NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ LỒI MẮT VÀ
KÍCH THƯỚC CÁC CƠ TRỰC TRONG BỆNH LƯ HỐC MẮT LIÊN QUAN TUYẾN GIÁP

Huỳnh Vơ Mai Quyên*, Lê Minh Thông*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa độ lồi mắt và kích thước các cơ trực trong bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện tại Bệnh viện Mắt TP.HCM từ tháng 9/2008 đến tháng 8/2009, gồm 35 bệnh nhân với 63 mắt được chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp có độ lồi ≥17mm. Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, đo độ lồi mắt, xét nghiệm TSH, FT3, FT4, TRAb, chụp CT scan đo đường kính các bụng cơ trực.

Kết quả: Tần suất ph́ đại cơ theo thứ tự từ cao đến thấp: trực dưới, trực trên, trực trong, trực ngoài. Có mối tương quan giữa sự ph́ đại cơ trực trên, trong, dưới và độ hạn chế vận nhăn. Độ lồi mắt trên lâm sàng có tương quan với chỉ số đường kính bụng cơ, xếp loại lâm sàng và mức độ co trợn mi. Phương tŕnh hồi quy giúp đánh giá mức độ lồi mắt trên lâm sàng: Độ lồi mắt trên lâm sàng = 0,32*Chỉ số đường kính bụng cơ + 10,3. Chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp dựa trên sự tăng nồng độ TRAb hoặc sự ph́ đại cơ trực có độ phù hợp tốt, chặt chẽ.

Kết luận: Tồn tại mối tương quan thuận giữa độ lồi mắt và kích thước các cơ trực. Cần xem nồng độ TRAb như một yếu tố hỗ trợ chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp.

Từ khoá: bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp, lồi mắt, cơ trực, TRAb.

ABSTRACT

EVALUATING THE CORRELATION BETWEEN PROPTOSIS AND RECTUS MUSCLES DIAMETERS IN THYROID RELATED ORBITOPATHY

Huynh Vo Mai Quyen, Le Minh Thong
* Y Hoc TP.
Ho Chi Minh * Vol.14 -Supplement of No 1-2010: 224 - 230

Purpose: Determining the correlation between proptosis and rectus muscles diameters in thyroid related orbitopathy (TRO).

Methods: A cross-sectional study was conducted: 35 patients with 63 eyes were diagnosed with TRO, with the selection criteria of not less than 17 mm proptosis. All patients received clinical examination, serum TSH, FT3, FT4, TRAb test, a CT scan with measured rectus muscles diameters.

Results: The most seen enlarged rectus muscle is the inferior rectus muscle (IM), then the superior (SM), medial (MM) and lateral (LM), respectively. There is a correlation between SM, MM, IM enlargement and ocular motor restriction. The proptosis is correlated with muscle diameter index (MDI), NOSPECS and eyelid retraction. The regression equation: proptosis = 0.32*MDI +10.3. The diagnosis based on rectus muscle enlargement and TRAb level fairly strong agreement.


Conclusion: There is a correlation between proptosis and rectus muscle diameter. TRAb level should be considered as a diagnosis factor in TRO diagnosis.

Keywords: thyroid related orbitopathy, proptosis, rectus muscle, TRAb.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp là một bệnh lư tự miễn xảy ra trên những bệnh nhân rối loạn chức năng tuyến giáp gây ảnh hưởng nặng nề về mặt thẩm mỹ và đời sống của bệnh nhân. Sự xuất hiện của các phương tiện chẩn đoán h́nh ảnh mới như siêu âm, CT scan, MRI giúp quan sát sự ph́ đại cơ vận nhăn, gợi ra giả thuyết rằng có tồn tại mối tương quan giữa độ lồi mắt và sự ph́ đại cơ vận nhăn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra sự liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng, điển h́nh là mức độ lồi mắt với kích thước các cơ trực quan sát được trên CT scan, dẫn đến việc ước lượng độ nặng của bệnh chưa đầy đủ.

V́ những lư do trên, chúng tôi tiến hành công tŕnh “Nghiên cứu mối tương quan giữa độ lồi mắt và kích thước cơ trực trong bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp” nhằm xác định mối tương quan giữa độ lồi mắt và kích thước cơ trực cũng như các yếu tố liên quan khác.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích.

Đối tượng nghiên cứu: Những bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Mắt Tp Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/10/2008 đến 31/08/2009 được chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp có lồi mắt.

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Được chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp, dựa tiêu chuẩn của George Bartley(4) với:

-        Co trợn mí: Bờ mí trên nằm ngang hoặc trên cực trên ŕa giác củng mạc.

-        Rối loạn chức năng tuyến giáp: trên lâm sàng hoặc cận lâm sàng.

-        Lồi mắt: độ lồi Hertel ³17mm hoặc chênh lệch 2 mắt trên 2mm.

-        Ảnh hưởng đến cơ vận nhăn: có giới hạn vận nhăn hoặc ph́ đại cơ quan sát được trên CT scan.

Bảng 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán.

Co trợn mí

+

Rối loạn chức năng tuyến giáp hoặc

Lồi mắt hoặc

Ảnh hưởng đến thị thần kinh hoặc

Có ảnh hưởng đến cơ vận nhăn

Hoặc (không có co trợn mí)

Rối loạn chức năng tuyến giáp

+

Lồi mắt hoặc

Ảnh hưởng đến thị thần kinh hoặc

Có ảnh hưởng đến cơ vận nhăn

-        Có độ lồi mắt ³17mm.

-        Các triệu chứng có thể ở một hoặc cả hai mắt, đồng thời các bệnh lư gây triệu chứng tương tự phải được loại trừ.

-        Tại thời điểm nghiên cứu không áp dụng bất cứ phương pháp điều trị t́nh trạng rối loạn chức năng tuyến giáp nào.

-        Đồng ư tham gia nghiên cứu.

Tiến hành nghiên cứu: có 63 mắt của 35 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào phân tích. Các bệnh nhân được đo thị lực, thăm khám lâm sàng trên sinh hiển vi, đo độ lồi mắt bằng thước Hertel,  xét nghiệm nồng độ TSH, FT3, FT4, TRAb và đo đường kính các bụng cơ trên CT scan theo nguyên tắc của Ewa Fidor-Mikita(3) và Nugent(12). Bụng cơ trực trên và trực dưới được đo ở đường kính lớn nhất trên lát cắt trán. Bụng cơ trực trong và ngoài được đo ở đường kính lớn nhất trên lát cắt trục. Trên thực tế, rất khó phân biệt giữa cơ trực trên phức hợp cơ nâng mi trên – cơ trực trên, nên một số tài liệu gọi chung đây là phức hợp cơ trực trên và tiến này đo đạc trên phức hợp này(3). Một cơ trực được xem là ph́ đại khi đường kính bụng cơ vượt ngưỡng giá trị giá trị trung b́nh cộng hai lần độ lệch chuẩn(8). Cơ trực trên: 4,0 ± 1,4mm, cơ trực trong: 3,7 ± 1.5mm, cơ trực dưới: 4,2 ± 0,8mm, cơ trực ngoài: 3,4 ± 1,3mm.


H́nh trái. Đường kính bụng cơ trực trên và dưới trên lát cắt trán; H́nh phải. GP và đường kính bụng cơ trực trong, ngoài.


Độ lồi mắt trên CT scan được đo theo nguyên tắc của Ewa Fidor-Mikita(3) và Nugent(12). Trên lát cắt trục ở vị trí giữa nhăn cầu, độ lồi trên CT (GP) là khoảng cách từ cực sau nhăn cầu đến đường thẳng nối liền hai mỏm g̣ má. B́nh thường đường thẳng nối liền hai mỏm g̣ má sẽ cắt ngang qua nhăn cầu, khi đó GP có giá trị dương. Trường hợp lồi mắt nặng, nhăn cầu bị đẩy ra trước quá mức, đường thẳng này không cắt được nhăn cầu, GP sẽ có giá trị âm. Mắt được xem là lồi khi có GP thấp hơn khoảng giá trị b́nh thường là 7,5 – 14,7mm(8).

Phân tích số liệu: Các thông số được nhập bằng chương tŕnh Epi Data 3.0 và xử lư thống kê bằng phần mềm Stata 10.0.

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm dịch tễ

Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có độ tuổi từ 20 đến 76, tuổi trung b́nh 51,06 ± 13,19 (năm). Tuổi trung b́nh ở nữ là 47,63 ± 3,18 (năm), ở nam là 55,12 ± 2,86 (năm). Phần lớn bệnh từ 55 đến 65 tuổi, chiếm 34%; không có bệnh nhân nào dưới 15 tuổi. Tỷ lệ nữ trong nhóm nghiên cứu có xu hướng trội hơn nam (54% so với 46%).

21% bệnh nhân có tiền sử rối loạn chức năng tuyến giáp trước đó, với thời gian phát hiện trung b́nh 51,71 ± 77,64 tháng. Hiện tại có 43% có biểu hiện cường giáp như run tay, sụt cân, rụng tóc,... Tuy nhiên, kết quả khám nội tiết cho thấy 77% bệnh nhân cường giáp lâm sàng hoặc dưới lâm sàng, 20% b́nh giáp và 3% viêm giáp Hashimoto.

Thời gian bắt đầu xuất hiện triệu chứng ở mắt đến nay trung b́nh khoảng 19,97 ± 37,83 tháng.

Đặc điểm lâm sàng

Thị lực LogMAR trung b́nh của bệnh nhân trong nghiên cứu là 0,34 (tương đương thị lực Snellen 20/50 – 20/40). 97% bệnh nhân có dấu hiệu co trợn mi trên ở một hoặc cả hai mắt. 46% bệnh nhân có co trợn mi dưới.

9% bệnh nhân có tổn thương biểu mô giác mạc, biểu hiện qua việc thấm màu flour giác mạc. 3% bệnh nhân có t́nh trạng phù gai thị, 2 bệnh nhân (6%) có gai thị nhạt màu 1 đến 2 mắt. Trong hai bệnh nhân này, có một cận thị nặng, do đó nghi ngờ t́nh trạng gai thị nhạt và hắc mạc thoái hóa do cận thị

Triệu chứng hạn chế vận nhăn (N = 35 bệnh nhân):

66% bệnh nhân có t́nh trạng hạn chế vận nhăn ở một hoặc hai mắt, trong số đó thường gặp nhất là hướng lên (60%), kế đến là hướng xuống (46%), trong (32%) và ngoài (32%). Đi vào khảo sát các hướng hạn chế vận nhăn, Jankauskiene ghi nhận 78% có hạn chế vận nhăn hướng ngoài, 72% hướng trong, 63% hướng trên và 37% hạn chế vận nhăn hướng xuống(5). Sự chệnh lệch này có thể do khác biệt về chủng tộc, tiêu chuẩn chọn mẫu lẫn cỡ mẫu. Một số tác giả giả thuyết, triệu chứng hạn chế vận nhăn xuất hiện do sự ph́ đại và xơ hóa cơ đối vận, dẫn đến cơ đối vận phải chịu lực lớn hơn b́nh thường. Bên cạnh đó, chính bản thân cơ ph́ đại xơ hóa cũng có lực kéo kém hơn, dẫn đến hạn chế vận nhăn tại hướng họat trường của cơ. Thực tế, khi đi sâu vào phân tích sự ph́ đại cơ vận nhăn, cả nghiên cứu hiện tại lẫn Jankauskiene đều chứng tỏ sự nhất quán trong kết quả.

Phân độ biểu hiện mắt: Trong nghiên cứu này tác giả dựa theo bảng phân loại NOSPECS được Werner giới thiệu vào năm 1963 để phân loại lâm sàng. Nam giới trong nghiên cứu có t́nh trạng bệnh lư hốc mắt liên quan hốc mắt nặng hơn nữ giới, và sự khác biệt này có ư nghĩa về mặt thống kê (t test: p=0,02<0,05). Mức độ nặng của bệnh quan sát được trên lâm sàng có mối tương quan thuận có ư nghĩa với tuổi của bệnh nhân (p=0,0017<0,05). Điều này cũng được ghi nhận trong một số y văn trên thế giới(1)(6). Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam của tác giả Phạm Thị Bích Thủy cũng cho kết quả tương tự(11).

Đặc điểm nội tiết

66% bệnh nhân có biểu hiện cường giáp lâm sàng, 11% cường giáp dưới lâm sàng, 20% b́nh giáp và 3% thuộc nhóm viêm giáp Hashimoto và không phát hiện bệnh nhân nào nhược giáp. Nồng độ TSH trung b́nh 1,07 ± 1,79 UI/l, giá trị nhỏ nhất là 0,00 và lớn nhất là 8,90 UI/l, không có sự khác biệt về nồng độ TSH giữa các bệnh nhân có xếp loại lâm sàng khác nhau. 97% bệnh nhân trong nghiên cứu có nồng độ TRAb trong máu vượt ngưỡng b́nh thường. Nồng độ TRAb trung b́nh là 11,48 ± 6,02 UI/l, không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê của nồng độ TRAb giữa các nhóm bệnh nhân được xếp loại lâm sàng khác nhau.

Độ lồi mắt trung b́nh

Độ lồi mắt trung b́nh trên lâm sàng: độ lồi mắt trung b́nh trên lâm sàng cho cả hai giới là 19,89 ± 2,44mm, dao động từ 17mm đến28 mm. Giá trị này giữa hai nhóm nam và nữ có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (nam 20,29 ± 4,54mm, nữ 19,29 ± 1,96mm, p=0,04). Y văn thế giới ghi nhận một số tác giả nghiên cứu trên những bệnh nhân có lồi mắt(5)(7); tuy nhiên, sự khác biệt về chủng tộc dẫn đến các tiêu chuẩn định nghĩa lồi mắt khác nhau nên khó có thể kết luận về tính chất tương đồng của các kết quả thu được. C̣n tại Việt Nam, hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát trên những bệnh nhân bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp có lồi mắt.

Độ lồi trung b́nh trên CT scan: giá trị trung b́nh trong nhóm nghiên cứu là 4,83 ± 2,43mm, dao động từ -3mm đến 8mm. Độ lồi mắt trung b́nh ghi nhận trên CT scan giữa hai giới có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (nam 4 ± 0,50mm, nữ 5,5 ± 0,33mm, p = 0,0147).

Đường kính trung b́nh bụng các cơ trực

Bảng 2. Đường kính trung b́nh bụng các cơ trực so sánh với các nghiên cứu khác.

 

Cơ trực trên (mm)

Cơ trực trong (mm)

Cơ trực dưới (mm)

Cơ trực ngoài (mm)

H.V.M.Quyên

6,05 ± 1,97

5,26 ± 1,38

6,71 ± 1,60

4,56 ± 1,18

BLHMLQTG*

5,3 ± 1,9

5,4 ± 1,8

6,5 ± 2,5

3,9 ± 1,6

B́nh thườnga

3,8 ± 0,7

4,1 ± 0,5

4,9 ± 0,8

2,9 ± 0,6

B́nh thườngβ

3,2 – 6,1

3,3 – 5,0

3,2 – 6,5

1,7 – 4,8

B́nh thườngγ

4,0 ± 1,4

3,7 ±1,3

4,2 ± 0,8

3,4 ± 1,3

B́nh thườngδ

3,9 ± 2,4

4,0 ± 1,8

3,9 ± 2,4

3,4 ± 2,0

*: Kết quả của Ewa Fidor-Mikita trên bệnh nhân bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp; a: theo Nugent (1990)(12); β: theo Ozgen (1998)(10); γ: theo Lee (2001)(8); δ: theo Shelkh (2007)(13).

Đường kính trung b́nh của cơ trực dưới có giá trị lớn nhất, kế đến là cơ trực trên, cơ trực ngoài. Cơ trực trong có đường kính trung b́nh nhỏ nhất. Thứ tự này góp phần giải thích cho tần suất giới hạn vận nhăn theo các hướng khác nhau: nhiều nhất là hướng xuống, sau đó hướng lên. Kết quả này là sự trùng khớp với những công bố từ một số nghiên cứu khác như Ewa Fidor-Mikita(3) và Shelkh(13).

Đường kính bụng các cơ trực trên, trong, dưới có mối tương quan có ư nghĩa với mức độ hạn chế vận nhăn (p lần lượt có giá trị 0,0472; 0,0442 và 0,0342). Cơ thường ph́ đại nhất là cơ trực dưới (94%), kế đến là cơ trực trên (67%), cơ trực trong (59%) và cuối cùng là cơ trực ngoài (29%). Nhóm cơ thường ph́ đại nhất là nhóm trực trên, trong, dưới (27%); sau đó đến nhóm cả 4 cơ trực (22%). So sánh với kết quả do Nugent công bố(12), tác giả ghi nhận sự đảo ngược nhẹ vị trí giữa hai nhóm cơ dẫn đầu này, tuy nhiên sự chênh lệch này có thể xuất phát từ sự khác nhau về cỡ mẫu cũng như chủng tộc.

Trường hợp ph́ đại đơn độc một cơ, cơ trực dưới là cơ thường bị ph́ đại nhất. Kết luận này đă được khẳng định bởi Nugent(12). Trên thực tế lâm sàng, một trường hợp ph́ đại đơn độc cơ trực rất khó chẩn đoán và đ̣i hỏi nhà lâm sàng phải t́m thêm những yếu tố hỗ trợ chẩn đoán như tiền sử, xét nghiệm huyết thanh hay thậm chí sinh thiết cơ để xác định.

Tác giả sử dụng một chỉ số đại diện cho từng mắt là chỉ số đường kính bụng cơ (MDI), bằng tổng giá trị kích thước bụng cả 4 cơ trực trên chính mắt đó. Chỉ số này có giá trị trung b́nh 22,58 ± 5,01mm, giá trị nhỏ nhất là 26,80mm và lớn nhất 79,30mm; giá trị trung vị 22,40mm. Chỉ số này có mối tương quan có ư nghĩa với nồng độ TRAb (R=0,5973, p<0,0001).  Mối tương quan này cũng từng được khẳng định bởi Kvetny(7). Tuy nhiên, khó có thể nhận định t́nh trạng ph́ đại và xơ hóa cơ vận nhăn do chính bản thân kháng thể TRAb tấn công vào, hay t́nh trạng này là kết quả của các phản ứng miễn dịch mà TRAb chỉ là chỉ số đánh giá mức độ hoạt động.

Mối tương quan giữa lồi mắt với ph́ đại cơ và các yếu tố khác

Kết quả cho thấy độ lồi mắt trên lâm sàng có tương quan mạnh với chỉ số đường kính bụng cơ (r=0,6506, p<0,0001). Ngoài ra, độ lồi mắt trên lâm sàng c̣n có tương quan trung b́nh với xếp loại lâm sàng (r=0,3683, p=0,0030) và độ co trợn mi (r=0,3306, p=0,0081). Kết luận này phù hợp với nghiên cứu của tác giả trên thế giới như Kvetny(7) và Fidor-Mikita(3).

Mặt khác, mối tương quan giữa độ co trợn mi và lồi mắt có thể giúp đặt ra mối quan tâm mới, liệu có phải t́nh trạng co trợn mi đă góp phần tạo nên “ảo giác lồi mắt”, do phần diện tích nhăn cầu lộ ra nhiều hơn; hay co trợn mi chỉ là một triệu chứng tương quan thuận với độ nặng trên lâm sàng, cũng như lồi mắt.

Đi vào phân tích hồi quy đơn biến, tác giả ghi nhận được mối tương quan hồi quy giữa độ lồi mắt trên lâm sàng với xếp loại lâm sàng (p=0,0019), độ co trợn mi (p=0,0218) và chỉ số đường kính bụng cơ (p<0,0001). Tuy nhiên, khi đi vào phân tích đa biến, mối tương quan này chỉ c̣n tồn tại giữa độ lồi mắt trên lâm sàng và chỉ số đường kính bụng cơ chung (R-squared=0,3574, p<0,0001).

So sánh R-squared của phương tŕnh đơn biến (0,3459) và phương tŕnh đa biến (0,3574), có thể kết luận mô h́nh đa biến có tác dụng dự đoán tốt hơn, giải thích được 35,74% sự biến thiên của độ lồi mắt trên lâm sàng. Độ lồi mắt trên lâm sàng = 0,32*Chỉ số đường kính bụng cơ + 10,31.

Tuy nhiên, tỷ lệ 35,74% là tương đối thấp, do đó gợi ư về sự tồn tại của những yếu tố khác có khả năng ảnh hưởng lên độ lồi mắt. Một trong những yếu tố được y văn thế giới đề cập là mô mỡ hốc mắt(9)(12). Tuy vậy, một số tác giả khác lại ghi nhận t́nh trạng mô mỡ thu nhỏ, với lư giải các cơ vận nhăn ph́ đại sẽ gây chèn ép dẫn đến giảm thể tích mô mỡ(7). Việc xác định thể tích mô mỡ hốc mắt qua các phương tiện chẩn đoán h́nh ảnh đ̣i hỏi những thuật toán phức tạp và sự hỗ trợ từ các chuyên gia chẩn đoán h́nh, gợi ư việc thực hiện một công tŕnh nghiên cứu có sự phối hợp từ cả hai phía để làm rơ thêm vấn đề này.

Xác định độ phù hợp giữa sự ph́ đại cơ trực và nồng độ TRAb trong chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp

Bảng 3. Mức độ phù hợp trong chẩn đoán giữa sự ph́ đại cơ trực và nồng độ TRAb.

 

Ph́ đại cơ trực

Tồng

Không

Tăng nồng độ TRAb

Không

2

0

2

1

60

61

Tổng

3

60

63

Độ phù hợp quan sát = 98,41%

Độ phù hợp tính toán = 92,37%

Kappa = 0,79; p < 0,0001

Việc chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp hiện nay phần lớn dựa trên đặc điểm h́nh ảnh học, cơ vận nhăn ph́ đại chủ yếu ở bụng cơ và phần gân cơ không bị ảnh hưởng. Ph́nh bụng cơ có đường viền tṛn nhẵn và không phù tổ chức mỡ hốc mắt. Sự ph́nh to của cơ trực trong có thể khiến thành trong hốc mắt vơng về phía xương sàng do ảnh hưởng bởi một áp lực măn tính trên cấu trúc xương.

 Thời gian gần đây, xuất hiện một xu hướng mới là sử dụng nồng độ kháng thể TRAb trong chẩn đoán, nhất là trong những trường hợp mới phát hiện và cần cân nhắc. Tác giả Đinh Viết Nghĩa cũng kết luận “TRAb là xét nghiệm có tính đặc hiệu cao và có giá trị chẩn đoán sớm, đáng tin cậy cho bệnh mắt liên quan tuyến giáp tự miễn(2).

Hệ số Kappa=0,79 (p<0,0001) cho thấy sự phù hợp trong hai hướng chẩn đoán, dựa trên sự ph́ đại cơ trực và dựa trên sự tăng nồng độ TRAb. Độ phù hợp này tương đối mạnh và chặt chẽ, giá trị trong chẩn đoán của hai yếu tố trên là tương đối đồng đều.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu qua 35 bệnh nhân với 63 mắt thỏa điều kiện về độ lồi cho thấy:

-        Độ lồi mắt trung b́nh trên lâm sàng: 20,29 ± 4,54mm ở nam và 19,29 ± 1,96mm ở nữ.

-        Đường kính trung b́nh của bụng cơ trực theo mm: trực trên 6,05 ± 1,97, trực trong 5,26 ± 1,38 , trực dưới 6,71 ± 1,60, trực ngoài 4,56 ± 1,18. Chỉ số đường kính bụng cơ trung b́nh 22,58 ± 5,01. Tần suất ph́ đại cơ theo thứ tự từ cao đến thấp: trực dưới, trực trên, trực trong, trực ngoài. Có mối tương quan giữa sự ph́ đại cơ trực trên, trong, dưới và độ hạn chế vận nhăn.

-        Độ lồi mắt trên lâm sàng có tương quan với chỉ số đường kính bụng cơ, xếp loại lâm sàng và mức độ co trợn mi. (p lần lượt <0,0001; 0,0019 và 0,0218) Phương tŕnh hồi quy giúp đánh giá mức độ lồi mắt trên lâm sàng: Độ lồi mắt trên lâm sàng = 0,32*Chỉ số đường kính bụng cơ + 10,31.

-        Chẩn đoán bệnh lư hốc mắt liên quan tuyến giáp dựa trên sự tăng nồng độ TRAb hoặc sự ph́ đại cơ trực có độ phù hợp tốt, chặt chẽ. Giá trị trong chẩn đoán của hai yếu tố trên là tương đối đồng đều (Kappa=0,79).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Burch H. B., Gorman C.A., Bahn R. S., Garrity J.A. (1996). Ophthalmology. In: Werner and Ingbar's the thyroid: 536 - 553.

2.          Đinh Viết Nghĩa (2008). Ứng dụng các xét nghiệm tự kháng thể TRAb và Anti-TPO trong các trường hợp bệnh mắt liên quan tuyến giáp khó chẩn đoán. Paper presented at the Hội nghị nhăn khoa toàn quốc 2008, TP. Hồ Chí Minh.

3.          Ewa Fidor-Mikita, Witold Krupski (2008). Computed tomography imaging of orbits in thyroid orbitopathy. Journal of Pre-Clinical and Clinical Reasearch; 2(1): 59 - 63.

4.          George B. Bartley (2002). Clinical manifestation of Graves' ophthalmology. In: Jonathan J.Dutton, Barrett G.Halk (Eds.). Thyroid eye disease: Diagnosis and treatment: 285 - 308.

5.          Jankauskiene J., Imbrasiene D. (2006). Investigations of ocular changes, extraocular muscle thickness, and eye movements in Graves' ophthalmopathy. Medicina (Kaunas); 42(11): 900 - 903.

6.          Kendler D.L., Lippa J., Rootman J. (1993). The initial clinical characteristics of Graves' orbitopathy vary with age and sex. Arch Ophthalmol; 111: 197 - 201.

7.          Kvetny J., Puhakka K.B., Rohl L. (2006). Magnetic resonance imaging determination of extraocular eye muscle volume in patients with thyroid-associated ophthalmopathy and proptosis. Acta Ophthalmol Scand; 84(3): 419 - 423.

8.          Lee J.S., Lim D.W., Lee S.H., Oum B.S., Kim H.J., Lee H.J. (2001). Normative measurements of Korean orbital structures revealed by computerized tomography. Acta Ophthalmol Scand; 79: 197 - 200.

9.          Nishida Y., Tian S., Isberg B., Hayashi O., Tallstedt L., Lennerstrand G. (2002). Significance of orbital fatty tissue for exophthalmos in thyroid-associated ophthalmopathy. Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol; 240: 515 - 520.

10.       Ozgen A., Ariyurek M. (1998). Normative measurements of orbital structures using CT scan. Am. J. Roentgenol; 170: 1093 - 1096.

11.       Phạm Thị Bích Thủy (2000). Khảo sát những biểu hiện ở mắt trong bệnh Basedow. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú.

12.       Robert A. Nugent, Rod I. Belkin, Janet M. Neigel, Jack Rootman, William D. Robertson, John Spinelli, et al. (1990). Graves Orbitopathy: Correlation of CT and clinical findings. Radiology; 177: 675 - 682.

13.       Shelkh M., Abalkhail S., Doi S.A., Al-Shoumer K.A. (2007). Normal measurement of orbital structures: implications for the assessment of Graves' ophthalmopathy. Australas Radiol; 51(3): 253 - 256.