Trần Thị Lợi*, Phùng Khánh Lâm**
Mở đầu: Hiện nay, mang thai tuổi vị thành niên (VTN) đang là một
vấn đề nghiêm trọng cần phải giải quyết
ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt
Mục tiêu: Mục tiêu chính
là khảo sát lư do không sử dụng BPTTHĐ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe
sinh sản (SKSS) của nữ VTN phá thai.
Mục tiêu phụ là khảo sát những rào cản hiện
nay trong công tác chăm
sóc SKSS cho nữ VTN.
Phương pháp: Nghiên cứu
định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu 12 nữ VTN phá
thai và 1 tư vấn viên thông qua bộ câu hỏi hướng dẫn
phỏng vấn soạn sẵn cho từng đối
tượng. Mẫu được chọn theo
phương pháp lấy mẫu thuận tiện.
Kết quả: Trong lần quan hệ
t́nh dục đầu tiên, nữ VTN không sử dụng
BPTTHĐ do hoàn cảnh t́nh cờ, không nghĩ sẽ mang thai, sợ tác dụng phụ. Trong những lần
quan hệ t́nh dục tiếp theo, lư do không sử dụng
BPTTHĐ của các em là muốn có con, không quan tâm đến việc
có con hay không, không sẵn có BPTTHĐ, lười sử dụng, không thích sử
dụng, quên sử dụng, sợ tác dụng phụ, không
tin tưởng, bạn trai không muốn sử dụng. Những
nhu cầu và rào cản trong công tác chăm sóc SKSS cho VTN liên quan đến nhiều đối tượng (bản thân
VTN, gia đ́nh, nhà trường, nơi tư vấn, nơi cung cấp dịch
vụ, xă hội) và nhiều nội dung khác nhau (ư thức
nguy cơ mang thai tuổi VTN, kiến thức về SKSS, tính thân thiện,
quan niệm xă hội).
Kết luận: Để thúc
đẩy việc sử dụng BPTTHĐ ở nữ VTN,
chúng ta cần những chương tŕnh can thiệp mạnh mẽ và toàn diện,
tác động trên nhiều đối tượng, với
nhiều mục tiêu mà trọng tâm là nâng cao ư thức của
nữ VTN về nguy cơ mang thai tuổi VTN. Ngoài ra, việc thực
hiện những nghiên cứu nhằm phân tích sâu hơn vấn đề
này là hết sức cần thiết.
Từ khóa: Nghiên cứu định tính, biện pháp tránh thai hiện đại, nữ vị thành niên.
REASONS
FOR NOT USING MODERN CONTRACEPTIVE METHODS AND DEMANDS FOR REPRODUCTIVE HEALTH
CARE IN ADOLESCENTS WHO HAVE ABORTION AT TU DU HOSPITAL 05 – 06/2009
Tran Thi Loi, Phung Khanh Lam * Y Hoc
TP. Ho Chi Minh
* Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 290 - 295

Background: Adolescent
pregnancy has become a serious problem needs to be solved in many countries in
the world. The main reason for that problem is the low level of modern
contraceptive use amongst adolescents. Lacking of researches to explore the
cause of the problem in
Objectives: The main
objective is to explore the reasons of modern contraceptive methods nonuse
amongst adolescent girls who have abortion and their demands for reproductive
health care. The secondary objective is to explore barriers that prevent
adolescent girls to approach reproductive health care services.
Method: In this
qualitative study, in-depth interviews were conducted with 12 adolescent girls
and 1 family planning consultant from 05/2009 to 06/2009. These interviewees
were recruited by convenient method of sampling. Instruments include
Questionaire guideline for interviewing adolescent girls and Questionaire
guideline for interviewing consultant.
Results: In the first sex
intercourse, adolescent girls did not use modern contraceptions because of
“accidental situation”, “not thinking of the possibility to get pregnancy”, “be
afraid of side effects”. In the following sex intercourses, the reasons for
modern contraceptions nonuse are “want to have a child”, “ not mention whether
get pregnancy or not”, “modern contraceptions are not available”, “lazy to
use”, “dislike to use”, “forget to use”, “be afraid of side effects” and
“boyfriend was not willing to use”. Adolescent girls also have plenty of
demands for information and services of reproductive healthcare. However, there
are several barriers coming from different sources (adolescent girls, family,
school, providers, society) that limited the access
for adolescent girls to these services and information.
Conclusion: To improve the
use of modern contraceptions amongst adolescent girls, comprehensive
intervention programmes which are relevant to many objects (adolescent girls,
their family, their boyfriends, school, providers, society) and many fields
(knowledge, attitude about reproductive health) should be considered together with proceeding more deeper
well-conducted reseaches about this problems.
Key words: Qualitative study, modern contraceptive methods, adolescent girl.
Hiện nay, mang thai tuổi
vị thành niên (VTN) là một vấn đề sức khỏe
được nhiều quốc gia và tổ chức quan
tâm. Theo các báo cáo của tổ chức y tế thế giới
(WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng
14 triệu nữ VTN sinh con [1] và khoảng 5 triệu nữ VTN phá
thai [6]. Đây là những số liệu
đáng báo động v́ nguy cơ biến chứng cũng
như tử vong do sinh nở và
phá thai ở VTN đều cao hơn gấp nhiều lần so
với phụ nữ trưởng thành(11,12) và thai sản là một trong những
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nữ thanh thiếu
niên trên toàn thế giới(13).
Các nghiên cứu hiện nay
trên thế giới cho thấy mang thai tuổi VTN chịu ảnh
hưởng chủ yếu từ hai yếu tố: hành vi quan hệ
t́nh dục (QHTD) sớm và hành vi không sử dụng hoặc
sử dụng không liên tục các biện pháp tránh thai hiện
đại (BPTTHĐ) ở VTN(7). Trong đó, việc sử dụng
BPTTHĐ là
yếu tố đóng vai tṛ quyết
định(11).
Tại Việt
Nam, tuy đă có nhiều cố gắng trong việc tạo
điều kiện cho VTN tiếp cận nhiều hơn và dễ dàng hơn với các thông tin và dịch vụ
về sức khỏe sinh sản (SKSS), đặc biệt
là các BPTTHĐ, tỷ lệ VTN sử dụng BPTTHĐ có
gia tăng song chưa đáng kể [2,14]. Để góp phần giải quyết
vấn đề này, chúng ta cần có những nghiên cứu
t́m hiểu lư do không sử dụng hoặc sử dụng
không liên tục BPTTHĐ ở VTN hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay
tại Việt
Đây là một nghiên cứu định tính trong
đó số liệu được thu
thập bằng phương pháp phỏng vấn
sâu. Nghiên cứu được tiến hành tại khoa
KHHGĐ – BV
Từ Dũ vào tháng 5 – 6 năm 2009, với đối tượng đích là nữ
VTN đến phá thai và đối tượng liên quan là
tư vấn viên tại pḥng tư vấn của khoa. Những nữ VTN đến
phá thai mà không sử dụng hoặc sử
dụng không liên tục BPTTHĐ và đồng ư
tham gia nghiên cứu sẽ được chọn tham gia
nghiên cứu. Ngoài đối tượng nữ
VTN, chúng tôi c̣n phỏng vấn thêm đối tượng
tư vấn viên tại
khoa để t́m hiểu thêm về vấn đề nghiên
cứu trên góc độ của người trực tiếp
tư vấn. Qua 2 tháng nghiên cứu, chúng tôi đă phỏng vấn
12 nữ VTN và 1 tư vấn
viên.
Các đối tượng tham
gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn sâu với
bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn.
Các cuộc phỏng vấn này được
tiến hành tại buồng tư vấn của khoa và được đảm
bảo về tính riêng tư
và bí mật. Trước mỗi cuộc
phỏng vấn, đối tượng tham gia được
đề nghị kư vào phiếu đồng ư tham gia phỏng
vấn. Nội dung các cuộc phỏng vấn
được ghi nhận song song với
hai h́nh thức: ghi chép và ghi âm (nếu được sự
đồng ư của đối tượng phỏng vấn).
Công cụ hỗ
trợ được sử dụng trong các cuộc phỏng
vấn là bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn
VTN (khi phỏng vấn VTN) và bộ câu hỏi hướng
dẫn phỏng vấn tư vấn viên (khi phỏng
vấn tư
vấn viên). Các bộ câu hỏi này bao gồm nhiều
câu hỏi, chủ yếu là các câu hỏi mở được
biên soạn theo mục tiêu nghiên cứu.
Sau khi kết thúc phỏng
vấn, nội dung ghi âm được chuyển sang văn bản, sau đó kết hợp với các ghi
chép thành bộ số liệu tổng hợp. Từ bộ
số liệu, thông tin được chúng tôi đọc và
phân loại theo nhiều chủ đề: “thông tin chung”,
“kiến thức – thái độ – thực hành về
BPTTHĐ”,
“lư do không sử dụng BPTTHĐ”, “nhu cầu chăm sóc SKSS”, “thực
trạng chăm sóc SKSS”. Sau đó, chúng tôi phân tích từng chủ đề
rồi tập hợp kết quả để có báo cáo cuối
cùng.
Nghiên cứu được tiến hành mà không vi phạm các vấn đề về y đức. Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, có sự đồng ư tham gia của người được phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu không gây xâm hại đến quyền và lợi ích về thể chất và tinh thần của đối tượng tham gia. Các dữ liệu được tuyệt đối giữ bí mật và chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu. Trong quá tŕnh nghiên cứu, các đối tượng tham gia được đối xử với thái độ tôn trọng và nghiêm túc.
Trong thời gian từ
tháng 05 đến tháng 06/2009, chúng tôi đă tiến hành phỏng
vấn 12 nữ VTN và 1 tư vấn viên. Đa số các nữ VTN phá thai
tham gia nghiên cứu đang sống tại TP Hồ Chí Minh. Tất cả đều có tŕnh độ học
vấn từ cấp 2 trở lên, trong đó có 1 em đang học
Đại học. Các em thường sống chung với gia đ́nh. Tất cả các em
đều mang thai và phá thai lần đầu,
trong đó hầu hết không có dự định mang thai từ
trước.
Nữ
tư vấn
viên tham gia nghiên cứu 44 tuổi, đă có 13 năm kinh
nghiệm trong
lĩnh vực
tư vấn
sức khỏe sinh sản. Cô cũng đang có hai con trai trong
độ tuổi
VTN.
Các em đưa ra nhiều lư do khác nhau để giải thích cho việc không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục BPTTHĐ của ḿnh. Các lư do này khác nhau ở lần quan hệ t́nh dục đầu tiên và những lần quan hệ t́nh dục sau đó. Ở lần quan hệ t́nh dục đầu tiên, các em không sử dụng BPTTHĐ v́ hoàn cảnh t́nh cờ, không nghĩ sẽ mang thai hoặc sợ tác dụng phụ. Ở những lần quan hệ t́nh dục tiếp theo, một số em không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục BPTTHĐ v́ muốn có con hoặc không quan tâm đến việc có con hay không. Một lư do khác là không sẵn có BPTTHĐ và các em cũng không muốn đi mua. Ngoài ra, lười sử dụng, quên sử dụng hoặc không thích sử dụng cũng là những lư do khiến nữ VTN không sử dụng BPTTHĐ. Bên cạnh đó, có em sợ tác dụng phụ của BPTTHĐ, và đáng chú ư, có em không tin tưởng BPTTHĐ (thuốc tránh thai) do sợ mua phải thuốc giả. Lư do cuối cùng khiến nữ VTN không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục BPTTHĐ là bạn trai không chịu sử dụng các biện pháp tránh thai này.
Qua nghiên cứu,
chúng tôi đă khảo sát được những nhu cầu
của các em về việc cung cấp thông tin và dịch vụ
chăm sóc SKSS. Những nhu cầu này khá đa dạng, liên quan đến
nhiều vấn đề như: nội dung, nơi cung cấp, người cung cấp,
gia đ́nh, nhà trường.
Đối với việc cung cấp thông tin SKSS, các em mong muốn được cung cấp nhiều nội dung khác nhau từ các vấn đề về tâm sinh lư tuổi VTN, việc quan hệ t́nh dục, cách tránh thai, cách sử dụng các BPTTHĐ đến các vấn đề về phá thai và mang thai. Những thông tin này các em muốn được cung cấp ở những nơi thoải mái, có không gian để tṛ chuyện, với người cung cấp là nữ giới, ở độ tuổi trung niên, có chuyên môn và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, biết lắng nghe, có cách cư xử lịch sự, thân thiện và nhiệt t́nh đáp ứng nhu cầu về thông tin cho các em. Ngoài ra, các em mong muốn gia đ́nh ḥa thuận, quan tâm, gần gũi với các em, đặc biệt là dạy dỗ với phương pháp cởi mở và không gây áp lực lên con em ḿnh. Trong khi đó, để cải thiện việc cung cấp thông tin SKSS từ nhà trường, các em mong muốn nhà trường cần phải dạy tỉ mỉ, thực tế và tế nhị hơn, đồng thời, thầy cô cần tự nhiên hơn và không nên ngại ngùng khi truyền đạt những vấn đề này với học sinh.
Đối với việc
cung cấp dịch vụ SKSS (chủ yếu là cung cấp
BPTTHĐ), các em mong muốn được cung cấp các dịch
vụ này ở những cơ sở sạch sẽ, đáng tin cậy. Đồng thời, người
cung cấp dịch vụ nên là nữ, với cách cư xử ân cần,
dịu dàng và không kỳ thị.
Những
rào cản trong công tác chăm sóc SKSS cho nữ
VTN bắt nguồn từ nhiều phía, bao gồm cả nữ
VTN, gia đ́nh, nhà trường, cơ sở tư vấn và xă hội.
Từ phía nữ VTN, khó khăn trong việc tiếp
cận thông tin và dịch vụ về SKSS nảy sinh từ
những quan niệm chưa đúng đắn
của các em về các vấn đề giới tính và SKSS cũng như sự quan tâm chưa đúng mức của các em đối với các vấn
đề này. Từ phía gia đ́nh, rào cản
chính là sự thiếu quan tâm và ít dành thời gian trao đổi,
đặc biệt là về SKSS, với con cái của một
số gia đ́nh hiện nay. Từ phía
nhà trường, rào cản là sự quan tâm chưa đúng mức đến
việc giáo dục SKSS, thể hiện ở sự không thống
nhất về phương
pháp và thời điểm dạy về SKSS cho học
sinh. Các chương tŕnh giáo dục SKSS hiện nay cũng chưa tạo được
sự hứng thú ở học sinh. Đồng
thời, những em bỏ học sớm hoặc chuyển
trường nhiều lần cũng chưa nhận
được sự quan tâm thích đáng từ nhà trường.
Trong khi đó, tại các cơ sở tư vấn, lượng khách đông đảo
cùng với môi trường tư vấn chưa thân thiện và việc cung cấp thông tin c̣n sơ sài đang là những trở ngại cho việc tiếp cận
thông tin và dịch vụ về SKSS của nữ VTN. Bên cạnh đó, không thể không kể đến
một rào cản không nhỏ khác là những thành kiến của
xă hội về vấn đề SKSS. Tất
cả những yếu tố trên đă cản trở việc
tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS một cách
đầy đủ và hiệu quả của nữ VTN Việt
Nghiên cứu
này đă giúp chúng tôi t́m hiểu được những lư
do không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục
các BPTTHĐ ở nữ
VTN phá thai hiện nay. Bên cạnh những
lư do thông thường vốn đă được đề
cập đến trong những nghiên cứu trước
đó(3,4,5,8,9,10), trong nghiên cứu này có em không sử
dụng BPTTHĐ v́ không
tin tưởng biện pháp đó (thuốc tránh thai)
khi cho rằng có thể ḿnh mua phải thuốc giả.
Đây là một lư do
khá mới mẻ nhưng
phù hợp với thực tế hiện nay khi hiện
tại có quá nhiều chủng loại thuốc tránh thai trên thị trường và dường
như các nhà sản
xuất và nhà cung cấp chưa có những thông tin cũng như
đảm bảo cụ thể về chất lượng
các sản phẩm của ḿnh. Các lư do không sử dụng
cũng như sử dụng không liên tục
BPTTHĐ ở nữ
VTN phá thai cho thấy quyết định sử dụng
BPTTHĐ ở nữ
VTN là một vấn đề phức tạp, chịu ảnh
hưởng từ nhiều yếu tố. Những yếu
tố liên quan này có thể đến từ chính bản
thân VTN, từ gia đ́nh, nhà trường, các cơ sở cung cấp, các
cơ sở sản
xuất cũng như từ xă hội. Đồng
thời, những yếu tố đó cũng bao trùm lên nhiều khía
cạnh khác nhau về SKSS: ư thức về nguy cơ mang thai tuổi VTN, kiến
thức (về thai nghén, các BPTTHĐ, hiệu quả các BPTT, tác dụng phụ của
BPTTHĐ), kỹ
năng (kỹ năng thuyết phục, kỹ
năng ứng phó
trước các t́nh huống nhạy cảm), quan niệm xă
hội (về giới, VTN, SKSS), tính thân thiện của các
cơ sở cung cấp
thông tin và dịch vụ SKSS, các rào cản. Trong đó, ư thức
về nguy cơ mang thai tuổi VTN của chính các nữ VTN
là yếu tố nổi bật và có thể ảnh hưởng
đến các yếu tố khác.
Cùng với các lư do không sử dụng
BPTTHĐ, những nhu cầu về chăm sóc SKSS cũng như những rào cản hiện nay trong việc tiếp
cận thông tin và dịch vụ về SKSS của nữ VTN
phá thai đă cho chúng ta thấy những tồn tại và thiếu
sót mà chúng ta cần phải khắc phục để từng
bước nâng cao việc sử dụng BPTTHĐ ở nữ VTN. Những tồn tại
đó liên quan đến nhiều đối tượng và
nhiều lĩnh vực khác nhau, điều
này đ̣i hỏi chúng ta phải có những can thiệp mạnh
mẽ và toàn diện để có thể giải quyết
triệt để.
Tuy nhiên, những kết quả từ nghiên
cứu này chỉ được rút ra trên đối tượng
nữ VTN phá thai, do đó chưa thể phản ánh đầy đủ mọi
vấn đề hiện có đối với việc sử
dụng BPTTHĐ ở
lứa tuổi VTN tại Việt
Qua nghiên cứu này, chúng tôi đă t́m hiểu
được những vấn đề sau:
- Trong lần quan hệ t́nh dục đầu tiên: hoàn cảnh t́nh cờ, không nghĩ sẽ mang thai, sợ tác dụng phụ
- Trong những lần quan hệ t́nh dục sau đó: muốn có con, không quan tâm đến việc có con hay không, không sẵn có BPTTHĐ, lười sử dụng, không thích sử dụng, quên sử dụng, sợ tác dụng phụ, không tin tưởng BPTTHĐ, bạn trai không muốn sử dụng.
- Cung cấp thông tin về tâm sinh lư tuổi VTN, quan hệ t́nh dục, cánh tránh thai, cách sử dụng BPTTHĐ, vấn đề phá thai, vấn đề mang thai.
- Nơi cung cấp thông tin: thoải mái, có không gian để tṛ chuyện.
- Người cung cấp thông tin: nữ giới, tuổi trung niên, có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, biết lắng nghe, cư xử lịch sự, thân thiện, nhiệt t́nh đáp ứng nhu cầu của VTN.
- Gia đ́nh: ḥa thuận, quan tâm và gần gũi với VTN, cởi mở trong cách dạy bảo, không gây áp lực lên các em.
- Nhà trường: dạy tỉ mỉ hơn, thực tế hơn, tế nhị hơn; thầy cô tự nhiên, không ngại ngùng.
- Nơi cung cấp dịch vụ: sạch sẽ, đáng tin cậy.
- Người cung cấp dịch vụ: nữ, cư xử ân cần, dịu dàng, không kỳ thị.
- Từ nữ VTN: quan niệm chưa đúng đắn và quan tâm chưa đúng mức về giới tính và SKSS.
- Từ gia đ́nh: thiếu quan tâm, ít dành thời gian trao đổi về SKSS với con cái.
- Từ nhà trường: chưa thống nhất về phương pháp và thời điểm giảng dạy về SKSS, chương tŕnh giáo dục chưa tạo đuợc sự hứng thú cho học sinh; chưa chú ư đến những học sinh bỏ học sớm hoặc chuyển trường nhiều lần.
- Từ các cơ sở tư vấn: quá tải về số lượng khách hàng, môi trường tư vấn chưa thân thiện, thông tin cung cấp c̣n sơ sài.
- Từ xă hội: thành kiến về SKSS.
Từ
những kết quả này, có thể thấy rằng, để
nâng cao việc sử dụng BPTTHĐ ở nữ VTN Việt
1.
Alan Guttmacher Institute (1998). Into
a new world: young women’s sexual and reproductive lives. The Institute.
2. Blanc AK, Tsui AO, Croft TN and Trevitt JL (2009). Patterns and trends in adolescents’ contraceptive use and discontinuation in developing countries and comparisons with adult women. Int Perspect Sex Reprod Health, 35(2): 63–71.
3.
Brown AD, Shireen J, Shah IH, Kathryn YM(2001). World Health Organization. Dept. of
Reproductive Health and Research. and
UNDP/UNFPA/WHO/World Bank Special Programme of Research Development and
Research Training in Human Reproduction. Sexual relations among
young people in developing countries: evidence from WHO case studies.
World Health Organization.
4. Hindin MJ, Fatusi A O (2009). Adolescent sexual and reproductive health in developing countries: an overview of trends and interventions . Int Perspect Sex Reprod Health, 35(2): 58–62.
5. Mai Thị Công Danh (1999). Nghiên cứu Kiến thức – Thái độ – Thực hành về các BPTT của VTN đến phá thai tại BV Từ Dũ năm 1999. Luận văn Thạc sĩ Y học. Chuyên ngành Sản phụ khoa. ‑ Đại học Y Dược TP HCM.
6. Olukoya AA; Kaya A et al. (2001). Unsafe abortion in adolescents. International Journal of Gynecology & Obstetrics, 75(2): 137-147.
7.
Rivera R. and World Health Organization (2004).
Dept. of Child and Adolescent Health and Development. Contraception
in adolescence. World Health Organization.
8. Sheeder J, Tocce K, Stevens-Simon C (2009). Reasons for ineffective contraceptive use antedating adolescent pregnancies part 1: an indicator of gaps in family planning services. Matern Child Health J, 13(3): 295–305.
9. Stevens-Simon C, Kelly L, Singer D and Cox A (1996). Why pregnant adolescents say they did not use contraceptives prior to conception. J Adolesc Health, 19(1): 48–53.
10. Stevens-Simon C, Kelly L, Singer D and Nelligan D (1998). Reasons for first teen pregnancies predict the rate of subsequent teen conceptions. Pediatrics, 101(1): E8.
11.
Treffers P and World Health Organization.
(2004). Dept. of Child and Adolescent Health and Development. Adolescent
pregnancy. World Health Organization.
13.
World Health Organization, Dept. of Child and
Adolescent Health and Development (2009). CAH progress report
highlights 2008. World Health Organization.
14.
World Health Organization, Regional Office for
the Western Pacific (2005). Sexual and
reproductive health of adolescents and youths in