Vơ Thị
Nhật Khuyên*, Nguyễn Văn Chừng*, Nguyễn Thị
Ngọc Đào*
Mục tiêu: T́m hiểu đặc điểm lâm sàng, những rối
loạn về huyết động trong mổ và giảm
đau sau mổ điều trị lơm ngực bằng phẫu
thuật Nuss.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả cắt ngang.
Kết quả nghiên cứu: 64 bệnh nhân ASA I- II, 8- 21 tuổi (trung b́nh 15,28
±2,76) với tỉ lệ nam/nữ là 3,27/1, mổ điều
chỉnh lơm ngực bằng phương pháp Nuss. Tất cả
đă được điều chỉnh biến dạng
thành công và an toàn với những tai biến
thoáng qua trong mổ như ngoại tâm thu (70%) và tụt huyết áp
(27%) hay mạch chậm (5%). Sau mổ hầu hết các bệnh
nhân chấp nhận được đau nhờ kiểm
soát giảm đau ngoài màng cứng với mức đau
trung b́nh dao động khoảng từ 3,53
± 0,69 giảm dần đến 2,41 ± 0,61. Biến
chứng gồm tràn khí màng phổi (58%) và nôn- buồn nôn
(11%); ngoài ra một trường hợp suy hô hấp cần
dẫn lưu màng phởi
cấp cứu và một trường hợp di lệch
thanh nâng.
Kết luận: Phẫu thuật điều chỉnh lơm ngực tuy
c̣n mới mẻ ở nước ta nhưng có thể tiến
hành phổ biến v́ số lượng bệnh khá
đông, kết quả phẫu thuật tốt và quá tŕnh mổ
an toàn nhờ sự phối hợp chặt
chẽ giữa nhóm phẫu thuật với nhóm gây mê hồi
sức.
Từ khóa: Gây mê hồi sức, lơm ngực bẩm sinh, phẫu
thuật Nuss, gây tê ngoài màng cứng.
CHARACTERISTICS
ANESTHESIA OF PECTUS EXCAVATUM REPAIR.
Vo Thi Nhat Khuyen , Nguyen Van Chung, Nguyen Thi Ngoc Đao
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 7 – 13
Objects: Characteristics of pectus excavatum in
Methods: Prospective, descriptive, cross-sectional study.

Results: 64 patients ASA I-II (male/female 3.17/1) aged between 8-21 (mean 15.28 ±2.76) were treated by Nuss
procedure in
Conclusions: despite this is a new surgery in
Keywords: anesthesia, pectus excavatum, Nuss
procedure, epidural analgesia
Dị dạng lơm ngực bẩm
sinh là một trong những loại dị dạng bẩm
sinh thường gặp ở trẻ em. Ở các
nước phát triển bệnh lư này đă được
chẩn đoán và điều trị sớm khi trẻ c̣n
nhỏ nhằm tạo thuận lợi cho cuộc mổ
cũng như sự hồi phục tốt
hơn(15,3).
Ở nước ta dị dạng lơm ngực
không hiếm nhưng v́ những
kiến thức cơ bản
về chẩn đoán và điều trị c̣n chưa được phổ
biến nên người dân hầu như không biết đến bệnh lư này. Ngày
trước do c̣n thiếu kinh nghiệm các bác sỹ đă
tiến hành một số phương pháp phẫu thuật nặng nề, thời
gian nằm viện lâu và phục hồi chậm(3,8). Từ năm 1987 Danald Nuss đánh dấu một bước
ngoặc quan trọng khi thực hiện một kỹ thuật
mới dùng thanh kim loại luồn dưới xương ức để điều
chỉnh biến dạng lồng ngực, gọi là phẫu
thuật Nuss(3,9). Từ đó phẫu thuật Nuss
đă được áp dụng rộng răi ở nhiều
quốc gia và đến năm
2008 th́ bắt đầu thực hiện tại bệnh
viện Đại học y dược thành phố Hồ
Chí Minh.
Cuộc mổ có nhiều điểm lưu ư từ lứa tuổi
bệnh nhân, nguy cơ xảy
ra các tai biến nặng nề trong và sau
mổ, cũng như ảnh hưởng
đáng kể của t́nh trạng đau đớn sau mổ.
Do đó quá tŕnh gây mê hồi sức và giảm đau sau mổ
đối với phẫu thuật này có những điểm
riêng so với các cuộc mổ khác. Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này t́m hiểu cụ thể hơn những đặc
điểm lâm sàng của bệnh lư này, những rối loạn
về huyết động, các nguy cơ và tai biến nhằm
đúc kết kinh nghiệm để việc gây mê hồi
sức cho cuộc mổ ngày càng an toàn và hiệu quả
hơn.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Tuổi từ 3
trở lên, thuộc cả hai giới
- Đồng ư tham
gia nghiên cứu.
- Có chỉ
định điều chỉnh biến dạng lồng
ngực bằng phương pháp Nuss.
- Không chống
chỉ định với Bupivacain.
- Phân loại ASA I,
II.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Tiền sử
dị ứng với thuốc tê.
- Bệnh nhân
hoặc thân nhân từ chối tham gia.
- Bệnh nhân
được phẫu thuật điều chỉnh
biến dạng lồng ngực trước đây.
Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp mô tả, tiền cứu cắt ngang. Nghiên cứu tiến hành tại khoa phẫu thuật – cơ sở I bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ 01/2009 đến 09/2009.
Chuẩn bị bệnh nhân: tất cả bệnh nhân có chỉ định mổ lơm ngực đều được khám tiền mê thường qui vào ngày trước mổ để kiểm tra các xét nghiệm cơ bản, phát hiện bệnh lư kèm theo, tiền sử dị ứng thuốc đặc biệt thuốc gây tê, thuốc kháng sinh, phân loại ASA, đánh giá độ Mallampati, các yếu tố tiên lượng đặt khí quản khó và xem xét các chống chỉ định gây tê ngoài màng cứng. Giải thích cho bệnh nhân và người nhà về phương pháp vô cảm sẽ tiến hành. Đêm trước mổ bệnh nhân được uống thuốc an thần Lexomil 3mg hoặc Seduxen 5mg
Phương thức tiến hành: Tất cả bệnh nhân được gây mê nội khí quản.
Vào pḥng mổ: bệnh nhân được tiền mê Midazolam 0,02 – 0,05 mg/kg, Fentanyl 1– 2 mcg/kg.
Chuẩn dụng cụ và tư thế bệnh nhân tiến hành gây tê đặt catheter ngoài màng cứng.
Khởi mê với thuốc mê tĩnh mạch Propofol 2-3 mg/kg, Rocuronium (Esmeron) 0,6 mg/kg; Đặt nội khí quản thở máy; Duy tŕ mê bằng Isoflurane hoặc Sevoflurane.
Đặt catheter động mạch quay và một đường truyền tĩnh mạch lớn bằng kim 18G- 16G.
Bơm một liều tải vào khoang ngoài màng cứng với dung dịch Lidocaine 1% 5- 10ml.
Có thể thêm giảm đau, giăn cơ trong mổ nếu cần.
Trong lúc mổ theo dơi sát bệnh nhân, điện tim, huyết áp, mạch và các thông số hô hấp khác.
Phẫu thuật Nuss: xác định lại type biến dạng các vị trí lồi lơm trên thành ngực, đo và uốn thanh kim loại. Hai vết mổ 1-2 cm hai bên thành ngực dọc đường nách trước, dùng clamp mạch máu Crawforth bóc tách xuyên qua khoang màng phổi vào trung thất rồi qua khoang màng phổi đối bên và đặt khung kim loại đă uốn định h́nh vào trong lồng ngực.Cố định thanh nâng vào xương sườn hai bên ở năm điểm. Thanh nâng sẽ được giữ khoảng 2 đến 3 năm hoặc lâu hơn để tái định h́nh lồng ngực(15).
Giảm đau trong 24 giờ đầu sau mổ: bắt đầu truyền giảm đau ngoài màng cứng trong lúc phẫu thuật liên tục đến 3-4 ngày sau mổ. Kết hợp giảm đau tĩnh mạch bằng Paracetamol 15mg/kg mỗi 6 giờ. Có thể thêm Ketorolac 0.5 mg/kg tiêm tĩmh mạch nếu cần.
Thu thập số liệu: đặc điểm chung: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, ASA, phân loại lơm ngực, số lượng thanh nâng, thời gian gây mê, thời gian phẫu thuật, lượng thuốc dùng trong gây mê.
Ghi nhận mạch, huyết áp, ECG, SpO2 , PetCO2 , áp lực đường thở, các tai biến- biến chứng và cách xử trí chúng trong mổ và 48 giờ sau mổ.
Đánh giá đau: thời gian từ khi tỉnh hẳn tới 48 giờ sau mổ, điểm đau theo thang điểm lời nói ở các thời điểm: 30 phút, 6 giờ, 24 giờ và 48 giờ sau mổ. Đồng thời theo dơi và xử trí những biến chứng của giảm đau ngoài màng cứng.
Xử lư số liệu: theo phần mềm Stata 10.0 với phép kiểm student, p<0,05 được coi là khác biệt có ư nghĩa thống kê.
Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân (n=64)
|
Giới (nam/nữ) |
49/15 |
|
|
Tuổi |
Trung
b́nh |
15,28 ± 2,76 |
|
Cao nhất |
21 |
|
|
Thấp nhất |
8 |
|
|
Cân nặng (kg) |
Trung b́nh |
43,58 ± 8,91 |
|
Cao nhất |
65 |
|
|
Thấp nhất |
20 |
|
|
Chiều cao (cm) |
Trung b́nh |
158,33 ± 15,49 |
|
Cao nhất |
183 |
|
|
Thấp nhất |
110 |
|
|
ASA |
I |
57 |
|
II |
7 |
|
|
Mallampati |
I |
57 |
|
II |
7 |
|
|
Bệnh kèm theo |
Basedow |
1 |
|
Block AV |
1 |
|
|
Suyễn |
1 |
|
|
Thông liên nhĩ |
1 |
|
|
Viêm phế quản |
1 |
|
|
Viêm Amydale |
1 |
|
|
Viêm xoang |
1 |
|
|
Viêm cầu thận |
1 |
|
Có 64 bệnh
nhân với tỉ lệ nam/nữ là 3,27/1
có tuổi trung b́nh 15,28 ±2,76. Khám tiền mê đánh giá đa
số ASA I(89%), Mallampati I(89%) và có 8 bệnh
nhân có bệnh kèm theo (12,5%)
Bảng 2: Đặc điểm bệnh lư
và phẫu thuật (n=64)
|
Thời điểm phát hiện bệnh (tuổi) |
7,31 ± 5,53 |
|
|
Triệu chứng |
Mệt khi
gắng sức |
17 |
|
Đau ngực |
10 |
|
|
Khó thở |
4 |
|
|
Phân loại
lơm ngực |
1a |
18 |
|
1b |
18 |
|
|
2a1 |
10 |
|
|
2a2 |
10 |
|
|
2a3 |
6 |
|
|
2b |
2 |
|
|
Số
thanh nâng |
1 |
33 |
|
2 |
31 |
|
|
Thời
gian phẫu thuật |
Trung b́nh |
67,89 ± 22,88 |
|
Cao nhất
|
120 |
|
|
Thấp nhất |
25 |
|
|
Thời
gian gây mê |
Trung b́nh |
88,91 ± 25,03 |
|
Cao nhất |
140 |
|
|
Thấp nhất |
45 |
|
Thời
điểm phát hiện bệnh trung b́nh là 7,31 ± 5,53 tuổi,
trong đó 17 (27%) trường hợp thấy rơ từ lúc mới
sinh, 12 (19%) trường hợp lúc 6tuổi và 26 (41%) trường
hợp phát hiện vào giai đoạn dậy th́. Phân loại
lơm ngực gồm 56% đồng tâm và 44% lệch tâm và không
có sự khác biệt về phân loại lơm ngực giữa
nam và nữ.Thời gian phẫu thuật trung b́nh 67,89 ± 22,88
phút và thời gian gây mê trung b́nh là 88,91 ± 25,03 phút.
Bảng 3: Liều lượng thuốc gây
mê dùng trong mổ.
|
Midazolam (mg) |
1,32 ± 0,67 |
|
|
Propofol (mg) |
89,69 ± 19,68 |
|
|
Fentanyl (mcg) |
112,03 ± 34,56 |
|
|
Rocuronium (mg) |
34,63 ± 11,31 |
|
|
Lidocaine 1% bolus NMC (ml) |
7,97 ± 1,26 |
|
|
Thuốc mê hô hấp |
Isoflurane |
17/64 |
|
Sevoflurane |
47/64 |
|
Bảng 4: Đặc điểm huyết
động trong và sau mổ.
|
Thời điểm |
|
Thời điểm |
|
|
M1* |
89,72 ± 14,30 |
HATB1* |
85,13 ± 11,38 |
|
M2# |
85,25 ± 13,44 |
HATB2# |
68,34 ± 10,35 |
|
M3** |
77,52 ± 13,52 |
HATB3** |
64,61 ± 08,47 |
|
M4** |
72,44 ± 12,83 |
HATB4** |
63,20 ± 08,06 |
|
M5** |
74,49 ± 13,90 |
HATB5 |
65,55 ± 10,10 |
|
M6** |
78,44 ± 16,43 |
HATB6 |
71,89 ± 11,28 |
|
M7** |
73,75 ± 14,11 |
HATB7 |
66,19 ± 07,23 |
|
M8** |
72,06 ± 12,81 |
HATB8 |
69,91 ± 08,67 |
|
M9** |
75,58 ± 14,25 |
HATB9* |
81,64 ± 11,66 |
|
M10** |
75,58 ± 12,05 |
HATB10* |
81,61 ± 09,56 |
|
M11** |
74,45 ± 11,34 |
HATB11* |
81,02 ± 09,75 |
|
M12** |
76,94 ± 11,19 |
HATB12* |
79,67 ± 09,02 |
|
M13** |
81,20 ± 07,66 |
HATB13* |
78,47 ± 06,25 |
#: thời điểm chuẩn để so sánh
*: tăng có ư nghĩa thống kê; **: giảm có ư nghĩa thống kê
T pm1: vào pḥng mổ
T pm2: trước đặt NKQ
T pm3: sau đặt
NKQ
T pm4: sau rạch
da
T pm5: nâng
xương ức
T pm6: luồn
thanh nâng
T pm7: khâu cố
định
T pm8: đóng
da
T hp1: giao hậu
phẫu
T hp2,3,4,5: HP 30 phút, 6 giờ, 24 giờ, 48 giờ
Mạch của
bệnh nhân tăng lúc mới vào pḥng mổ nhưng sau
đó đều giảm có ư nghĩa. Huyết áp trung b́nh giảm
có ư nghĩa sau khi dẫn mê đến khi rạch da, sau
đó tăng có ư nghĩa ở giai đoạn hậu phẫu
và khác biệt không có ư nghĩa ở các thời điểm
khác.
Bảng 5: Tai biến-
biến chứng trong và sau mổ.
(n=64)
|
Tụt huyết áp trong mổ |
17 |
|
Ngoại tâm thu |
45 |
|
Chậm nhịp tim |
3 |
|
Buồn nôn- nôn |
7 |
|
Tràn khí màng phổi |
37 |
|
Suy hô hấp sau mổ |
1 |
|
Di lệch thanh nâng |
1 |
Tai biến trong mổ gồm xuất hiện ngoại tâm thu (70%) với chỉ 1 trường hợp dùng Lidocaine và tụt huyết áp (27%) với 5 trường hợp dùng Ephedrine và 1 trong 3 trường hợp mạch chậm cần dùng Atropine. Biến chứng tràn khí màng phổi khá phổ biến sau mổ (58%) với 1 trường hợp biểu hiện suy hô hấp cần dẫn lưu màng phổi cấp cứu.
Bảng
6: Điểm đau sau mổ.
|
Sau mổ 30 phút |
3,53 ± 0,69 |
|
Sau mổ 6 giờ |
3,36 ± 0,63 |
|
Sau mổ 24 giờ |
2,89 ± 0,96 |
|
Sau mổ 48 giờ |
2,41 ± 0,61 |
Điểm tự đánh giá đau sau mổ trung b́nh của các bệnh nhân thay đổi từ 3.53 ± 0.69 giảm dần đến 2.41 ± 0.61 và hầu hết bệnh nhân đều chấp nhận được, chỉ có 1 trường hợp đau đến mức 7 điểm do bị rút catheter ngoài màng cứng.
Theo các báo cáo trên thế giới lơm ngực có
tần suất 1/400- 1/300 trẻ sinh ra sống, là loại
biến dạng phổ biến nhất chiếm khoảng
80- 90% trong các loại biến dạng lồng ngực bẩm
sinh. Tuy nhiên ở Việt
Số lượng bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng chiếm 48.4% gồm mệt khi gắng sức (26.6%), đau ngực (15.6%) và khó thở (6,3%). Có 27% xuất hiện lơm từ lúc mới sinh nhưng đa số phát hiện trong giai đoạn phát triễn dậy th́ (41%) phù hợp với giả thuyết cho rằng quá tŕnh dậy th́ thúc đẩy bệnh tiến triễn nặng hơn(3). Chỉ định mổ khi có triệu chứng lâm sàng hoặc có chèn ép tim trên cận lâm sàng nhưng hầu hết là chỉ định mổ v́ yếu tố tâm lư và thẩm mỹ (15,1).
Chẩn đoán 36 trường hợp lơm đồng tâm (56.3%) và 28 trường hợp lệch tâm (43,7%) với 33 trường hợp đặt 1 thanh nâng (51,6%) và 31 trường hợp đặt 2 thanh nâng (48,4%). Tỉ lệ này khác so với tác giả Vỹ 2008 (đồng tâm 79,5%, lệch tâm 20,5%, 1 thanh 80% và 2 thanh 20%) do lứa tuổi bệnh nhân khác nhau. Việc đặt 1 hay 2 thanh nâng phụ thuộc vào phân loại lơm, lứa tuổi và độ cứng của thành ngực trẻ; thanh nâng thứ hai ở phía trên chẳng những giúp cải thiện kết quả điều chỉnh biến dạng, mà c̣n hạn chế biến chứng di lệch thanh sau này(15).
Chúng tôi có 1trường hợp di lệch thanh nâng sau mổ (1.7%), biến chứng này được ghi nhận trong nghiên cứu của Kelly Robert (2009) là 2,5%, Nuss (2002) là 5%, Schalamon J. (2006) là 2,3%(1,3,5). Nhưng qua các báo cáo cho thấy biến chứng này thường gặp ở phẫu thuật Ravitch hơn so với phẫu thuật Nuss(13). Bệnh nhân này lơm ngực type 2a2 được đặt một thanh nâng, sau mổ hai tuần thấy khó thở, tái khám phát hiện di lệch thanh được mổ lại đặt thêm một thanh nữa và kết quả sau đó rất tốt. Điều này cho thấy cần phải có kết hoạch chụp Xquang ngực kiểm tra định kỳ sau mổ và khi có bất thường nên chụp CTscan ngực chẩn đoán chính xác di lệch sau mổ.
Biến chứng sớm sau mổ phổ biến nhất là tràn khí màng phổi (58%) từ nhẹ đến vừa với chủ yếu là bên phải- phía thanh nâng bắt đầu được luồn vô(5, 6). Dù vậy tất cả các trường hợp đều dung nạp tốt với tập vật lư hô hấp, chỉ có 1 trường hợp duy nhất biểu hiện suy hô hấp sau mổ với SpO2 thấp (89%) và phải dẫn lưu màng phổi cấp cứu. Về sau các phẫu thuật viên tiền hành đặt dẫn lưu màng phổi 2 bên dự pḥng th́ biến chứng này giảm hẳn. Ngoài ra có 7 trường hợp bị nôn- buồn nôn sau mổ do có kết hợp Fentanyl truyền giảm đau NMC (2,4,5). Các báo cáo khác c̣n ghi nhận thêm những biến chứng khác nhưng ở đây chúng tôi không gặp: nhiễm trùng, dị ứng thanh nâng, chảy máu sau mổ, tụ dịch vết mổ, thủng tim- mạch máu lớn, tràn máu- dịch màng ngoài tim…(13,14)
Thời gian phẫu thuật trung b́nh 67,89 ± 22,88 phút (25- 120 phút) và thời gian gây mê trung b́nh là 88.91 ± 25.03 phút (45-140 phút) do cần thời gian đặt catheter ngoài màng cứng, catheter động mạch và dẫn đầu gây mê.
Thay đổi huyết động trong mổ hầu hết giống nhau với sự gia tăng có ư nghĩa lúc mới vào pḥng mổ (T1) do lo lắng, giảm đáng kể sau khi gây mê (T3, T4, T5) do tác dụng của các thuốc gây mê và do liều tải bơm vào khoang ngoài màng cứng, sau đó dần trở về mức b́nh thường ở cuối cuộc mổ và ổn định suốt thời gian hậu phẫu. Cụ thể có 27% trường hợp bị tụt huyết áp trong đó có 5% cần xử trí với Ephedrine liều 3- 10mg tiêm tĩnh mạch.
Trong lúc mổ có hai giai đoạn cần đặc biệt lưu ư là khi khâu nâng xương ức và khi tạo đường hầm luồn thanh nâng v́ nguy cơ kích thích và chạm thương tim và các mạch máu lớn trong trung thất. Khi đó bên cạnh sự cẩn thận của phẫu thuật viên đ̣i hỏi người gây mê phải theo dơi sát điện tim và sóng huyết áp xâm lấn, chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện xử trí cấp cứu và cảnh báo phẫu thuật viên bất cứ biến động bất thường nào xảy ra. Theo Nuss và các tác giả khác phẫu thuật này được thực hiện dưới hỗ trợ của nội soi lồng ngực, ở đây phẫu thuật được làm mù theo trường phái của Park(1,3). Dù vậy, chúng tôi không ghi nhận thấy biến cố trầm trọng nào, chủ yếu là xuất hiện ngoại tâm thu tạm thời và tự hết khi ngừng thao tác phẫu thuật (70%), có 3 trường hợp bị nhịp tim chậm với 1 trường hợp dùng Atropine xử trí. Không có trường hợp nào chảy máu, tụt SpO2, tăng PetCO2, tăng áp lực đường thở, ngưng tim hay rung thất. Trong các báo cáo trước đây chỉ có một trường hợp bị tổn thương động mạch chủ gây chảy máu nguy hiểm và được mở ngực khâu cầm máu ngay(14).
Tất cả 64 bệnh nhân đều được kiểm soát đau sau mổ bằng giảm đau ngoài màng cứng liên tục kết hợp với giảm đau tĩnh mạch paracetamol và ketorolac (nếu cần). Điểm đau do bệnh nhân tự đánh giá sau mổ dao động từ 3,53 ± 0,69 giảm dần đến 2,41 ± 0,61. Có 1 trường hợp dau rất nhiều vào ngày sau mổ (7 điểm) do bị rút catheter ngoài màng cứng sau khi đầu catheter bi vấy bẩn.
Tai biến tụt huyết áp sau khi bơm liều tải vào khoang ngoài màng cứng trung b́nh 7,97 ml Lidocaine 1% (4-10ml) là khá phổ biến. Nguyên nhân là do thuốc tê trong khoang gây ức chế giao cảm và đặc biệt đáng kể ở đoạn ngực cao so với gây tê ở các đoạn ngực thấp hay thắt lưng. Tai biến này kéo dài suốt thời gian đầu của cuộc mổ, đa số bệnh nhân có thể dung nạp với bù dịch truyền và có thể tiêm Ephedrine tĩnh mạch nếu chưa cải thiện (5%). Tuy nhiên hiệu quả giảm đau rất rơ ràng, đa số các trường hợp không cần thêm liều Fentanyl để giảm đau trong mổ và sau mổ. Câu hỏi liệu có cần thiết bơm liều tải trước ki bắt đầu truyền duy tŕ cho người bệnh hay không, hiện vẫn chưa thống nhất. Đối với bệnh nhân trẻ khỏe nhu trong nghiên cứu của chúng tôi th́ tụt huyết áp thoáng qua như vậy là có thể chấp nhận được, nhưng đối với những bệnh nhân lớn tuổi hoặc có bệnh lư tim mạch đi kèm th́ cần phải nghiên cứu thêm để đánh giá lợi và hại.
Ngoài ra, nôn- buồn nôn có ghi nhận ở 7 trường hợp, đáp ứng với thuốc chống nôn Ondansetron 8mg tĩnh mạch. Các biến chứng sau mổ khác do giảm đau ngoài màng cứng như: nhiễm trùng, máu tụ ngoài màng cứng, tụt huyết áp, ngộ độc thuốc tê, gây tê tủy sống toàn bộ, rối loạn nhịp, bí tiểu, …đều không chi nhận.
Nhiều nghiên cứu cũng công nhận rằng đây là phương pháp kiểm soát đau sau mổ tốt nhất như McBride, Cánovas, Scheit MW, Futagama, Weber T, Soliman(1,4,5,10,16). Các nghiên cứu của St Peter (2008) lại cho rằng không có sự khác biệt giữa giảm đau ngoài màng cứng và bệnh nhân tự kiểm soát đau bằng Morphin tĩnh mạch(12). Mặt khác tác giả D.Rugyte (2007) cho rằng Ketorolac tiêm tĩnh mạch giúp tăng cường hiệu quả giảm đau PCA Morphin(Error! Reference source not found.).
Dị dạng lơm ngực
bẩm sinh là một bệnh lư bẩm sinh có tần suất
khá cao dù rằng chưa có
nghiên cứu chính xác nào ở Việt
Đây là phương pháp ít xâm lấn nhất so với các phương pháp trước đây và mang lại sự hài ḷng cao cho bệnh nhân và gia đ́nh. Về huyết động có dao động không đáng kể và các rối loạn thoáng qua, nhưng với sự theo dơi sát cuộc mổ, sự cẩn trọng của phẫu thuật viên và sự phối hợp chặt chẽ của gây mê, cuộc mổ có thể thực hiện an toàn và nhanh chóng.
Phẫu thuật này gây đau đớn khá nhiều. Bệnh nhân có thể được kiểm soát đau tốt với giảm đau ngoài màng cứng hay Morphin tĩnh mạch, cần có nghiên cứu thêm so sánh hiệu quả giữa hai phương pháp này.
3.
Kelly RE., Donald Nuss (2009). “Pectus
Excavatum”. Pediatric Thoracic
4. McBride WJ, Dicker R, Abajian JC, Vane DW (1998). “Continuous thoracic epidural infution for postoperative analgesia after pectus deformity repair”. Rev Esp Anestesiol Reanim. 1998;45(4):148-52.
6. Robicsek SA, Lobato EB (2000). “Repair of pectus excavatum. Anesthetic considerations”. Chest Surg Clin N Am. 2000;10(2):253-9.
9. Schalamon J. (2006). “Minimally correction of pectus excavatum in adult patients”. The journal of thoracic and cardiovascular surgery;132. P 624- 529.
11. Soliman IE, Apuya JS, Fertal KM, Simpson PM, Tobias JD (2009). “Intravenous versus epidural analgesia after surgical repair of pectus excavatum”. Am J Ther. 2009;28.
12. St Peter SD, Weesner KA, Sharp RJ, Sharp SW, Ostlie DJ, Holcomb JW (2008). “Is epidural analgesia truly the best pain management strategy after mimnimally invasive pectus excavatum repair”. J Pediatr Surg. 2008;43(1):79-82.
15. Trần Thanh Vỹ (2008). “Điều trị dị dạng thành ngực tại Bệnh viện Đại học Y Dược Tp HCM”. Y Học TP. Hồ Chí Minh - Tập 12 - Phụ bản của Số 4 - 2008, tr 266- 271.