Nguyễn Trung Hiếu*, Đỗ
Phước Hùng*
Mục đích: Khảo sát t́nh h́nh hội
chứng ống cổ tay ở bệnh nhân chạy thận
nhân tạo định kỳ tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: Đối
tượng nghiên cứu là 197 bệnh nhân suy thận mạn
giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo
định kỳ tại bệnh viện Chợ Rẫy từ
2/2008 đến 4/2009 .Tất cả bệnh nhân này
được thăm khám lâm sàng để t́m các rối loạn
về cảm giác hoặc / và vận động ở bàn
tay.Khi có rối loạn bệnh nhân được đo
điện cơ. Bệnh nhân được chẩn
đoán hội chứng ống cổ tay khi có biểu hiện
lâm sàng và đạt tiêu chuẩn chẩn đoán điện
cơ hội chứng ống cổ tay của Stevens (2002).
Kết quả: 35/197(17,8%) bệnh nhân bị hội chứng ống
cổ tay. Tuổi: <40 : 1BN (2,9%), 40-60 : 19BN (54,3%), >60 :
15BN (42,8%) trẻ nhất là 29tuổi, già nhất là 83 tuổi,
tuổi trung b́nh là: 60 ± 13,81 tuổi.
Kết luận: Hội chứng ống cổ tay trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo định kỳ là một bệnh lư có thật mang những màu sắc riêng khác với hội chứng ống cổ tay vô căn. Tỉ lệ mắc cao và tăng dần theo thời gian. Phát hiện thường muộn. Các triệu chứng tăng lên trong lúc chạy thận là một gợi ư rất quí báu. Bệnh nhân chưa được cung cấp thông tin đầy đủ để cùng nhân viên y tế phát hiện bệnh sớm.
Từ khóa: Hội chứng ống cổ tay
CARPAL TUNNEL SYDROME IN PATIENTS ON HEMODYALYSIS IN
Nguyen Trung Hieu, Đo
Phuoc Hung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14-Supplement of No 1-2010: 185- 193
Purpose : To investigate
carpal tunnel syndrome(CTS) in patients on heamo- dialysis in Cho Ray hospital.
Method and Materials: 197 patients on heamodialysis were involved in the study from February
2008 to April 2009. They were clinically examined to find any sensory or/and
motor disorder of their hands. If they had the disorders , EMG of the hand
would be carried on. Diagnosis of carpal tunnel syndrome would be established
when both clinical disorders and EMG (according to Stevens’s criteria) were be
found.
Results: 35/197 (17.8%)
patients suffered from (CTS), including 10 male, 25 female. The average age was
60 ± 13.81 years old (youngest 29, oldest 83). There were 13 patients with one
hand involved (8 mild, 3 moderate, 2 severe ) and 22 with both hands (9 mild,
20 moderate, 15 severe). Totally, 57/394 hands were detected CTS in which there
were 17 mild , 23 moderate and 17 severe.

Conclusions: CTS in patients
dialysis is a real pathology with distinct characteristics different from
idiopathic one. The incidence ratio is high and increases timely. The detection
is rather late. Symptoms worse during dialysis are valuable to diagnose. Less
knowledge and co-operation with physians is one of the causes of retarded
diagnosis.
Keywords: carpal tunnel syndrome
Trải qua
nhiều thập kỷ, Thận Nhân Tạo (TNT) đă giúp
kéo dài cuộc sống cho những bệnh nhân Suy Thận
Mạn (STM) giai đoạn cuối, giúp họ gần
như trở về với sinh hoạt và lao động
b́nh thường, sống lâu hơn và hữu
ích hơn. Tuy nhiên cũng chính vì kéo
dài tuổi thọ nên người ta phát
hiện thêm ngày càng nhiều các biến
chứng đi kèm như bệnh tim mạch, nhiễm
trùng, viêm gan, đau khớp(5)… các biến
chứng về thần kinh ngoại biên mà
điển hình là hội chứng ống
cổ tay (HCOCT) không nằm ngoài danh sách các
bệnh này. Hội chứng ống cổ tay khi
xuất hiện có thể ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng sống của
những bệnh nhân chạy TNT kéo dài
từ ngày này sang ngày khác(1,3,4,7).
Không những thế kết quả điều trị lại
phụ thuộc nhiều vào giai đoạn tiến triển
của bệnh. Tại Việt
Bước
đầu khảo sát t́nh h́nh hội chứng ống cổ
tay ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo định
kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR).
Tất cả
những bệnh nhân chạy TNT định kỳ v́ STM giai
đoạn cuối tại Bệnh Viện Chợ Rẫy
từ tháng 2/2008-4/2009.
Bệnh
nhân HC OCT được phát hiện qua triệu chứng
lâm sàng và điện cơ.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là HCOCT khi có triệu chứng lâm sàng ( rối loạn cảm giác hoặc vận động bàn tay) và đạt tiêu chẩn chẩn đoán điện cơ HCOCT của Stevens (2002) Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân có triệu chứng rối loạn cảm giác /vận động trước khi bắt đầu chạy TNT.
Nghiên cứu
tiền cứu: mô tả cắt ngang, kết quả
được phân tích bằng cách so sánh với một số
kết quả trong y văn và với HC OCT vô căn.
Số liệu được xử lư bằng toán thống kê Stata 10.0, Microsoft Office Excel 2003
Thăm khám
tất cả các BN đến chạy TNT định kỳ
tại khoa TNT BVCR về triệu chứng cơ năng và
thực thể:
Rối
loạn cảm giác (trong tiền sử sau khi
chạy TNT hoặc ở thời điểm
thăm khám bệnh nhân có rối loạn cảm
giác.)
Cảm giác đau, sưng, tê, châm chích, nặng, ngứa, nóng bỏng ở các ngón tay và cổ tay, đặc biệt ở mặt ḷng ngón tay
- Tăng lên vào buổi tối
- Tăng lên lúc chạy thận nhân tạo
- Lan lên cẳng tay, cánh tay, khuỷu và vai
- Giảm khi gập duỗi cổ tay liên tục hay “vẫy”cổ tay
Đánh giá mức độ biểu
hiện của các triệu chứng bằng cách cho điểm
từ 0 đến 10 dựa theo cách cho điểm của
thước đo VAS mức độ đau như sau:
Sau khi giải thích ư nghĩa các h́nh trên
thước, cho BN tự kéo nút di chuyển đến mức
độ đau của ḿnh. Ta ghi lại điểm số
ở sau thước tương ứng với vị trí
nút di chuyển, cho phép nút nằm trung gian giữa các h́nh tuỳ
mức độ đau của BN.
Phân vùng rối loạn cảm giác bàn tay theo Katz
- Điển h́nh
- Không điển h́nh
- Không phải hội chứng ống cổ tay
Giảm cảm giác đau, sờ nông, phân
biệt 2 điểm (≥6mm) ở vùng da bàn tay do thần
kinh giữa chi phối
Yếu vận động các cơ dạng
và đối ngón cái
Bàn tay trở nên vụng về, hay làm
rơi đồ vật
Teo cơ mô cái
Dấu Hoffmann-Tinel
Tét Phalen
Tét
nắm tay
Bước hai: cho BN có triệu chứng lâm
sàng đo điện cơ
Xác định
tỉ lệ các đặc
điểm lâm sàng biểu hiện bệnh.
Xác định giá trị nhỏ nhất, lớn nhất,
trung b́nh các thông số điện cơ đo được
về:
- Thời gian tiềm cảm giác ngoại vi thần kinh giữa (DSLm)
- Hiệu số thời gian tiềm cảm giác ngoại vi thần kinh giữa và trụ (DSLd)
- Thời gian tiềm vận động ngoại vi thần kinh giữa (DMLm)
- Hiệu số thời gian tiềm vận động ngoại vi thần kinh giữa và trụ (DMLd)
Phân loại mức độ bệnh dựa
trên điện cơ theo tiêu chuẩn chẩn đoán
điện cơ HCOCT của Stevens (2)
Bước bốn: Tổng hợp và phân
tích các số liệu
- Xác định tỉ lệ HC OCT trên BN chạy TNT
- Xác định mối liên quan giữa HC OCT với thời gian chạy thận, tay chạy thận, tay thuận và các bệnh nội khoa phối hợp (nếu có)
- Nhận xét các đặc điểm lâm sàng và điện cơ
- Nhận xét những ảnh hưởng của HC OCT lên sinh hoạt của BN
- Nhận xét mối quan tâm của BN về HC OCT
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 197 bệnh
nhân chạy thận nhân tạo định kỳ tại
BVCR về các triệu chứng của HC OCT theo mẫu bệnh
án.
Kết quả
có 63 (32%) bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của HC
OCT
Chúng tôi lần
lượt cho các bệnh nhân có triệu
chứng đo điện cơ đồ .Kết quả cho thấy:
35 (35/63=55,6%, 35/197=17,8%) bệnh nhân EMG chẩn đoán HC OCT,
23 bệnh nhân EMG âm tính, 5 bệnh nhân EMG viêm đa dây thần
kinh ngoại biên thể hủy myelin và sợi trục.
Như vậy có tổng cộng 35 bệnh nhân với 57 tay
bị HC OCT (13 bệnh nhân bị một tay, 22 bệnh nhân
bị 2 tay)
Tuổi: <40 : 1BN (2,9%), 40-60 : 19BN (54,3%),
>60: 15BN (42,8%). Ttrẻ nhất là 29tuổi, già nhất là
83 tuổi, tuổi trung b́nh là: 60 ± 13,81 tuổi
Giới:
Nghề nghiệp:
Đa số BN là ở nhà nghỉ ngơi
hay làm ít việc nội trợ chiếm 22 BN (62,5%). Tuy nhiên
một số khác (37,5%) vẫn tiếp tục lao động:
thu thuế (2,9%), làm ruộng (5,8%), giáo viên (11,6%), dược
sĩ (2,9%), buôn bán (14,3%).
Thuận
tay trái: 3BN (8,6%), tay phải : 32BN (91,4%). Số HC OCT xảy
ra ở tay thuận là 31 tay (88,6%), ở tay không thuận là
26 tay (74,3%), sự khác biệt này không có ư nghĩa thống
kê (KTC 95%).
Có 4 BN (11,4%) chạy TNT ở tay phải, 4 BN (11,4%) chạy TNT ở cả hai tay, 27 BN (77,2%) chạy TNT ở tay trái. Số HC OCT xảy ra ở tay chạy thận là 31/39 tay (79,5%), ở tay không chạy thận là 26/31 tay (83,9%), sự khác biệt này không có ư nghĩa thống kê (KTC 95%).
Thời gian chạy thận
nhân tạo: ngắn nhất: 21
tháng, dài nhất: 156 tháng, trung b́nh: 53 tháng.
Bệnh kèm theo
100% BN bị tăng huyết áp và thiếu máu mạn, 15 BN (42,6%) có kèm theo bệnh tim thiếu máu cục bộ, 12 BN (34,3%) có kèm theo đái tháo đường, 10 BN (28,6%) kèm theo viêm gan siêu vi (B và/hoặc C), 6 BN (17,2%) kèm theo suy tim mạn, 5 BN (14,3%) kèm theo viêm dạ dày, 3 BN bị bướu giáp (8,6%), 1 BN (2,9%) bị giảm tiểu cầu.
Thời gian từ
lúc có triệu chứng dị cảm ở bàn tay đến
lúc khám ngắn nhất là: 6 tháng, dài nhất là: 84 tháng, trung
b́nh là: 22,4 tháng.
Thời
gian từ lúc đặt thông động tĩnh mạch
để chạy TNT đến khi có triệu chứng lâm
sàng ngắn nhất là: 2 tháng, dài nhất là: 99 tháng, trung b́nh
là: 33 tháng.
Số BN chạy
TNT dưới 2 năm bị HC OCT là 6/69 BN (8,7%), trên 2
năm bị HC OCT là 29/128 BN (22,7%). Sự khác biệt này là
có ư nghĩa thống kê (KTC 95%).
Tê: 46 tay (80,7%), đau: 8 tay
(8/57=14%), châm chích: 4 tay (7%)
Giảm cảm giác đau:
4 tay (7%)
Sờ nông : 8 tay (14%)
Phân biệt 2 điểm: 2 tay (3,5%)
Điển h́nh : 23 tay
(40,4%)
Không điển h́nh : 28 tay
(49,1)
Không nghĩ đến: 0
tay
Nặng tay: 2 tay (3,5%)
Khởi
đầu có tê bàn tay nhưng sau một
thời gian không còn cảm giác tê dù vẫn
tồn tại các triệu chứng rối loạn
cảm giác/vận động khác: 11 tay (19,3%)
Triệu chứng
lan lên cẳng tay: 5 tay (8,8%)
Đau tăng
lên lúc chạy thận: 4 tay (7%), tay không chạy TNT: 0 tay
Ngứa:
6 tay (10,5%) tay không chạy TNT: 0 tay
Ngứa
tăng lên lúc chạy thận: 3 tay (5,3%), tay không chạy TNT:
0 tay
Tê tăng lên lúc chạy thận: 20 tay (35,1%), tay không chạy TNT: 0 tay
Bàn tay vụng về, làm
rơi đồ vật: 7 tay (12,3%)
Teo cơ ô mô cái: 23 tay
(40,4%)
Sức cơ đối
ngón cái giảm: 15 tay (26,3%)
Bảng 1: Kết quả dấu
Hoffmann-Tinel
|
|
HC OCT + |
HC OCT - |
Tổng |
|
Tinel + |
7 |
10 |
17 |
|
Tinel - |
50 |
327 |
377 |
|
Tổng |
57 |
337 |
394 tay |
- Độ nhạy = (7/394)/(57/394) = 12,3%
- Độ chuyên = (327/394)/(337/394) = 97%
Bảng
2: Kết quả tét Phalen
|
|
HC OCT + |
HC OCT - |
Tổng |
|
Phalen + |
12 |
5 |
17 |
|
Phalen - |
45 |
332 |
377 |
|
Tổng |
57 |
337 |
394 tay |
- Độ nhạy = 12/57 = 21%
- Độ chuyên = 332/337 = 98,5%
Bảng
3: Kết quả tét nắm tay
|
|
HC OCT + |
HC OCT - |
Tổng |
|
Tét nắm tay + |
14 |
10 |
24 |
|
Tét nắm tay - |
43 |
327 |
370 |
|
Tổng |
57 |
337 |
394 tay |
- Độ nhạy = 14/57 = 24,6%
- Độ chuyên = 327/337 = 97%
Chúng tôi cho 63 BN có triệu chứng lâm
sàng đo điện cơ ở cả hai tay. Kết quả
có 57 tay thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán HC OCT với kết
quả các thông như sau:
Bảng: Giá trị các thông số DMLm, DMLd, DSLm, DSLd
|
Thông số |
HC OCT theo EMG |
Phối hợp lâm sàng và EMG |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
Trung b́nh |
Ghi chú |
|
DMLm |
61 tay |
57 tay |
3,5 ms |
8,7 ms |
4,74± 1,12ms |
Mất
đáp ứng vận động: 1tay |
|
DMLd |
61 tay |
57 tay |
0,9 ms |
6,2 ms |
2,39±1,08ms |
|
|
DSLm |
61 tay |
57 tay |
2,8 ms |
6,8 ms |
3,78±0,75ms |
Mất
đáp ứng cảm giác: 5tay |
|
DSLd |
61 tay |
57 tay |
0,2 ms |
4,4 ms |
1,48±0,71ms |
- Đối chiếu lâm
sàng và điện cơ có 4 tay (3tay trung b́nh, 1 tay nhẹ) chẩn
đoán điện cơ dương tính với HC OCT
nhưng không có triệu chứng lâm sàng nên không đưa
vào nghiên cứu này.
Tất cả
các BN của chúng tôi đều được đo điện
cơ tại pḥng điện cơ BVCR và được
các bác sĩ điện cơ phân độ theo tiêu chuẩn
của Steven. Kết quả như sau:
- Nhẹ: 17/57 tay (29,8%)
- Trung b́nh: 23/57 tay (40,4%)
- Nặng: 17/57 tay (29,8%)
HC OCT là t́nh trạng chèn ép đơn dây TK ngoại
biên thường gặp nhất. Nó chiếm tỉ lệ
khoảng 125/100000 dân số(12). Trong một cuộc
khảo sát sức khỏe tổng quát ở miền Nam Thụy
Điển, Atroshi (1999) phát hiện có 354 trường hợp
(tỉ suất hiện mắc là 14,4%) bị đau, tê, châm
chích ở vùng bàn tay do TK giữa chi phối. Thử nghiệm
dẫn truyền TK cho thấy bệnh TK giữa tại OCT
có 120 người với các triệu chứng nêu trên (tỉ
suất hiện mắc là 4,9%). Về thăm khám lâm sàng, có
94 người có các triệu chứng trên được chẩn
đoán HC OCT (tỉ suất hiện mắc là 3,8%). Kết
hợp cả lâm sàng và điện cơ xác định HC
OCT chỉ có 66 người có các triệu chứng trên (tỉ
suất hiện mắc
là 2,7%)(2).
Một
nghiên cứu khác của Nordstrom (1998) ở
Kể từ
những phát hiện đầu tiên của Bussell (1971) trong
bài báo về hội chứng “ăn trộm máu” qua thông
động tĩnh mạch trên BN chạy TNT (1)
đă mở đường cho hàng loạt những phát hiện
mới về các vấn đề bàn tay trên nhóm bệnh
nhân này.
Bốn năm sau, nhóm nghiên cứu của bác sĩ
Kumar đă phát hiện hai trường hợp HCOCT trên bệnh
nhân chạy TNT và đưa ra nhận xét(8): những
thay đổi về mặt giải phẫu ở vùng cổ
tay do thông động tĩnh mạch có lẽ là yếu tố
quan trọng trong sự h́nh thành HCOCT và bệnh đa dây thần
kinh ngoại biên do hội chứng urê huyết cao vốn có
ở bệnh nhân STM giai đoạn cuối cũng góp phần
quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của HCOCT. Từ
đó, nhiều báo cáo khác liên quan đến vấn đề
này đă được công bố trên nhiều tạp chí từ
nhiều quốc gia khác nhau. Gần đây nhất là nghiên cứu
của tác giả Hamid Namazi và Zahra Majd (2007) trên cổ tay của
558 bệnh nhân chạy TNT kết luận: những bệnh
nhân chạy TNT có nguy cơ đáng kể bị HC OCT ở
tay đặt thông động tĩnh mạch với tỷ
lệ là 30,5%(10).
Tỉ lệ HCOCT trên bệnh nhân TNT được báo cáo rất khác nhau, nó thay đổi từ 3,8% đến 63,7% tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán và thời gian chạy TNT(6). Theo nghiên cứu của Gilbert và Robinson (1988)(3) trên 485 bệnh nhân chạy TNT định kỳ, có 46 BN (9%) bị HCOCT ở ít nhất 1 tay. Trong nghiên cứu của Hirasawa (2000)(6) trên 671 BN chạy TNT phát hiện có 110 BN (16,4%) bị HC OCT. Một báo cáo khác thật ấn tượng khi cho biết có đến 100% các BN chạy TNT hơn 16 năm bị HC OCT (Susan 1998)(5).
Chúng tôi đă kết hợp cả lâm sàng và điện cơ để chẩn đoán HC OCT và phát hiện có đến 17,26% BN chạy TNT có HC OCT, cao hơn rất nhiều lần so với tỉ lệ HCOCT trong cộng đồng theo Y văn . Như vậy rõ ràng STM giai đoạn cuối chạy TNT làm tăng tỉ lệ HCOCT hay nói cách khác nó là yếu tố nguy cơ cao.
Báo cáo của
Pascual và Cs (1991) cho thấy có đến 30% BN chạy TNT
hơn 9 năm bị HCOCT (up to date 2007).
Một tài liệu khác ghi nhận tỷ lệ này lên đến
50% ở nhóm bệnh nhân chạy TNT từ 10 năm trở
lên(5).
Đến năm 2000, tác giả Hirasawa và
Ogura(6) đă nghiên cứu và chia 110 BN chạy TNT có
HC OCT thành 4 nhóm theo thời gian chạy thận cho thấy tỉ
suất mới mắc HC OCT tăng vọt theo thời gian ở
các BN chạy TNT từ 10 đến dưới 15 năm và
đạt đến 71% (17 BN) ở các BN chạy TNT từ
20 năm trở lên.
Chúng tôi nhận thấy sau 2 năm
chạy TNT tỉ lệ HCOCT tăng đáng kể từ
8,7% lên 22,7% và sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05). Như vậy có mối liên quan
giữa thời gian chạy TNT và tỉ lệ
mắc HC OCT: tỉ lệ này tăng lên theo
thời gian.
Trong
HC OCT vô căn có rất nhiều nghiên cứu và y văn cho
thấy nó xảy ra nhiều hơn ở tay thuận và nếu
bị hai tay th́ tay thuận sẽ nặng hơn tay không thuận
(11,12). Điều này được cho là ngược
lại ở các BN chạy TNT do bởi thông động
tĩnh mạch cần thiết để chạy thận.
Nghiên cứu của Gilbert (1988)(3) cho
thấy có 25/46 BN chạy TNT (54%) bị HC OCT ở một
tay, trong dó có 24/39 (61,5%) là tay chạy thận và 1/11 (9,1%) là
tay nguyên vẹn (P<0,01). C̣n 21/46 (46%) BN bị HC OCT ở
hai tay th́ có 33 (78,6%) tay là tay chạy thận và 9 (21,4%) tay là
tay nguyên vẹn.
Thống nhất
với Gilbert, tác giả Gousheh (2004)(4) nghiên cứu
trên 279 BN chạy TNT với thông động tĩnh mạch
chỉ đặt ở 1 tay cho thấy: có 85 (30,5%) tay đặt
thông bị HC OCT so với 34 (12,2%) tay nguyên vẹn bị HC
OCT với P<0,0001. Tuy nhiên kết quả không như vậy
trong nghiên cứu của chúng tôi trên 35 BN chạy TNT cho thấy
có 31 tay thuận (88,6%) bị HC OCT so với 26 tay không thuận
(74,3%) bị HC OCT.
Bên cạnh đó
th́ số HC OCT xảy ra ở tay chạy thận (tay đặt
thông) là 31/39 tay (79,5%), ở tay nguyên vẹn là 26/31 tay (83,9%)
và sự khác biệt này không có ư nghĩa thống kê (KTC 95%).
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Kimura (1986)(7),
Như vậy không giống
như HC OCT vô căn, trên BN chạy TNT có khuynh hướng
bị HC OCT ở cả 2 tay (62,9%) với tay thuận và tay
không thuận không có sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê (KTC 95%). Sự gia tăng tỉ lệ HC OCT ở tay không
thuận trên BN chạy TNT có thể có sự góp phần của
thông động tĩnh mạch ở tay này. Tuy nhiên trong
nghiên cứu của chúng tôi, Kimura và
Bên cạnh các rối loạn cảm giác
thường gặp như trong HC OCT vô căn: tê, đau,
châm chích, giảm cảm giác…chúng tôi ghi nhận trong HC OCT ở
BN chạy TNT có một số điểm đặc biệt
sau: có 10,5% trường hợp ngứa ở bàn tay, và triệu
chứng này tăng lên trong lúc chạy thận là 3 tay (5,3%).
Có 20 tay chạy thận (35,1%) triệu chứng tê tăng
lên trong lúc chạy thận. Ngoài ra có 4 BN có triệu chứng
đau tăng lên trong lúc chạy thận trong đó có 2 BN
đau nặng đến nổi không thể hoàn tất buổi
chạy thận. Ở
tay không chạy thận các triệu chứng này không
tăng.
Các triệu chứng đặc biệt này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của nhiều tác giả khác mà phải kể đến trước tiên là nghiên cứu của Warren và Otieno (1975)(13), tác giả ghi nhận: có 22 BN (61%) tê hay dị cảm, 11 BN (31%) đau và 9 BN (25%) sưng ở tay đặt thông trong lúc chạy thận. Tiếp theo là nghiên cứu của Gilbert (1988)(3): có hơn 50% các trường hợp các triệu chứng gia tăng trong suốt thời gian chạy thận. Mặc dù chiếm tỉ lệ không cao trong nghiên cứu của chúng tôi nhưng các triệu chứng này rất có giá trị và là nét đặc trưng riêng của HC OCT ở BN chạy TNT với độ chuyên biệt lên đến 100%.
Cũng
giống như trong HCOCT vô căn, các tét Tinel, Phalen
và tét nắm tay có độ
đặc hiệu cao (trên 95%), nhưng độ
nhạy lại thấp (dưới 25%). Do vậy
các tét này dùng để chẩn
đoán loại trừ HCOCT.
Nhìn chung giá trị trung b́nh của các thông số
DMLm, DMLd, DSLm, DSLd trong lô nghiên cứu của chúng tôi không
có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê
(KTC 95%) khi so với các tác giả khác nghiên cứu về
HC OCT vô. Nhận định này cũng phù
hợp với nhiều tác giả khác khi nghiên
cứu về HC OCT trên BN chạy TNT như: Kimura (1986),
Gilbert (1988), Okutsu (1996), Hirasawa (2000)…
Bảng: So sánh giá trị trung b́nh của các thông số DMLm, DMLd, DSLm, DSLd với các tác giả khác
|
Tác giả Thông số |
N.N.Bích (2004) |
N.L.T.Hiếu (2007) |
Chúng tôi |
|
DMLm (ms) |
4,86±0,34 |
5,17±2,74 |
4,74±1,12 |
|
DMLd (ms) |
2,5±0,7 |
2,63±2,78 |
2,39±1,08 |
|
DSLm (ms) |
3,1±0,6 |
3,61±1,38 |
3,78±0,75 |
|
DSLd (ms) |
1,57±0,3 |
1,59±1,4 |
1,48±0,41 |
Tuy nhiên
trong lô nghiên cứu của chúng tôi có đến 1 trường
hợp mất đáp ứng vận động và 5 trường
hợp mất đáp ứng cảm giác. T́nh trạng này ít
gặp trong HC OCT vô căn. Như vậy về mặt
điện cơ th́ không có ǵ khác biệt với HC OCT vô
căn ở các thông số DMLm, DMLd, DSLm, DSLd.
HCOCT trên BN chạy TNT
thường nặng nề hơn HCOCT vô căn chưa tính
đến những khó khăn và kết quả trong điều
trị. Sự nặng nề thể hiện trong nghiên cứu
của chúng tôi ở chổ tỉ lệ mắc khá cao
17,26% (so với Y văn về HC OCT vô căn từ 3-5%), số
BN bị cả hai tay đến 64,7% và sự ảnh hưởng
của nó đến BN là không nhỏ. Có 2 BN trong lô nghiên cứu
của chúng tôi bị đau ở bàn tay trong lúc chạy thận
đến mức không chịu đựng nổi phải
bỏ dở buổi chạy thận. Không những vậy
mà HC OCT c̣n nằm chồng lắp trong cơ địa suy
thận mạn giai đoạn cuối, nên các rối loạn
cảm giác và vận động ở bàn tay thường bị
nhầm lẫn, dễ quy cho bệnh suy thận mạn giai
đoạn cuối mà bỏ qua chẩn đoán. Kết quả
là bệnh thường phát hiện muộn, trong nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy phải mất trung b́nh 2 năm từ
lúc khởi đầu triệu chứng BN mới được
chẩn đoán HC OCT(4,9,14). Chính v́ vậy mà có đến 29,8%
trường hợp nặng, cao hơn rất nhiều so với
lô nghiên cứu của tác giả Ngọc Bích chỉ có 19%
các trường hợp nặng đến rất nặng
trên điện cơ
13/35 (37,5%)
bệnh nhân chạy TNT vẫn tiếp tục cống
hiến cho xã hội bằng nghề nghiệp
phù hợp với tình trạng sức
khỏe của họ. 22/35 (62,5%) bệnh nhân ở
nhà vẩn có thể làm những công
việc nội trợ.Như vậy bệnh nhân
chạy TNT không có nghĩa là không có
những hoạt động lao động. Tuy nhiên các
hoạt động này vốn bị hạn chế do t́nh
trạng bệnh chung lại càng bị hạn chế
hơn nửa do HCOCT. Ngoài những rối loạn đáng kể
về cảm giác gây không ít phiền toái bệnh nhân c̣n phải
chịu đựng những rối loạn vận động.
Bàn tay vụng về,làm rơi đồ vật: 7 tay
(12,3%),teo cơ ô mô cái: 23 tay (40,4%), sức cơ đối
ngón cái giảm: 15 tay (26,3%) là nhũng con số nói lên những
rối loạn về vận động là đáng kể
và cần thiết phải được điều trị
. Đối với 13 /35 bệnh nhân c̣n lao động phải
sử dụng bàn tay nhiều những rối loạn
đó càng nặng nề hơn và hạn chế không nhỏ
năng suất lao động.
Dù tỉ lệ
nặng và trung b́nh trên EMG chiếm khá lớn trong lô nghiên cứu
17 (29,8%) tay nặng, 23 (40,4%) tay trung b́nh) và ảnh hưởng
không nhỏ đến sinh hoạt đời thường
nhưng hầu hết bệnh nhân ít than phiền bằng lời.
Các bệnh nhân đều quy các triệu chứng cho bệnh
lư suy thận mạn giai đoạn cuối và họ dễ
dàng chấp nhận chịu đựng. Do vậy không có ǵ
ngạc nhiên khi phát hiện bệnh thường muộn và
tất yếu dẩn đến điều trị sẽ
khó khăn hơn và kết quả sẽ khiêm tốn
hơn. Rơ ràng bệnh nhân cần cung cấp nhiều thông
tin hơn về các bệnh lư thần kinh ngoại biên nói
chung và hội chứng ống cổ tay nói riêng để
cùng nhân viên y tế phát hiện sớm và điều trị
hiệu quả hơn so với t́nh h́nh hiện nay.
Dù cơ chế
bệnh sinh c̣n nhiều bàn cải và chưa được
chứng minh rơ ràng Hội chứng ống cổ tay trên bệnh
nhân chạy thận nhân tạo định kỳ là một
bệnh lư có thật với những màu sắc riêng khác với
hội chứng ống cổ tay vô căn:
- Tỉ lệ mắc cao và tăng dần theo thời gian
- Tính trầm trọng hơn
- Phát hiện thường muộn
- Các triệu chứng có thể tăng lên trong lúc chạy thận và là một gợi ư rất quí báu .
- Bệnh nhân chưa được cung cấp thông tin đầy đủ để cùng nhân viên y tế phát hiện bệnh sớm.
1. Bussell JA, Lim RC (1971). “A radial steal syndrome with arteriovenous fistula for hemodialysis”. Ann Int Med, 75, pp.387-394.
2. Dumitru Daniel (2002). Electrodiagnostic medicine. Hanley and Belfus Inc, tập 2 (4), pp.1070.
5. Harris Susan AC, Brown Edwina A (1998). “Patients surviving more than 10 years on haemodialysis. The natural history of complications of treatment”. Nephrol Dial Transplant, 13, pp.1226-1233.
6. Hirasawa Y, Ogura T (2000). “Carpal tunnel syndrome in patients on long-term haemodialysis”. Scand J Plast Reconstr Hand Surg, 34, pp.373-381.
7. Kimura Itaru, Sekino Hiroshi (1985). “Carpal tunnel syndrome in patients on long-term hemodialysis”. Tohoko J. exp. Med, 148, pp.257-266.
9. Lash EG, Engber WD (1989). “Carpal tunnel syndrome in hemodialysis patients”. J. Bone Joint Surg, tập 70B (8), pp.1145-1153.
11. Nguyễn Ngọc Bích (2004). Hội chứng ống cổ tay: tiêu chuẩn chẩn đoán điện-nhận xét 74 trường hợp đo điện cơ. Hội nghị thường niên lần thứ XI, Hội Chấn Thương Chỉnh H́nh TP. HCM, tr.277-288.
12. Nguyễn Lê Trung Hiếu (2007). Phân độ lâm sàng và điện sinh lí thần kinh trong hội chứng ống cổ tay. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Thần Kinh. Đại học Y Dược TP.HCM, tr.6-73.
13.
14.