Trần Thị Thúy Hằng*,
Lư Văn Xuân**
Mục
tiêu: Xác định
kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ
và các yếu tố liên quan trong pḥng và xử trí bệnh tiêu
chảy cấp ở trẻ em.
Phương
pháp nghiên cứu: Nghiên
cứu cắt ngang mô tả có phân tích. Đối tượng
nghiên cứu là 209 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại
ấp Đông Ba, xă B́nh Ḥa, huyện Thuận An, tỉnh B́nh
Dương 3/2009 được khảo sát vào tháng 3 năm
2009 bằng phỏng vấn với bộ câu hỏi soạn
sẵn.
Kết
quả: Trong 209 bà mẹ
được khảo sát, có 37,32% bà mẹ có kiến thức
đúng, 77,03% bà mẹ có thái độ đúng, 84,69% bà mẹ
có thực hành đúng trong pḥng bệnh tiêu chảy và 62,68%
bà mẹ có kiến thức đúng, 10,53% bà mẹ có thái
độ đúng, 87,08% bà mẹ có thực hành đúng trong
xử trí bệnh tiêu chảy cấp. Có mối liên quan về
kiến thức, thái độ pḥng bệnh tiêu chảy giữa
các bà mẹ có tŕnh độ học vấn khác nhau: Bà
mẹ có trình độ trên cấp 3 có
kiến thức, thái độ phòng bệnh tốt
hơn bà mẹ có trình độ từ
cấp 1 trở xuống. Ngoài ra, nghiên cứu cũng
cho thấy có mối liên quan về thực hành xử trí bệnh
tiêu chảy giữa các bà mẹ có nhóm tuổi khác nhau:
Bà mẹ nhóm tuổi từ 25 trở lên có
thực hành xử trí bệnh tiêu chảy cấp
tốt hơn bà mẹ dưới 25 tuổi.
Kết
luận: Tỷ lệ
bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành
đúng trong pḥng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp
chưa cao. Có mối liên quan về kiến thức, thái
độ pḥng bệnh tiêu chảy giữa các bà mẹ có với
tŕnh độ học vấn khác nhau và có mối liên quan về
thực hành xử trí bệnh tiêu chảy giữa các nhóm tuổi
của bà mẹ.
Từ
khóa: Kiến thức,
thái độ, thực
hành, tiêu chảy cấp, pḥng bệnh, xử trí bệnh.
Tran Thi Thuy Hang, Ly Van Xuan *Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 -Supplement of No 1-2010:335 -340
Goal: Appreciate the
knowledge, attitude and practice (KAP) of mothers on prevention and management
of acute diarrhea in under-five-year children and relevant factors.
Method: Descriptive
cross-sectional study. Objects are 209 mothers who have under-five-year
children at Dong Ba hamlet, Binh Hoa ward, Thuan An
district, Binh Duong province, in march 2009 by interviewing.

Result: 37.32% of mothers
have good knowledge, 77.03% of mothers have good attitude, 84.69% of mothers
have good practice on prevention of acute diarrhea and 62.68% of mothers have
good knowledge,10.53% of mothers have good attitude,
87.08% of mothers have good practice on management of acute diarrhea. There is
the relationship between mothers’ knowledge, attitude on prevention of acute
diarrhea and mother’s degree of education: the mothers who have the higher
degree of education get the knowledge and attitude better than the one who get
the lower education. Moreover, there is the relationship between mother’s age in management of acute diarrhea: mothers of 25 years old
or more have practice on management of acute diarrhea better than the one under
25 years old.
Conclusions: Mothers who have good KAP are at low level. There is the relationship
in knowledge, attitude on prevention of acute diarrhea between mother’s degree
of education; between mother’ age in practice on management of acute diarrhea.
Keywords: knowledge, attitude, practice, acute diarrhea, prevention, management.
Tiêu chảy cấp
là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong ở trẻ em. Theo Tổ
Chức Y Tế Thế Giới, hàng năm có khoảng 1,3 tỷ lượt tiêu chảy cấp trên xảy
ra ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu. Tại
các nước đang phát triển, t́nh trạng này c̣n trầm
trọng hơn, mỗi trẻ em trung b́nh mắc 3,3 lượt
tiêu chảy/năm và hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ
em chết v́ bệnh này (6).
Hiện nay tiêu chảy cấp
vẫn c̣n là bệnh phổ biến ở nước ta,
trung b́nh trẻ em dưới 5 tuổi mắc 2,2 lượt tiêu chảy/năm (6). Thực
tế cho thấy nhiều trường hợp tử vong
v́ bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ là do sự thiếu
kiến thức của bà mẹ trong việc pḥng cũng
như xử lư khi trẻ bị bệnh. Chính
v́ vậy, việc đánh giá kiến thức, thái độ,
thực hành về pḥng và xử trí bệnh tiêu chảy của
các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là cần thiết.
Ấp Đông Ba, xă B́nh Ḥa, huyện Thuận An, tỉnh B́nh Dương có dân số đông và đa phần là dân nhập cư, công tác quản lư và tuyên truyền giáo dục sức khỏe có nhiều khó khăn. Do đó việc khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan trong pḥng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhằm góp phần nâng cao sức khỏe trẻ em ở địa phương.
Xác định
kiến thức, thái độ, thực
hành và các yếu tố liên quan trong phòng và
xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở
trẻ em của bà mẹ có con dưới 5
tuổi tại ấp Đông Ba, xã Bình Hòa,
huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi
có kiến thức đúng về phòng
và xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Xác định tỷ
lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi
có thái độ đúng về phòng và
xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Xác định tỷ
lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi
thực hành đúng về phòng và
xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Xác định các yếu tố có liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp.
Bà mẹ có con dưới
5 tuổi hiện đang cư ngụ tại ấp
Đông Ba, xă B́nh Ḥa, huyện Thuận An, tỉnh B́nh
Dương.
Tiêu chí đưa vào
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi hiện đang cư ngụ tại ấp Đông Ba, xă B́nh Ḥa, huyện Thuận An, tỉnh B́nh Dương.
- Đồng ư tham gia nghiên cứu.
Tiêu chí loại ra
- Bà mẹ vắng nhà từ 3 lần trở lên.
- Bà mẹ không trực tiếp nuôi con.
- Bà mẹ không trả lời phỏng vấn (câm, điếc, tâm thần, say rượu…)
Thiết
kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả có
phân tích.
Cỡ
mẫu: Lấy mẫu toàn bộ (209 bà mẹ có con
dưới 5 tuổi).
Thu
thập số liệu
- Bằng phỏng vấn với bảng câu hỏi soạn sẵn.
- Nhập liệu: bằng phần mềm EpiData 3.02.
- Xử lư số liệu: bằng phần mềm Stata 10.
- So sánh các tỷ lệ bằng phép kiểm chi b́nh phương.
|
Đặc tính |
Tần số |
% |
|
Tuổi < 25
tuổi ≥ 25
tuổi |
31 178 |
14,83 85,17 |
|
Nghề nghiệp Làm
rẫy, ruộng Công nhân Buôn bán Cán bộ
viên chức Nội
trợ Khác |
6 105 32 7 44 14 |
2,88 50,48 15,38 3,37 21,15 6,73 |
|
Trình độ học vấn ≤
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 ĐH
/CĐ/ TCCN / SĐH |
16 130 50 12 |
8,14 62,20 23,92 5,74 |
|
Hoàn cảnh kinh tế của gia
đình Nghèo
(thu nhập <780.000
đồng/người/tháng) Không
nghèo (thu nhập ≥780.000
đồng/người/tháng) |
62 147 |
29,67 70,33 |
|
Số
con hiện có 1 con 2 con Từ
3 con trở lên |
137 66 6 |
65,55 31,58 2,87 |
Bà mẹ
nhóm tuổi từ 25 trở lên chiếm tỷ
lệ cao nhất (85,17%). Trình
độ học vấn cấp 2 chiếm tỷ lệ (62,20%), nhóm trên cấp 3 chiếm tỷ
lệ rất thấp (5,75%).
Điều này có thể làm hạn
chế khả năng tiếp thu của
các bà mẹ. Do địa phương có
nhiều khu công nghiệp lớn nên đa số các
bà mẹ làm công nhân (50,48%).
Số bà mẹ có 1 con chiếm 65,55%.
Số con ít giúp bà mẹ có thời
gian và điều kiện chăm sóc con tốt
hơn.
|
Nguồn thông tin về bệnh tiêu
chảy |
Tần số |
% |
|
Tivi
|
150 |
76,14 |
|
Nhân
viên y tế |
44 |
22,34 |
|
Người
thân, hàng xóm |
35 |
17,77 |
|
Báo
chí |
26 |
13,20 |
|
Radio
|
19 |
9,64 |
|
Tranh
ảnh, áp phích |
16 |
8,12 |
Đa
số các bà mẹ tiếp nhận nguồn thông
tin từ tivi là 76,14%, từ
nhân viên y tế là 22,34%. Từ đó cho
thấy cần chú ý phát huy vai trò tích
cực của người nhân viên y tế trong
truyền thông giáo dục sức khỏe và cần
phải đầu tư nhiều hơn nữa về
chất lượng cũng như hình
thức, nội dung của các nguồn thông tin
này để mọi người có thể
dễ dàng tiếp cận, nắm bắt thông
tin.
|
Kiến thức đúng về phòng
bệnh tiêu chảy |
Tần số |
% |
|
Nguyên nhân tiêu chảy Ăn
uống không hợp vệ sinh Do
tay bẩn |
134 203 136 |
64,11 97,13 65,07 |
|
Cách phòng bệnh tiêu chảy Bú mẹ
hoàn toàn 4-6 tháng đầu Rửa
tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Ăn
uống hợp vệ sinh Xử
lư phân đúng cách |
100 173 181 184 129 |
47,85 82,78 86,60 88,04 61,72 |
|
Kiến thức chung đúng (nguyên nhân và pḥng
bệnh) |
78 |
37,32 |
Có 64,11% bà mẹ biết nguyên nhân tiêu
chảy là do ăn, uống không hợp vệ sinh
và do tay bẩn. Tỷ lệ này cao hơn tỷ
lệ 29% của tác giả Nguyễn Quang Vinh trong một
khảo sát tại tỉnh Kon Tum [6]. Có 47,85%
bà mẹ biết cách phòng bệnh tiêu chảy
cho trẻ nhưng vẫn c̣n khá đông bà mẹ cho
rằng không nên cho trẻ ăn dầu mỡ,
vì chưa hiểu dầu mỡ giúp ḥa tan và hấp
thu các loại vitamin A, vitamin K và vitamin E, đều là những
loại vitamin giúp cơ thể tăng cường sức
đề kháng, chống đỡ tốt với bệnh tật.
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung về pḥng bệnh c̣n thấp (tỷ lệ 37,32%) v́ đa số các bà mẹ hiểu sai về nguyên nhân và đường lây truyền của bệnh.
|
Thái độ |
Tần số |
% |
|
|
Thái độ
về tính chất nguy hiểm |
Đồng ý |
185 |
88,52 |
|
Không ý kiến |
10 |
4,78 |
|
|
Không đồng ý |
14 |
6,70 |
|
|
Thái độ về
việc rửa tay thường xuyên cho trẻ |
Đồng ý |
192 |
91,87 |
|
Không ý kiến |
9 |
4,31 |
|
|
Không đồng ý
|
8 |
3,83 |
|
|
Thái độ
về việc cho trẻ uống nước đun
sôi để nguội. |
Đồng ý |
198 |
94,74 |
|
Không ý kiến |
8 |
3,83 |
|
|
Không đồng ý
|
3 |
1,44 |
|
|
Thái độ chung đúng (cả 3 nội dung trên) |
|
161 |
77,03 |
Tỷ lệ bà mẹ
có thái độ đúng trong phòng bệnh
tiêu chảy là 77,03%.
Tỷ lệ bà mẹ có thái độ coi bệnh tiêu chảy cấp là bệnh nguy hiểm, không thể xem thường là 88,52%. Tỷ lệ này thấp hơn so với tỷ lệ 91,96% của tác giả Lâm Bỉnh Yên (1). Tỷ lệ bà mẹ đồng ý rửa tay thường xuyên cho trẻ để giúp phòng bệnh là 91,87%. Tỷ lệ bà mẹ cho rằng uống nước đun sôi để nguội sẽ giúp phòng bệnh tiêu chảy là 94,74%.
|
Thực hành chung trong phòng bệnh |
Tần số |
% |
|
Thực hành cho trẻ
đi tiêu đúng chỗ. |
207 |
99,04 |
|
Thực hành xử lư
phân sau khi trẻ đi tiêu |
207 |
99,04 |
|
Thực hành
sử dụng nước cho trẻ uống |
180 |
86,12 |
|
Thực hành chung đúng (cả 3 nội dung trên) |
177 |
84,69 |
Tỷ lệ bà mẹ
thực hành chung đúng trong phòng bệnh
tiêu chảy là 84,69%.
Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ uống nước đun sôi để nguội là 86,12%. Tỷ lệ bà mẹ thực hành xử lý phân sau khi trẻ đi tiêu đúng là 99,04%, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ 84,5% của tác giả Lê Hoàng Phong (4).
|
Kiến thức chung về xử trí
bệnh tiêu chảy |
Tần số |
% |
|
Dấu hiệu cho
biết cần đưa trẻ đến cơ
sở y tế. |
205 |
98,09 |
|
Cách pha và
sử dụng ORS. |
142 |
67,94 |
|
Nguyên tắc cho ăn
khi trẻ bị tiêu chảy |
117 |
55,98 |
|
Sử dụng
các loại nước uống cho trẻ khi bị
tiêu chảy |
80 |
38,28 |
|
Nguyên tắc điều trị tiêu chảy
tại nhà |
59 |
28,23 |
|
Kiến thức chung đúng (Có kiến thức đúng ≥3 nội
dung trên) |
131 |
62,68 |
Tỷ lệ bà mẹ
có kiến thức chung đúng trong xử
trí bệnh tiêu chảy là 62,68%.
Có 98,09% bà mẹ
nhận biết đúng các dấu hiệu nặng
cần đưa đến cơ sở y tế, tỷ
lệ này cao hơn tỷ lệ 89% của tác
giả Lê Nguyễn Bảo Châu (2) khảo sát tại
quận 8 năm 2005. Tỷ lệ bà mẹ biết
cách sử dụng ORS chỉ chiếm 67,94%. Tuy tỷ lệ này cao hơn tỷ
lệ 55,1% của tác giả Lê
Hồng Phúc, Lý Văn Xuân (5) và 14,85% của
tác giả Lê Hoàng Ninh (3) nhưng cũng cần
phải tăng cường truyền thông,
hướng dẫn các bà mẹ cách pha và sử dụng
ORS.
|
Thái
độ |
Tần
số |
% |
|
|
Sử
dụng ORS để điều trị tiêu chảy. |
Đồng
ý |
149 |
71,29 |
|
Không ý
kiến |
41 |
19,62 |
|
|
Không
đồng ý |
19 |
9,09 |
|
|
Dùng
kháng sinh trong điều trị tiêu chảy |
Đồng
ý |
71 |
33,97 |
|
Không ý
kiến |
67 |
32,06 |
|
|
Không
đồng ý |
71 |
33,97 |
|
|
Dùng
thuốc cầm tiêu chảy |
Đồng
ý |
166 |
79,43 |
|
Không ý
kiến |
21 |
10,05 |
|
|
Không
đồng ý |
22 |
10,53 |
|
|
Cho trẻ
ăn kiêng khi bị tiêu chảy |
Đồng
ý |
162 |
77,51 |
|
Không ý
kiến |
9 |
4,31 |
|
|
Không
đồng ý |
38 |
18,18 |
|
|
Thái độ chung đúng (Có thái độ
đúng ≥3 nội dung trên) |
|
22 |
10,53 |
Tỷ lệ bà mẹ
có thái độ chung đúng trong xử
trí bệnh tiêu chảy là 10,53%.
Có 71,29%
bà mẹ tin tưởng vào khả năng
bù nước của ORS. Tỷ lệ này cao
hơn tỷ lệ 67,3% của tác
giả Lê Hồng Phúc, Lý Văn Xuân(5). Chỉ
có 33,97% bà mẹ tin rằng
không cần dùng kháng sinh cho tất cả trẻ
bị tiêu chảy, 10,53% bà mẹ yên tâm khi không dùng
thuốc cầm tiêu chảy. Hai tỷ lệ trên thấp
hơn so với tỷ lệ 50,8% và 32,6% của
tác giả Lê Hồng Phúc, Lý Văn Xuân(5). Thái
độ đồng ý nên cho trẻ ăn kiêng khi
bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ 77,51% cho thấy
các bà mẹ còn hạn chế cho trẻ ăn
khi bị tiêu chảy, dễ dẫn đến suy dinh
dưỡng trẻ em.
|
Thực hành xử trí |
Tần số |
% |
|
Thực hành chọn
nơi chữa bệnh. |
184 |
88,04 |
|
Thực hành
sử dụng thuốc. |
183 |
87,56 |
|
Thực hành cho trẻ
uống nước khi bị tiêu chảy. |
175 |
83,73 |
|
Thực hành cho trẻ
ăn khi bị tiêu chảy |
135 |
64,59 |
|
Thực hành
sử dụng thức ăn. |
112 |
53,59 |
|
Thực hành chung đúng (Có thực hành đúng ≥3 nội
dung trên) |
182 |
87,08 |
Tỷ lệ bà mẹ
thực hành chung đúng trong xử trí
bệnh tiêu chảy là 87,08%.
Có 83,73% bà mẹ cho con uống nhiều hơn khi bị tiêu chảy, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ 51,7% của tác giả Nguyễn Quang Vinh (6). Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn đầy đủ chỉ chiếm 64,92%. Tỷ lệ bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi trẻ bị tiêu chảy khá cao 73,21% cho thấy mức độ quan tâm đến sức khỏe của người dân tăng. Tuy nhiên bệnh tiêu chảy có thể điều trị dễ dàng tại nhà, nếu các bà mẹ được hướng dẫn cụ thể và biết cách chăm sóc trẻ tại nhà sẽ góp phần giảm tải ở các cơ sở y tế.
|
Biến số |
Kiến thức
về phòng bệnh tiêu chảy |
P |
PR |
KTC 95% |
|
|
Đúng |
Chưa đúng |
||||
|
Trình độ học vấn ≤ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 ĐH /CĐ/ TCCN / sau
ĐH |
4 (23,53) 46 (35,38) 20
(40) 8 (66,67) |
13 (76,47) 84 (64,62) 30 (60) 4 (33,33) |
0,368 0,259 0,031 |
1,50 1,70 2,83 |
(0,62-3,65) (0,68-4,27) (1,10-7,30) |
Kiến thức:
Bà mẹ có trình độ trên
cấp 3 có kiến thức đúng trong
phòng bệnh cao gấp 2,83 lần so
với bà mẹ có trình độ
từ cấp 1 trở xuống (p<0,05).
|
Biến số |
Thái độ về phòng bệnh tiêu
chảy |
p |
PR |
KTC 95% |
||||
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||||||
|
Trình độ học vấn ≤ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 ĐH /CĐ/ TCCN / sau
ĐH |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
10 (59%) |
7 (41%) |
|
|
|
||||
|
101 (78%) |
29 (22%) |
0,182 |
1,32 |
(0,88-1,99) |
||||
|
38 (76%) |
12 (24%) |
0,240 |
1,29 |
(0,84-1,98) |
||||
|
12 (100%) |
0 (0%) |
0,005 |
1,78 |
(1,20-2,65) |
||||
Thái độ: Bà
mẹ có trình độ trên cấp 3 có
thái độ phòng bệnh đúng cao gấp 1,78 lần so với bà mẹ có
học vấn từ cấp 1 trở xuống
(p<0,05).
|
Biến số |
Thực hành về xử trí bệnh
tiêu chảy |
p |
PR |
KTC 95% |
|||
|
Đúng |
Chưa đúng |
||||||
|
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
||||
|
Nhóm tuổi < 25 tuổi ≥ 25 tuổi |
19 163 |
(61) (92) |
12 15 |
(39) (8) |
0,005 |
1,49 |
(1,13-1,98) |
Thực hành: Bà mẹ nhóm tuổi từ 25 trở lên có thực hành xử trí bệnh tiêu chảy đúng cao hơn 1,49 lần so với bà mẹ dưới 25 tuổi (p<0,05).
Về pḥng
bệnh tiêu chảy cấp, tỷ lệ bà mẹ có kiến
thức đúng là 37,32%, có thái độ
đúng là 77,03%, có thực hành đúng là 84,69%.
Về xử trí bệnh
tiêu chảy cấp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức
đúng là 62,68%, có thái độ đúng là 10,53 %, có thực
hành đúng là 87,08%.
Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành về pḥng bệnh tiêu chảy giữa các tŕnh độ học vấn của bà mẹ: Bà mẹ có trình độ trên cấp 3 có kiến thức, thái độ trong phòng bệnh tốt hơn bà mẹ có trình độ từ cấp 1 trở xuống. Có mối liên quan giữa thực hành về xử trí bệnh tiêu chảy giữa các nhóm tuổi của bà mẹ: Bà mẹ nhóm tuổi từ 25 trở lên có thực hành xử trí bệnh tiêu chảy tốt hơn bà mẹ dưới 25 tuổi.
1. Lâm Bỉnh Yên. “Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tiêu chảy cho trẻ tại cụm dân cư quanh bãi rác Gò Cát, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, TPHCM năm 2007”. Khóa tiểu luận tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng năm 2007.
2. Lê Nguyễn Bảo Châu. “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khu phố 3, phường 8, quận 8 năm 2005”. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng năm 2005.
3.
Lê Hoàng Ninh. “K.A.P của các bà mẹ trong
việc xử lý bệnh tiêu chảy ở
trẻ dưới 5 tuổi tại TPHCM”. Tạp chí y học
Đại học Y Dược TPHCM;2(2):trang 124-126.
4.
Lê
Hoàng Phong. “Kiến thức, thực hành về
bệnh tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi
của phụ nữ từ 15-49 tuổi của
phụ nữ từ 15-49 tuổi tại xã
Nhơn Mỹ-Kế Sách-Sóc Trăng”. Luận
văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp I chuyên ngành y
tế công cộng năm 2006.
5.
Lê
Hồng Phúc, Lý Văn Xuân. “Kiến thức,
thái độ, thực hành của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử
lý bệnh tiêu chảy cấp trẻ em tại nhà
ở xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến
Tre năm 2004”. Tạp chí y học TPHCM; phụ bản
của số 1: trang 181-184.
6.
Nguyễn
Quang Vinh, “K.A.P của bà mẹ và một số
yếu tố liên quan trong phòng, xử trí
bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5
tuổi tại huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum”. Tạp
chí Y tế công cộng:9(9): trang 45-50.