Lê Quốc Việt*, Nguyễn Công Minh*
Đặt vấn đề: tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát là bệnh lư xảy
ra không phải hiếm ở những cá thể khỏe mạnh
với tỉ lệ tái phát cao. Điều trị bệnh lư
này c̣n nhiều bàn căi. Với sự phát triển của
kỹ thuật nội soi và dụng cụ, ngày nay phẫu
thuật nội soi lồng ngực được sử dụng
trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát.
Phương pháp: từ tháng 9
năm 2008 đến tháng 10 năm 2009, tại Bv Cấp Cứu Trưng Vương, 21 bệnh nhân
tràn khí màng phổi tự phát lần đầu được
phẫu thuật nội soi lồng ngực. Cắt bóng khí
bằng tḥng lọng nội soi hay stapler kèm làm dính màng phổi
bằng chà nhám màng phổi vùng đỉnh.
Kết quả: thời gian phẫu
thuật trung b́nh là 50,59 phút. Ngày nằm
viện hậu phẫu 3,95 ± 1,5 ngày. Không có biến chứng cũng như tử vong. Theo dơi từ 1 đến 12 tháng chưa có trường hợp
nào tái phát.
Kết luận: Phẫu thuật
nội soi lồng ngực hiệu quả trong điều trị tràn
khí màng phổi tự phát nguyên phát lần đầu. Giúp giảm
thời gian theo dơi trước lúc quyết
định điều trị phẫu thuật, giảm thời gian nằm
viện và giảm tỉ lệ tái phát.
Từ khóa: tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát, phẫu thuật nội soi lồng ngực
AN
EVALUATE OF THORACOSOPIC SURGERY FOR THE PREVENT OF THE RECURRENCE OF PRIMARY
SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX
Le Quoc Viet, Nguyen Cong Minh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14-Supplement
of No 1-2010:144-149
Background: Primary spontaneous
pneumothorax (PSP) is not uncommon in young healthy individuals and there is a
high recurrence of PSP. The management of patients with spontaneous
pneumothorax remains controversial. With the advances in thoracoscopic
techniques and instrumentation, thoracoscopic surgery is now accepted
for treatment of primary spontaneous pneumothorax.
Method: Between
September 2008 and October 2009, 21
patients with their first episode of primary spontaneous pneumothorax
received thoracoscopic surgery at Trung Vuong emergency hospital. The blebs
were resected with with endoloops or endoscopic staplers. Pleurodesis was
achieved by apical pleural abrasion.
Results: The mean
operation time was 50.59 min. The mean postoperation stay was 3.95 ± 1.5 days. No operation complications or death occurred. During the
following 1 to 12 months, no pneumothorax recurred
Conclusions: thoracoscopic surgery is effective in controlling an initial episode
of PSP. It shortens the observation time before definitive surgical treatment,
shortens the hospital stay, and decreases the likelihood of recurrence.
Key words: primary spontaneous pneumothorax, thoracosopic surgery

Tràn khí màng phổi
là sự tích tụ khí trong khoang màng phổi dẫn đến
xẹp phổi. Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát
(TKMPTPNP) là t́nh trạng tràn khí xảy ra ở bệnh nhân trẻ,
khỏe mạnh không có bệnh lư phổi. Trái lại tràn khí màng phổi tự phát thứ
phát xảy ra trên bệnh nhân có bệnh lư phổi trước
đó. Tần suất TKMPTPNP
4-9/100.000 dân số(5,15,16,17),
tỉ lệ nam với nữ từ 4-6/1(3,15). Theo dơi cho thấy 20-50% TKMP tái phát sau lần đầu
tiên, lần thứ 2 tỷ lệ tái phát 60-80%.
Trước
đây điều trị bằng đặt
dẫn lưu, tỉ
lệ thành công khoảng 70-80%(7), số c̣n lại phải phẫu
thuật thường là những trường hợp ḍ khí
kéo dài hoặc phổi không nở trọn sau đặt ống
dẫn lưu. Trước
đây những
trường hợp này phải mở ngực và giải
quyết chỗ ḍ khí: khâu hoặc cắt bóng khí. Đây là
phẫu thuật lớn,
xâm lấn nhiều và có một số tai
biến nhất định.
Ngày nay với sự phát triển của kỹ thuật
nội soi lồng ngực và những dụng cụ chuyên
dùng, nội soi lồng ngực là một phương pháp
điều trị ít xâm lấn
trong các bệnh lư lồng ngực. TKMPTPNP là một
trong những bệnh lư ứng dụng của nội soi lồng
ngực.
Đặt dẫn lưu ngực là một xử trí tạm thời trong TKMPTPNP, sau đặt phải chờ đợi vài ngày phổi nở và rút dẫn lưu ít nhất 2 ngày sau khi hết ḍ khí(3). V́ vậy thời gian nằm viện kéo dài, kèm theo tỉ lệ tái phát cao nếu chỉ đặt dẫn lưu đơn thuần nên chọn lựa một phương pháp điều trị hiệu quả nhanh và ít tái phát là mục tiêu của nhiều nghiên cứu.
V́ vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm chứng minh nội soi lồng ngực
điều
trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát lần đầu
tiên là một lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân.
Xác định hiệu quả
phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị và pḥng chống
tái phát của TKMPTP nguyên phát lần đầu.
- Tỉ lệ thành công của phẫu thuật nội soi
- Phân tích các biến chứng và tai biến trong phẫu thuật
-
Tỉ lệ tái phát sau mổ
Theo Swierenga và cộng sự
(1974), Swierenga (1977) và Vanderschueren (1981) ít nhất có 4 dạng
đại thể được nh́n thấy qua nội soi(1,19).
- Nhóm I: phổi b́nh thường không có bóng khí 30-40%
- Nhóm II: không có bóng khí nhưng có dây dính giữa phổi và màng phổi 12-15%
- Nhóm III: bóng khí nhỏ hơn 2cm chiếm 28-41%
- Nhóm IV: nhiều bóng khí lớn hơn 2cm
Ḍ khí kéo dài khi hơn
48 giờ đặt dẫn lưu thường
phải can thiệp phẫu thuật.
TKMP áp lực: suy hô hấp,
tuần hoàn, giảm áp ngay bằng
chọc kim hay dẫn lưu
Tràn khí trung thất: chấn
thương khí đạo
và vỡ thực quản
Tràn khí màng bụng sau TKMP
thường ít xảy ra: phải loại trừ thủng
tạng rỗng.
Tràn khí tràn máu
màng phổi xảy ra từ 10-12% trường hợp tràn
khí, ở nam nhiều hơn nữ
10 lần. Chảy máu do rách dây chằng mạch máu giữa màng phổi thành và tạng
đôi khi do vỡ mạch
máu của bóng khí
TKMP hai bên xảy
ra 10 - 15% trường hợp, t́nh trạng bệnh lư này xảy
ra đồng thời, nhưng thường
bên trước bên sau và ít xảy ra ở bệnh nhân khí phế
thũng.
Tái phát là biến
chứng thường xảy ra nhất của TKMP, tỉ
lệ khoảng 25% đến 50% và xảy ra trong ṿng 2
năm từ lúc bị
tràn khí lần đầu nếu chỉ đặt dẫn
lưu đơn thuần(3,19).
Sau TKMP lần hai tỉ lệ tái phát trên 50%. Hút thuốc lá
là nguyên nhân gây tràn khí màng phổi tái phát.
Trước đây điều
trị bao gồm:
- Theo dơi : tràn khí < 20%, chụp XQ phổi mỗi 24-48giờ, sau đó chụp sau một tuần. Nếu phổi không nở trọn phải đặt dẫn lưu
- Chọc hút phổi với kim 16F và chạc ba với ống chích 60ml được Belelaqua và Aranda mô tả 1982 với tỉ lệ thành công 50% đối với tràn khí màng phổi lượng ít.
- Đặt dẫn lưu: được lựa chọn nhiều nhất cho TKMP lượng trung b́nh đến nhiều. Đặt dẫn lưu kèm hút áp lực âm được Light mô tả năm 1993 với thời gian hút khoảng 5-7 ngày và dẫn lưu được rút khi hết ḍ khí 24-48 giờ.
Điều trị biến chứng và tái
phát: bao gồm mở ngực, nội soi và làm dính màng phổi.
Chỉ định phẫu thuật tràn khí màng phổi tự
phát nguyên phát theo bảng sau(10,106)
Phổi không
nở trọn
Ḍ khí trên 5 ngày
Tràn khí hai bên
Tràn máu màng phổi đi kèm
TKMP áp lực
TKPM toàn bộ
Nghề nghiệp
nguy hiểm
Những
nơi xa không có trung tâm y tế
Có bóng khí lớn
đơn độc
Yếu tố
tâm lư
Lần hai: Tái phát
cùng bên
Tái phát bên đối diện sau TKMP lần đầu
Cắt hết bóng khí, đóng chỗ ḍ khí
và phổi nở trọn. Làm dính màng phổi thường
thực hiện kèm theo để tránh tái phát như chà nhám màng phổi cơ học, cắt màng phổi thành hay dùng
các chất gây dính như bột
tale. Những phương pháp trên
kích hoạt quá tŕnh viêm và tạo dính thứ phát phổi với
mạc trong lồng ngực.
Trước đây là mở ngực là phẫu thuật lớn
nhiều tai biến. Ngày nay phẫu thuật nội soi
đă dần thay thế.
Levi cà các tác giả khác năm 1990 mô tả lần
đầu tiên dùng nội soi lồng ngực điều trị TKMP tự phát nguyên phát.
Năm 1988 Verschool và cộng sự
nội soi tất cả các trường hợp tràn khí lần
đầu phân chia bệnh nhân làm 3 nhóm: nhóm 1 không có bất
thường, nhóm 2 có bóng khí nhỏ, nhóm 3 nhiều bóng khí lớn.
Từ đó thực
hiện phẫu thuật cắt bóng khí hay làm dính màng phổi.
LoCicero năm 1985 đốt bóng khí bằng
laser. Năm 1990 Rusch đốt
bóng khí bằng chùm tia Argon. Nhưng những kỹ thuật này tỉ lệ
thất bại 15% và tái phát 18,6%.(19)
Với sự phát triển
của kỹ thuật nội soi cũng như dụng
cụ, phẫu thuật nội soi lồng ngực trở
thành một kỹ thuật nhẹ nhàng và được ứng
dụng nhiều trong phẫu thuật chương tŕnh cũng như cấp
cứu. V́ vậy chỉ định phẫu thuật nội
soi ngày càng được mở rộng. Trước đây TKMP tự phát nguyên phát lần đầu thường theo
dơi hoặc đặt dẫn lưu. Ngày nay ứng dụng phẫu thuật
nội soi chúng tôi thực hiện tại Bệnh Viện cấp
cứu Trưng Vương điều trị cho bệnh nhân
tràn khí màng phổi nguyên phát lần đầu nhằm chứng
minh ưu điểm của phương pháp này
so với những cách
điều trị khác(21).
- Bệnh nhân được chẩn đoán TKMP tự phát nguyên phát lần đầu.
- Những chỉ định kèm theo: tràn khí hai bên, tràn máu màng phổi đi kèm, TKMP áp lực, nghề nghiệp nguy hiểm, những nơi xa không có trung tâm y tế, có bóng khí lớn đơn độc, yếu tố tâm lư.
- Không có bệnh lư phổi hay nội khoa nặng đi kèm.
- Dưới 15 tuổi
- Bệnh nhân không đồng ư phẫu thuật.
Phương tiện: bộ phẫu thuật
nội soi tổng quát, trocar xoắn lồng ngực, nội
khí quản 2 ṇng (Carlens), stapler cắt phổi
Kỹ thuật
Bệnh nhân tràn khí màng phổi tự
phát nguyên phát lần thứ nhất, nếu lâm sàng ổn
định được tiến hành phẫu thuật cấp
cứu trong ṿng 4-6 giờ(22,7). Nếu t́nh
trạng bệnh nhân không ổn định có thể đặt
dẫn lưu màng phổi
khoang liên sườn 5,6 đường nách trước. Dẫn
lưu này không cần hút và
đó là ngơ vào của camera
khi can thiệp bằng phẫu thuật nội soi trong ṿng
24 giờ.
Có thể cắt bóng khí bằng
cột 2 nơ tḥng lọng (Rhoder) đối với bóng khí
<2cm, khâu và cắt bóng khí đối với bóng khí >2cm
và dùng stapler đối với nhiều bóng khí >2cm. Stapler
phải đặt 1cm cách bóng khí và nằm trên mô phổi
lành(2). Đối
với chúng tôi nếu bóng khí < 1cm th́ cột và khâu, với
những bóng khí lớn hơn chúng tôi dùng stapler rất an
toàn, nhanh và hiệu quả.
Sau khi đă cắt bóng khí sẽ
làm dính màng phổi bằng phương pháp chà nhám cơ học.
Dùng một miếng gạc nội soi chà màng phổi thành ở
vùng đỉnh phổi từ gian sườn 4,5 đến
đỉnh phổi đến lúc vừa rướm máu.
Động tác này tạo điều kiện để phổi
dính vào thành ngực giảm tỉ lệ tái phát.
Cho phổi nở kiểm
tra x́ khí cũng bằng những cách thức trên, đặt
dẫn lưu qua trocar ống kính nội soi, kết thúc cuộc phẫu thuật.
Các số liệu được ghi nhận vào mẫu bệnh
án nghiên cứu cho từng bệnh nhân và xử lư bằng
chương tŕnh SPSS 13.0 for window.
Sử dụng phép kiểm
T để so sánh hai số
trung b́nh, c2 để so sánh hai tỉ lệ
giữa lô nghiên cứu và các tác giả khác.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận ở
các biến số:
- Tai biến, biến chứng liên quan đến phẫu thuật thấp
- Hiệu quả cũng như tỉ lệ thành công cao
- Thời gian nằm viện hậu phẫu ngắn
- Chi phí điều trị chấp nhận được
- Tỉ lệ tái phát thấp <5% so với đặt dẫn lưu thông thường tỉ lệ tái phát 30-50%
-
Theo dơi hậu phẫu gần
và trung hạn 06 đến 12 tháng để ghi nhận tỉ
lệ tái phát. Bệnh nhân được gọi tái khám sau
1 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Mỗi lần tái khám sẽ
được chụp X quang phổi thẳng để
đánh giá kết quả.
Từ tháng 9/2008 đến
tháng 10/2009, tại BC Cấp Cứu trưng Vương
chúng tôi đă phẫu thuật cho 21 trường hợp
tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát lần đầu.
Trong đó đa số là nam
19 ca và 2 trường hợp nữ. Tuổi thấp nhất
là 16, cao nhất là 46 tuổi. Trung b́nh 21,1 ± 1,87 tuổi.
Về lâm sàng, khó thở chiếm
21/21 trường hợp chiếm 100%. Nhưng chủ yếu
là khó thở nhẹ. Ho chỉ 8/21 trường hợp chiếm
38,9%, đa phần là ho khan. Đau ngực 21/ 21 trường
hợp (100%). Đau âm ỉ và cảm giác nặng ngực.
Hút thuốc lá: 9/21 trường hợp chiếm 42,86%.
Lượng tràn
khí có nhiều mức độ khác nhau theo bảng sau (bảng
1)
|
<20% |
20-40% |
>40% |
Toàn bộ |
|
0 |
5 |
8 |
8 |
Thời gian từ lúc khởi phát
đến lúc nhập viện: ngắn nhất 12 giờ và
dài nhất 720 giờ (30 ngày). Trung b́nh 102,19
± 38,74 giờ.
Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc phẫu thuật: ngắn nhất 2,5 giờ và dài nhất 28 giờ. Trung B́nh 7,54 ± 1,59 giờ.
Tổn
thương nh́n thấy trong phẫu thuật và xử trí
|
Phân loại |
Tổn thương |
Số ca |
Xử trí |
Ghi chú |
|
1 |
Phổi
b́nh thường |
2 |
Làm dính(chà
nhám) |
|
|
2 |
Dây dính
đỉnh phổi |
4 |
Cắt dây
dính + Làm Dính |
|
|
3 |
Bóng khí <
2cm |
9 |
Khâu bóng khí
(or stapler)+ dính |
5 khâu, 1
đốt, 3 stapler |
|
4 |
Bóng khí >
2cm |
6 |
Stapler + làm
dính |
|
Thời gian phẫu thuật: ngắn nhất
30 phút, dài nhất 90 phút. Trung b́nh 50,95 ± 18,07
Số ngày
hậu phẫu: ngắn nhất 2 ngày, dài nhất 7 ngày.
Trung b́nh 3,95 ± 1,5 ngày
Tai biến:
chưa có một tai biến nào xảy ra
trong lô nghiên cứu 21 trường hợp trên.
Tái phát: theo dơi từ 2 tuần đến 12 tháng (tính đến 10/2009) chưa có trường hợp nào tái phát.
Giới tính:
đa số là nam chiếm 90,5% (19/21 ca)
phù hợp với y văn, bệnh lư này thường xảy
ra ở nam trẻ tuổi, ốm, cao.
Tuổi; tuổi
trung b́nh 21,1 cho thấy bệnh xảy ra
phổ biến ở người trẻ tuổi. V́ vậy ít có bệnh lư phổi sẵn có cũng
như những bệnh lư khác đi kèm. Thường
là những cá thể khỏe mạnh trước đó.
Khó thở chiếm 100% trường hợp. Đây là triệu chứng
lâm sàng chính làm bệnh nhân đi khám bệnh và chụp X
quang phát hiện ra tràn khí màng phổi. Tuy nhiên
triệu chứng khó thở không nhiều lắm, bệnh
nhân có thể chịu đưng được và không ảnh
hưởng đến hô hấp tuần hoàn.
Đau ngực
cũng xảy ra trong hầu hết trường hợp
tràn khí (21/21) triệu chứng đau ngực này có thể
do màng phổi thành bị kích thích khi dịch trong kén khí vỡ
x́ ra hơn là sự hiện diện khí trong khoang màng phổi.
Hút thuốc lá xảy ra 9
trong 21 trường hợp nghiên cứu.Thuốc lá là một
trong những nguyên nhân gây viêm phế quản, phá hùy tiểu
phế quản và h́nh thành nên bóng khí, là tiền đề để
xảy ra vỡ bóng khí và tràn khí màng phổi sau này.
Lượng
tràn khí: trong lô nghiên cứu chúng tôi không có trường hợp
tràn khí lượng ít, chỉ có tràn khí từ trung b́nh đến
nhiều và toàn bộ.
Thời
gian từ lúc khởi phát đến lúc nhập viện từ
12 giờ đến 30 ngày cho thấy triệu chứng
không xảy ra rầm rộ ảnh hưởng nhiều
đến sinh hoạt cũng như tính mạng bệnh
nhân, nên bệnh nhân không đến bệnh viện sớm.
V́ vậy ở những bệnh nhân này ta có
đủ thời gian để chuẩn bị đầy
cho phẩu thuật trong cấp cứu cũng như tŕ
hoăn trong ṿng 24 giờ.
Thời
gian từ lúc nhập viện đến lúc phẫu thuật
từ 2,5 giờ đến 28 giờ. Thời
gian này phù hợp với t́nh trạng lâm sàng của những
bệnh nhân này cũng như phù hợp trong cấp cứu
hay cấp cứu có tŕ hoăn trong 24 giờ. Rất
thuận tiện cho các nhóm trực phẫu thuật,
cũng như là cho phẫu thuật viên thực hiện
ngày hôm sau.
Tổn thương trong phẫu thuật và xử trí:
- Trường hợp không nh́n thấy tổn thương th́ chỉ cần chà nhám màng phổi thành kích thích tạo dính để tránh tái phát.
- Nếu thấy dây dính phải cắt dây dính để phổi nở tốt đồng thời chà nhám màng phổi với mục đích như trên
- Nếu có những bóng khí nhỏ (<2cm) có thể cắt bong khí bằng tḥng lọng kết hợp khâu tăng cường hay stapler cắt bóng khí. Ngày nay chúng tôi thực hiện cắt bóng khí bằng stapler thay cho khâu v́ nhanh, hiệu quả và chi phí chấp nhận được.
- Đối với bóng khí lớn hơn 2cm hay nhiều bóng khí như vậy, chỉ định dùng stapler cắt bóng khí là tuyệt đối, bảo đảm cắt hết bóng khí, đóng kín lỗ ḍ và an toàn. Thường chỉ dùng 1 stapler 60mm là đủ. Một số trường hợp dùng 2 stapler. Chúng tôi chưa có trường hợp nào phải sử dụng từ 3 stapler trở lên
Có nhiều cách làm dính màng phổi: cắt
màng phổi thành, chà nhám màng phổi, làm dính bằng keo, làm
dính bằng hóa chất (tetra, doxycyclin, bột lale…) chúng tôi chọn làm dính bằng chà
nhám cơ học đạt hiệu quả cao và ít biến
chứng.
Thời gian phẫu thuật
từ 30 phút đến 90 phút, trung b́nh 50,95 ± 18,07. Tác giả Loic Lang- Lazdunski(11) 57 ± 19 phút, thời gian này không lâu lắm thuận tiện
cho phẫu thuật viên cũng như gây mê cũng như
tương đương các tác giả thế giới.
Ngày hậu phẫu: ngắn
nhất 2 ngày dài nhất 7 ngày, trung b́nh 3,95 ± 1,5 ngày. Loic Lang- Lazdunski(11) là 5,8 ± 1,2 ngày cho thấy
thời gian bệnh nhân nằm viện của chúng tôi ngắn
hơn. Thời gian nằm viện ngắn giảm chi phí
điều trị.
Tai biến : cho đến hiện nay qua 21 ca chưa có biến
chứng nào.
Tái
phát: từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 10 năm 2009 qua
21 trường hợp phẫu thuật và theo dơi chưa có
trường hợp nào tái phát. Tuy nhiên phải theo dơi thêm nữa
tối thiểu là 24 tháng.
Nội soi lồng ngực cắt bóng khí và
chà dính màng phổi là phương pháp an toàn, hiệu quả
trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên
phát lần đầu. Với kỹ thuật đơn giản
dễ thực hiện trong giờ hành chánh cũng như
trong cấp cứu, kỹ thuật này có thể dễ dàng
thực hiện tại những bệnh viện cũng
như trung tâm Y tế trong cả nước. Với những
kết quả ban đầu cho thấy hiệu quả
điều trị cao và tỉ lệ tái phát chưa có, quan
điểm điều trị này theo thời gian sẽ chứng
minh là phương pháp điều trị tối ưu nhất
cho bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát lần đầu.
1. Ayed, A.K., C. Chandrasekaran, and M. Sukumar, Video-assisted thoracoscopic surgery for primary spontaneous pneumothorax: clinicopathological correlation. European Journal of Cardio-Thoracic Surgery, 2006. 29(2):p. 221-225.
4. Gilles Beauchamp, D.O., Thoracic Surgery,Spontaneous Pneumothorax and Pneumomediastinum. Second Edition, 2002: p. p.1195-1213.
5. Hatz R.A., et al., Long-term results after video-assisted thoracoscopic surgery for first-time and recurrent spontaneous pneumothorax. The Annals of Thoracic Surgery, 2000. 70(1): p. 253-257.
6. Freixinet, J.L., et al., Axillary thoracotomy versus videothoracoscopy for the treatment of primary spontaneous pneumothorax. The Annals of Thoracic Surgery, 2004. 78(2): p. 417-420.
7.
Jam M.
Douglas, J., Surgery of The Chest, Thoracoscopic Surgery. Vol. 2. 1995: W.B
Saunders Company. 2149-2174.
8.
James
R.Mault, M., Textbook of Surgery, Surgical management of Pulmonary Emphysema,
ed. 15th. Vol. 2. 1997: W.B Saunders Company. 1938-1844.
9.
Kim, J.,
video-assisted thoracic surgery as a primary therapy for primary spontaneous
pneumothorax. Surg Endos, 1997. 12(1998): p. 1299-1293.
10. Larry R. Kaiser, S.S., Essential of Thoracic Surgery, Pleural. 2004: Elsevier Mosby. 303-320.
11. Lazdunski L.L., Videothoracoscopic Bleb Excision and Pleural Abrasion for Treatment of Primary Spontaneous Pneumothorax: Long- Term Results, Ann Thorac Surg 2003; 75:960-5.
12. Lê quang Đ́nh, Nguyễn Hoài Nam, Đánh giá vai tṛ của CT Scan trong chẩn đoán nguyên nhân tràn khí màng phổi tự phát, Hội nghị ngoại khoa và phẫu thuật nội soi toàn quốc 2008, (12) 4, p.305-331.
13. Liu, H.-P., Thoracoscopic Surgery for Spontaneous Pneumothorax. World J. Surgery, 1999. 23: p. 1133-1136.
14. Miller. A, Hypothesis: Chest pain in Primary spontaneous pneumothorax, Int J Clin Pract, 2006.
15.
Nguyễn
Công Minh, Tràn khí màng phổi tự phát, Điều trị
học ngoại khoa lồng ngực-tim mạch, 2008,
p.170-183.
16.
Nguyễn
Hoài
17.
Robin
G.Cohen, T.R.D., David C.Sabiston, JR.,MD, Surgery
of The Chest, The Pleural. 1995. Vol 1, p. 523-534.
18.
Roman Rieger,
R.W., Peter Schrenk, Wolfgang Wayand,, Thoracoscopic bleb resection selectively
combined with pleurectomy for complicated spontaneous pneumothorax. European Journal
of Surgery, 1998. 164(5): p. 333-338.
19.
Sean C.
Grondin and Willar A Fry, Spontaneous Pneumothorax. Sabiston & Spencer
Surgery of The Chest, 2005. Volume 1(7th
Edition): p. p.427-430.
20.
Stephen R.
Hazelrigg, M.J.M., and Paul Gordon, Glenn's Thoracic and Cadiovascular Surgery,
Thoracoscopy. 6th ed. Vol. 1. 1996. 207-229.
22.
Trần
Minh Bảo Luân, Nguyễn Hoài Nam, Điều trị
tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát bằng phẫu thuật
nội soi lồng ngực, Hội nghị nội soi và phẫu
thuật nộI soi 2004, p. 412-417