Mở đầu: BNP đo một lần trong những ngày đầu
sau đau ngực cung cấp nhiều yếu tố tiên
lượng quan trọng trong hội chứng mạch vành cấp
(HCMVC). Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để xác
định, sự diễn tiến theo thời gian (động
học) của nồng độ BNP có liên quan ǵ đến
tỉ lệ tử vong hay không trong HCMVC.
Mục tiêu: Xác
định mối tương quan giữa sự biến
đổi nồng độ BNP theo thời gian và tỉ lệ
tử vong trong tiên lượng gần (30 ngày) trong HCMVC.
Phương pháp: Đây
là một nghiên cứu tiền cứu mô tả và phân tích.
Dân số nghiên cứu là 144 bệnh nhân nhập vào khoa Tim mạch
BV Chợ Rẫy từ tháng 5/2004 đến 2/2005. Nồng
độ BNP trong máu lấy hai lần: lần 1 (12 – 48 giờ)
(BNP 1) và lần 2 (ngày 5 – 6) (BNP 2) sau khởi điểm
đau ngực. Tử vong (TV) do mọi nguyên nhân là biến
cố lâm sàng được quan sát và ghi nhận trong 30
ngày.
Kết quả: Nguy
cơ TV sau HCMVC ở nhóm có BNP lần >BNP lần 1 là 33%, trong khi nguy
cơ TV ở nhóm có BNP lần 2 < BNP lần 1 là 1,6%. Hầu
hết BN TV (18/19 BN chiếm 94,7%) có BNP lần 2 >BNP lần
1, chỉ có 1 BN (chiếm 5,3%) TV có BNP lần 2 <BNP lần
1. Mọi sự khác biệt đều có ư nghĩa thống
kê với p < 0,0001.
Kết luận: Theo
dơi động học nồng độ BNP cho phép dự
đoán nguy cơ tử vong ngắn hạn sau HCMVC.
Từ khóa:
peptide bài natri niệu type B, động học, hội chứng
mạch vành cấp, tử vong
ASSOCIATION BETWEEN THE
DYNAMIC OF THE B-TYPE NATRIURETIC PEPTIDE LEVEL AND THE MORTALITY IN PATIENTS
WITH ACUTE CORONARY SYNDROME
Tran Hoa, Dang Van Phuoc *
Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 -
Supplement of No 1 - 2010: 372 - 378
Background: A single measurement of BNP in the first few days
after the onset of ischemic symptoms provides predictive prognostic information
in patients with ACS.
Objectives: To investigate the relation between the dynamic of
BNP concentrations and the mortality in the short-term prognostic (30 days)
after ACS.
Method: Prospective study on 144 patients at Cardiology
Department,
Results: Group of BNP 2>BNP 1: risk of death was 33% and
group of BNP 2<BNP 1: risk of death was 1.6%. Only one death (5.3%) occurred
among group BNP 2 < BNP 1, but, almost patients of death with BNP 2>BNP
1, (p < 0.0001).
Conclusion: The dynamic of BNP is a strong predictor the
short-term risk of death after acute coronary syndrome.
Keyswords: B –type Natriuretic peptide (BNP), the dynamic,
acute coronary syndrome(ACS), the mortality.
Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là một
biến cố quan trọng và phức tạp của bệnh
động mạch vành (ĐMV). Nó là nguyên nhân hàng đầu
gây tử vong ở các nước phát triển và đang có
khuynh hướng gia tăng ở các nước đang
phát triển. V́ thế, việc nghiên cứu các yếu tố
tiên lượng là một vấn đề quan trọng
giúp phân tầng nguy cơ và thiết lập các biện pháp
điều trị dựa vào nhóm nguy cơ nhằm làm giảm
tỉ lệ tử vong trong HCMVC. Tiên lượng HCMVC cần
được thiết lập ngay khi tiếp cận bệnh
nhân và phải được liên tục đánh giá trong thời
gian nằm viện. Có nhiều yếu tố giúp tiên lượng
và phân tầng nguy cơ sớm trong HCMVC, gồm các yếu
tố lâm sàng: tuổi, giới tính, phân loại Killip (t́nh trạng
huyết động) cũng như các dữ kiện cận
lâm sàng (điện tâm đồ xác định vùng nhồi
máu hay độ chênh của đoạn ST; siêu âm tim giúp xác
định chức năng tim; chức năng thận; các
chất đánh dấu hoại tử cơ tim như
troponin hay CK-MB; các yếu tố viêm như hs-CRP hay fibrinogen
trong máu…(3).
Peptide bài natri niệu type B (BNP) được
tiết từ tâm thất của tim và được xem là
một hormone của tim (4). Trong HCMVC, chuỗi gen mRNA của
BNP được sinh tổng hợp sớm trong tâm thất
và được phóng thích vào máu ngoại biên đáp ứng
với t́nh trạng quá tải tâm thất cấp tính (4). Diễn tiến nồng độ
BNP trong NMCT cấp đa số có dạng một pha: nồng
độ BNP huyết tương tăng nhanh và đạt
nồng độ đỉnh 16 giờ sau đau ngực,
sau đó nồng độ BNP có khuynh hướng giảm
dần. Một số BN NMCT cấp rộng (vùng trước,
nồng độ CK-MB cao, phân suất tống máu thấp…),
ngoài đỉnh cao 16 giờ sau đau ngực, sau đó, nồng
độ BNP giảm và sẽ tăng trở lại tạo
thành đỉnh thứ hai vào khoảng ngày thứ 5 hay thứ
6 (dạng
2 pha).
Nồng độ BNP đo một lần duy nhất lúc nhập viện cung cấp nhiều yếu tố tiên lượng quan trọng trong HCMVC (1). Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để xác định, sự diễn tiến theo thời gian (động học) của nồng độ BNP có liên quan ǵ đến tiên lượng (tử vong) hay không trong HCMVC.
Nghiên cứu tiền
cứu.
Nghiên cứu mối
tương quan giữa sự biến đổi nồng
độ BNP và tỉ lệ tử vong trong tiên lượng
gần (30 ngày) HCMVC.
Bệnh nhân nhập
vào khoa Nội Tim mạch, bệnh viện Chợ Rẫy từ
tháng 5/2004 đến tháng 2/2005, được chẩn
đoán ban đầu là Hội chứng mạch vành cấp.
Những bệnh nhân (BN) nhập vào khoa Nội Tim mạch trước 48 giờ tính từ thời điểm đau thắt ngực, với 2 nhóm:
Nhồi máu cơ tim cấp
(NMCT) ST
chênh lên
HCMVC không ST chênh lên, gồm: NMCT cấp không ST chênh lên và đau thắt ngực không ổn định.
BN < 18 tuổi
Tử vong trước 12 giờ sau cơn đau ngực
Đau ngực không phải hội chứng mạch vành cấp: viêm cơ tim, bóc tách động mạch chủ ngực, viêm màng ngoài tim cấp
BN có bệnh nội khoa nặng kèm theo: suy thận mạn giai đoạn cuối, xơ gan, ung thư đă biết, suy tim mạn đă biết hoặc có triệu chứng gợi ư
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Lựa chọn
vào nghiên cứu những bệnh nhân hội đủ tiêu
chuẩn chọn bệnh và không có tiêu chuẩn loại trừ.
Các thông tin lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập
vào một bệnh án mẫu.
Nồng độ BNP trong máu được thực hiện tại khoa Sinh hóa BV Chợ Rẫy. Mẫu máu được lấy hai lần: lần 1 (12 – 48 giờ) và lần 2 (ngày 5 – 6) sau khởi điểm đau ngực. Mỗi mẫu máu 2 ml đựng vào lọ EDTA và giữ ở nhiệt độ - 800C trước khi xét nghiệm. BNP được đo bằng phương pháp two-site Sandwich Immunoassay trên máy Centaur của Bayer, Hoa Kỳ.
Tử vong do mọi
nguyên nhân là biến cố lâm sàng được quan sát và
ghi nhận trong 30 ngày.
Số liệu
thu thập được phân tích bằng phần mềm
SPSS for Windows 13.0. Sự khác biệt giữa các biến
định tính so sánh bằng phép kiểm chi b́nh
phương. Hệ số tương quan (r) được
sử dụng để xác định sự tương
quan giữa hai biến định lượng. Sự khác
biệt nồng độ BNP trong máu giữa các nhóm
được phân tích dựa vào nồng độ trung
b́nh. Hiệu số giữa BNP đo lần 2 và BNP đo lần
1 “BNP (2-1)” để đánh giá sự biến đổi
động học của nồng độ BNP theo thời
gian và và tử vong trong dân số nghiên cứu. Sự khác biệt
về nồng độ trung b́nh BNP giữa các nhóm dân số
được phân tích bằng kiểm định
Mann-Whitney v́ nồng độ BNP trong máu không phải là phân
phối chuẩn. Mọi sự khác biệt được
xem là có ư nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Trong 10 tháng
đă có 144 BN được đưa vào nghiên cứu với
chẩn đoán ban đầu là HCMVC, gồm: 96 BN (67%) NMCT cấp
ST chênh lên và 48 BN (33%) HCMVC không ST chênh lên. Tuổi trung b́nh là
64,9 ± 13,7, trung vị là 68, nhỏ
tuổi nhất là 31 và lớn tuổi nhất là 93.
|
1.
NMCT cấp ST chênh lên 2.
HCMVC không ST chênh lên, 3. Dân số
chung |
|
|
|
Biểu đồ 1: Phân bố tỉ
lệ TV trong nghiên cứu |
|
Biểu đồ 2: Tỉ lệ TV
cộng dồn theo thời gian |
BNP huyết tương được
đo 2 lần: lần 1 (BNP 1) trong khoảng 12-48 giờ và
lần 2 (BNP 2) trong khoảng ngày 5-6 sau đau ngực.
BNP 1: nồng
độ trung b́nh: 751 ±786 pg/ml và có phạm vi rất rộng
từ 12 đến
4000 pg/ml.
BNP 2: nồng
độ trung b́nh : 846 ± 997 pg/ml và có phạm vi rất rộng
từ 28 đến 5000 pg/ml.
Phân phối tần
suất nồng độ BNP 1 và 2 trong dân số nghiên cứu
không phải là phân phối chuẩn và có phân bố lệch
phải (biểu
đồ 3).
|
Số bệnh nhân
(đo 12-48 giờ
sau đau ngực) |
Số bệnh nhân
(đo ngày 5-6 sau
đau ngực) |
|
Biểu đồ 3: Phân phối tần suất nồng
độ BNP đo lần một và lần hai ở dân số
chung |
|
Ở nhóm bệnh nhân tử vong, nồng độ
BNP đo lần 2 cao hơn nồng bộ BNP đo lần
1, trong khi ở nhóm không tử vong, nồng độ BNP lần 1 và 2 tương
đượng nhau (biểu đồ 4).
|
pg/ml
|
Biểu
đồ 4: Phân bố nồng độ BNP theo thời gian và
tử vong
Chúng tôi phân tích
hiệu số giữa BNP đo lần 2 và lần 1 (gọi
là BNP (2-1) để đánh giá
sự liên quan giữa động học của nồng
độ BNP và TV. Ở nhóm không TV, nồng độ trung
b́nh BNP (2-1)<0, (BNP 2<BNP1, tức là nồng độ BNP
giảm dần) và có phân bố chuẩn (bảng 1 và biểu
đồ 5 A). Trong khi đó, ở nhóm TV, nồng độ
trung b́nh BNP (2-1)>0, (BNP2 >BNP l, tức là nồng độ
BNP tăng) và có phân bố lệch trái (bảng 1 và biểu
đồ 5 B).
Bảng
1: Phân
bố hiệu số nồng độ BNP (2-1) theo
tử vong
|
|
BNP lần 2 – BNP lần
1 (“BNP 2 – 1”) (pg/ml) |
|
|
Không tử vong |
Nhóm tử vong |
|
|
Dân số chung |
- 78 ± 37 1145 ±
1009 (P < 0,001) |
|
|
NMCT cấp ST chênh lên |
- 95 ±
397 958 ± 756 (p < 0,001) |
|
|
HCMVC không ST chênh lên |
- 8 ±
289 1667 ±
1505 (p = 0,002) |
|
|
(số bệnh nhân) A. Không tử vong (*)
|
|
(số bệnh nhân) B. Tử vong (**)
|
Biểu
đồ 5: Phân phối tần suất TV và không TV
theo hiệu số BNP (2-1)
Trong nghiên cứu,
có 11 BN đă tử vong trước ngày thứ 5 nên không có kết
quả BNP lần 2.
Nguy cơ tử
vong ở nhóm có BNP (2-1) > 0 (BNP 2 > BNP 1) là 33%, trong khi nguy
cơ TV ở nhóm BNP (2-1) < 0 (BNP 2 < BNP 1) là 1,6%, sự
khác biệt có ư nghĩa thống kê với p < 0,0001 (Bảng
2).
Hầu hết bệnh
nhân TV (18/19 BN, 94,7%) có BNP 2>BNP 1, chỉ có 1 BN (5,3%) TV có BNP
2 <BNP 1, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê với
p < 0,0001 (Biểu đồ 6).
|
|
|
||||||||||||||||||||
|
|
|
Biểu đồ 6. Tỉ lệ TV
theo diễn tiến của BNP |
||||||||||||||||||||
Chúng tôi ghi nhận có 30 BN tử vong trong 30 ngày
với tỉ lệ 20,8% trong dân số chung. Tỉ lệ
TV do NMCTC STCL là 25% có cao hơn TV do HCMVC KSTCL là 12,5% nhưng
không có ư nghĩa thống kê với p =0,122. Nhóm NMCTC STCL, kết
quả này tương đương với nghiên cứu của
Hoàng Nghĩa Đài (năm 2005) tỉ lệ TV của BN
NMCTC tại BV Thống Nhất – Đồng Nai là 26,6% (5). Tỉ lệ TV trong N/c của chúng tôi
thấp hơn trong N/c của Nguyễn Văn Thành Như (tỉ
lệ TV chung tại bệnh viện là 26,4% ở nhóm có dùng
Streptokinase và 32,8% ở nhóm không dùng Streptokinase). Tuy nhiên, tỉ
lệ TV trong các nghiên cứu ở Việt
Trong nghiên cứu này, TV chủ yếu xảy ra trong tuần lễ đầu tiên. 11 BN (36,7%) TV trong ṿng 3 ngày đầu nhập viện và 25 BN (83,3%) TV trước ngày thứ 10, chỉ có 2 BN (6,7%) TV sau ngày thứ 15 (biểu đồ 2). Theo y văn, nguy cơ TV sau HCMVC giảm dần theo thời gian. Nghiên cứu GUSTO I, 39% BN TV trong 24 giờ đầu và 55% BN TV trong 48 giờ sau NMCT cấp. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ TV trong 24 giờ đầu chỉ có 3,3% (1 BN) có lẽ do chúng tôi đă không đưa vào nghiên cứu những trường hợp TV trước 12 giờ sau HCMVC.
Trong nghiên cứu này, nguyên
nhân TV nhiều nhất là choáng tim và suy tim nặng (50%), tiếp
đến là biến chứng cơ học và NMCT tái phát rồi
đến rung thất. Nghiên cứu của Hoàng Nghĩa
Đài cũng nhận thấy 2 nguyên nhân TV quan trọng nhất
trong NMCTC là choáng tim-suy tim nặng (54%) và biến chứng
cơ học (13,5%)(5). Trong nghiên cứu của chúng tôi, 7 BN
choáng tim (100%), 6 BN có biến chứng cơ học (100%) và 5
trong số 6 BN (83,3%) NMCT tái phát đều tử vong. Điều
này cho thấy, các biến chứng trên là các yếu tố
tiên lượng mạnh TV trong HCMVC khi chúng
xuất hiện.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phân phối tần
suất nồng độ BNP trong máu BN HCMVC không phải là
phân phối chuẩn và có phân bố lệch phải. Nghiên cứu
trên người b́nh thường và trên BN suy tim cho thấy
nồng độ BNP trong máu có phân phối lệch phải.
Tại Việt
Phân bố nồng độ
BNP trong N/c của chúng tôi có phạm vi rất rộng: BNP 1
từ 12 đến 4000 pg/ml và BNP 2 từ 28 đến 5000
pg/ml, kết quả này tương tự với một số
N/c đă công bố như N/c của Lemos phạm vi của
BNP (5-1456 pg/ml) và N/c của Chen-yang (6-1672
pg/ml)(6).
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng
độ trung b́nh của BNP cao hơn rất nhiều so với
các nghiên cứu đă công bố. Tại Việt
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mỗi BN
được lấy máu vào hai thời điểm để
đo nồng độ BNP: lần 1 từ 12 đến 48
giờ và lần 2 trong khoảng
ngày 5- 6 sau cơn đau thắt ngực. Trong khi đó, hầu
hết các nghiên cứu về vai tṛ của BNP và NT-proBNP
trong HCMVC đă công bố chỉ đo nồng độ
BNP trong máu một lần và thời điểm đo rất
thay đổi. Nghiên cứu của Lemos đo BNP trong máu sau
đau ngực 40giờ (± 20). Richards đo BNP từ 1-4 ngày
sau NMCTC; Chen-yang đo BNP trong 6 giờ sau đau ngực (6).
Phương pháp đo nồng độ BNP cũng không đồng nhất và thuốc thử của nhiều nhà sản xuất khác nhau: nghiên cứu của Lemos đo bằng pp miễn dịch men, nghiên cứu của Chen-Yang đo bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang (FIA), nghiên cứu của Richards đo bằng pp miễn dịch phóng xạ (RIA).
Chúng tôi đo nồng độ BNP vào hai thời điểm để đánh giá diễn động học của nồng độ BNP và tỉ lệ TV (theo Morita là hai đỉnh điểm của sự tăng BNP sau NMCT cấp) và nhận xét: Nhóm không TV nồng độ BNP lần 1 và 2 tương đương nhau, trong khi nhóm TV, nồng độ trung b́nh của BNP lần 2 cao hơn lần 1 rất nhiều (biểu đồ 4). Chúng tôi nhận thấy, hầu hết BN tử vong trong 30 ngày (18/19 trường hợp chiếm 94,7%) có BNP 2 > BNP 1, chỉ có 1 BN tử vong có BNP 2 < BNP 1 (bảng 1). Nguy cơ TV sau HCMVC ở nhóm có BNP 2 > BNP 1 là 33%, trong khi nguy cơ TV ở nhóm BNP 2 < BNP 1 chỉ có 1,6%, sự khác nhau có ư nghĩa với p<0,0001. Điều này cho thấy, nhóm bệnh nhân có nồng độ BNP đo lần 2 tăng cao hơn lần 1 (tức là nồng độ BNP tăng theo thời gian), sẽ có nguy cơ tử vong gấp 20 lần hơn nhóm bệnh nhân có nồng độ BNP giảm dần (tức là BNP 2 < BNP 1).
Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nguyên nhân tử vong nhiều nhất là suy tim nặng
hoặc choáng tim, chiếm 50%. Điều này có thể giải
thích được là sự diễn tiến của suy tim
trên lâm sàng tương ứng với mức độ
tăng BNP theo thời gian. Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận, c̣n
50% số BN TV không liên quan đến diễn tiến của
suy tim trên lâm sàng, gồm biến
chứng cơ học (20%), NMCT tái phát (17%) và rung thất
(13%). Điều này cho thấy, theo dơi động học nồng
độ BNP trong HCMVC không chỉ giúp theo dơi diễn tiến
của suy tim mà có thể c̣n có ích lợi trong tiên lượng
những nguyên nhân TV khác không do suy tim.
Nhiều công tŕnh nghiên cứu đă chứng minh, nồng độ BNP là yếu tố dự đoán mạnh mẽ tử vong sau HCMVC và có thể giúp phân tầng nguy cơ sau HCMVC (1,7). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đă thực hiện chỉ đo nồng độ BNP một lần duy nhất (trong giai đoạn sớm) nên không xác định mối tương quan giữa các biến cố lâm sàng và diễn tiến của BNP theo thời gian. Chính v́ vậy, chúng tôi không có dữ liệu để so sánh.
Qua nghiên cứu trên 144 BN HCMVC tại BV Chợ Rẫy,
chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Tỉ lệ
tử vong trong 30 ngày chiếm 20,8%. Thời gian TV trung b́nh là
5,5 ± 3,9 ngày.
- Nguyên nhân TV nhiều nhất là
suy tim và choáng tim (50%), kế đến là biến chứng
cơ học (20%), NMCT tái phát (17%) và rung thất (13%).
- BNP 1 (đo 12 – 48 giờ sau đau ngực) nồng
độ trung b́nh: 751 ± 786 pg/ml và có phạm vi từ 12
đến 4000 pg/ml; BNP 2 (đo 5 – 6 ngày sau đau ngực) nồng
độ trung b́nh: 846 ±997 pg/ml và có phạm vi từ 28 đến
5000 pg/ml.
- Hầu hết BN tử vong trong 30 ngày (18/19 trường hợp chiếm 94,7%) có BNP 2>BNP 1, chỉ có 1 BN tử vong có BNP 2 <BNP 1. Nguy cơ TV sau HCMVC ở nhóm có BNP 2> BNP1 là 33%, trong khi nguy cơ TV ở nhóm BNP 2 <BNP 1 chỉ có 1,6%, với p<0,0001. Điều này cho thấy, nhóm BN có nồng độ BNP tăng theo thời gian (tức BNP 2> BNP1), sẽ có nguy cơ tử vong gấp 20 lần hơn nhóm BN có nồng độ BNP giảm dần (tức BNP 2<BNP1).
Qua kết quả này cho thấy, theo dơi động học nồng độ BNP theo thời gian giúp tiên đoán t́nh h́nh tử vong sau HCMVC.
4. Hama N, Itoh H, Shirakami G, et al (1995). Rapid ventricular induction of brain natriuretic peptide gene expression in experimental acute myocardial infarction, Circulation, 92:1558-Panteghini M, Cuccia C, Bonetti G, et al (2003). Rapid determination of BNP in patients with acute myocardial infarction. Clin Chem Lab Med, 41(2):164-8.
7. Lemos JA, Morrow DA, Omland T, Brauwald E (2001). The prognostic value of B-type natriuretic peptide in patients with ACS. N Engl J Med, 345: 1014 – 1021
*
Bộ môn Nội khoa Y, Đại học Y Dược Tp.Hồ
Chí Minh
Đại chi liên hệ:
BS. Trần Hoà ĐT: 01267835960 Email: tranhoa1176@yahoo.com