NS |
|
|
Không nhiễm khuẩn |
103(97) |
82(100) |
25(83) |
51(98) |
|
Nhiễm khuẩn |
3(3) |
0(0) |
5(17) |
1(2) |
|
Tổng số |
106 |
82 |
30 |
52 |
Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm trùng ở người bệnh được mổ mở luôn luôn cao dù đó là phẫu thuật sạch hay sạch nhiễm.
Qua khảo sát 270 người bệnh điều nội trú tại Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược chúng tôi nhận thấy tỉ lệ chung NKVM tại khoa Ngoại là 3%, trong đó NKVM của người bệnh được mổ nội soi là 1%; người bệnh được mổ mở là 6%. Người bệnh tiểu đường có tỉ lệ NKVM là 21%; người bệnh không tiểu đường là 2%, người bệnh sử dụng gạc vô trùng có tỉ lệ NKVM là 6%, người bệnh sử dụng Urgo steril là 0%
Trong công thức tính toán cỡ mẫu của chúng tôi, P được chọn là 5%, do đó số bệnh nhân cần cho nghiên cứu tối thiểu phải là 202. Kết quả nghiên cứu xác định được giá trị P là 3%, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu nếu P = 3% là 124. Như vậy số bệnh nhân mà chúng tôi đă khảo sát là 270 người, thỏa yêu cầu tối thiểu theo công thức tính cỡ mẫu.Trong 3 tháng tổng số ca mổ là 1463 ca, nhưng thực tế chỉ chọn 270 ca vào nghiên cứu. Cách chọn như sau: khi ĐD nhận bệnh tại khoa Ngoại nhận hồ sơ từ khoa Hậu phẫu sẽ đánh dấu số thự tự vào hồ sơ bệnh án, những hồ sơ có số thứ tự 5, 10, 15…sẽ được đưa vào nghiên cứu, kết quả có 293 ca nhưng chỉ 270 ca phù hợp với tiêu chí chọn bệnh.
Trong phương pháp đánh giá NKVM, bệnh nhân không đến bệnh viện sẽ được chúng tôi phỏng vấn qua điện thoại. Những trường hợp đến bệnh viện hay nhập viện, chúng tôi sẽ trực tiếp đánh giá hay căn cứ vào hồ sơ bệnh nhân. Phương pháp đánh giá này là khả thi cho chúng tôi v́ hơn 70% bệnh nhân có hộ khẩu tại địa phương, việc tập trung tái khám vào thời điểm 30 ngày sau mổ gây nhiều khó khăn cho người bệnh. Đa số bệnh nhân NKVM của chúng tôi được xếp vào nhóm nhẹ hay trung b́nh nên bệnh nhân có thể chỉ cần săn sóc tại địa phương hay ngoại trú.
Theo báo cáo của bệnh viện Việt
Đức tỉ lệ này là 13% đến 19% vào năm
1991(1). Cùng năm 2006, tại thành phố
Hồ Chí Minh tỉ lệ NKVM của 23 bệnh viện
trong thành phố được tính chung là 10%(3) và tại
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chưa cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ NKVM ở người bệnh của các phân khoa. Tỉ lệ NKVM của các phân khoa lần lượt là: Niệu (7%), Thần kinh (6%), Tiêu hóa (4%), Lồng ngực-Mạch máu (3%), Xương khớp (2%). Ngoại tổng quát (0%). Có thể phản ánh cơ cấu bệnh tật của các chuyên khoa đa số thuộc nhóm phẫu thuật sạch và sạch nhiễm. Những số liệu này có giá trị tham khảo, làm cơ sở để có biện pháp can thiệp giảm tỉ lệ NKVM trong tương lai.
Tỉ lệ NKVM ở người bệnh mổ mở là 6%, mổ nội soi là 1%, điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Kết quả nghiên của chúng tôi không cho phép so sánh tỉ số chênh về NKVM của mổ mở và mổ nội soi.
Tỉ lệ NKVM trên người bệnh có cơ địa tiểu đường (21%), cao hơn một cách có ư nghĩa so với người bệnh không bị tiểu đường (2%) v́ tiểu đường là yếu tố làm chậm lành vết mổ, giảm sức đề kháng. Như vậy, chúng ta phải chuẩn bị trước mổ một cách đầy đủ và chăm sóc sau mổ một cách tích cực để giảm biến chứng này cho nhóm bệnh nhân bị tiểu đường.
Qua khảo sát chúng tôi thấy tỉ lệ NKVM phân bố khác nhau tùy nơi chăm sóc. Đa số người bệnh được chăm sóc vết mổ tại y tế địa phương có tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ thấp. Khi người bệnh xuất viện, đối với những vết mổ sạch như vết mổ sỏi túi mật, bướu giáp, đổ mồ hôi tay… điều dưỡng thường hướng dẫn cách tự chăm sóc tại nhà hoặc tại trạm y tế. Với vết mổ có nguy cơ nhiễm khuẩn cao điều dưỡng thường hướng dẫn người bệnh đến Trung tâm y tế, Bệnh viện Huyện, hoặc điều dưỡng bệnh viện đến nhà thay băng và theo dơi, v́ vậy tỉ lệ nhiễm khuẩn người bệnh ở nhóm này cao hơn so với nhóm bệnh nhân tự chăm sóc tại nhà hoặc tại trạm y tế. Tỉ lệ NKVM ở người bệnh sử dụng băng gạc vô khuẩn là 6%, trong khi tỉ lệ NKVM vết mổ ở người bệnh sử dụng Urgo steril là 0%. Đây là nhận định ban đầu, nghiên cứu này chưa cho phép kết luận ǵ về sự vai tṛ của gạc vô trùng hay Urgo steril đến tỉ lệ NKVM.
Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung tại khoa Ngoại Tổng hợp là 3%. Nhiễm khuẩn vết mổ có thể có liên hệ với: mổ mở hay mổ nội soi, cơ địa tiểu đường, phẫu thuật sạch nhiễm, sử dụng gạc hay Urgo steril. Tỉ lệ NKVM của các phân khoa lần lượt là: Niệu (7%), Thần kinh (6%), Tiêu hóa (4%), Lồng ngực-Mạch máu (3%), Xương khớp (2%).
2.
Tống
Vĩnh Phú. Đánh giá thực trạng và căn nguyên gây nhiễm
khuẩn vết mổ tại khoa ngoại bệnh viện
đa khoa tỉnh
* Bệnh viện
Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
Địa
chỉ liên hệ: ĐD. Phạm Thúy Trinh ĐT: 0909024069 Email: ohdear84@yahoo.com