Trương Ngọc
Đan Thanh[*], Nguyễn Hữu
Đức*
Mở đầu: Đề kháng kháng sinh và sử
dụng hợp lư kháng sinh (KS) đang là mối quan tâm của
các nhà điều trị tại các bệnh viện. Dùng KS
không hợp lư có thể dẫn đến thất bại
trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Bệnh
viện Hùng Vương (BVHV) là một trong hai bệnh viện
đầu ngành và là tuyến chuyên môn cao nhất về sản
phụ khoa của thành phố Hồ Chí Minh. Mổ sanh tại
BVHV chiếm tỷ lệ đáng kể trên tổng số
các ca phẫu thuật. Bệnh viện mới xây dựng
và áp dụng phác đồ sử dụng kháng sinh dự
pḥng trong phẫu thuật (PĐKSDP) nhằm làm giảm tỷ
lệ nhiễm khuẩn hậu phẫu.
Mục
tiêu: Nghiên cứu
khảo sát 500 hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng
sinh trong mổ sanh ở khoa Sản BVHV từ tháng 1 năm
2009 đến tháng 4 năm 2009 để xem việc sử
dụng có an toàn hiệu quả. Nghiên cứu cũng nhằm
xác định tỷ lệ sử dụng kháng sinh không hợp
lư trước và sau khi PĐKSDP được ban hành (giai
đoạn 1 và giai đoạn 2).
Phương
pháp nghiên cứu:
Hồi cứu mô tả cắt ngang các hồ sơ bệnh
án có sử dụng kháng sinh. Phỏng vấn bác sĩ điều
trị ở khoa Sản và dược sĩ ở khoa
Dược để biết rơ v́ sao có thực trạng sử
dụng kháng sinh như khảo sát.
Kết
quả: Tỷ lệ
dùng kháng sinh dự pḥng (KSDP) trước khi có PĐKSDP (giai
đọan 1: 11%) thấp hơn so với sau khi có phác đồ
(giai đoạn 2: 60,8%). Tỷ lệ dùng KSDP thành công ở
giai đoạn 1 và giai đoạn 2 lần lượt là
72,7% và 92,6 %. Trong cả hai giai đọan, cefazolin là kháng
sinh được dùng nhiều nhất để dự
pḥng. Trong giai đoạn 1 có ba trường hợp dùng
kháng sinh đơn trị liệu không hợp lư là ampicillin.
Có ba trường hợp bị ADR do dùng kháng sinh đă
được báo cáo trong thời gian khảo sát.
Kết
luận: Nghiên cứu
cho thấy sau khi có PĐKSDP, việc sử dụng kháng
sinh trong mổ sanh tại BVHV hợp lư hơn so với trước đây.
Từ
khóa: Sanh mổ,
sử dụng kháng sinh hợp lư, hướng dẫn pḥng
ngừa nhiễm trùng ngoại khoa.
EVALUATION
OF ANTIBIOTIC USE FOR CESAREAN SECTION IN OBSTERICS DEPARTMENT OF
Truong
Ngoc Dan Thanh, Nguyen Huu Duc
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 352 - 329
Background: Antibiotic
resistance and optimal use of antibiotics are major concerns of hospital staff.
The irrationale of antibiotic use can lead to limit the therapy for patients
with infections. Hung Vuong hospital is one of two leading
obstetric-gynecological hospitals in
Objectives: The study was
conducted on reviewing of 500 cases of antibiotic use for cesarean section in
obsterics department of Hung Vuong hospital from January 2009 to April 2009 to
see the appropriateness of antibiotic use. The study was also aimed to
determine the incidence of irrational drug use with respect to selection the
wrong antibiotics before and after the guideline was issued (period 1 and
period 2).
Methods: A
cross-sectional methodology was applied to review prescriptions using
antibiotics. Interviews of medical and pharmacy staff in the department were
conducted regarding prescription and dispensing antibiotics.
Results: The incidence of antibiotic use for prophylaxis before issuing the hospital guideline (period 1: 11%) was lower than after (period 2: 60.8%) ). The incidence of successful antibiotic use for prophylaxis in period 1 and period 2 were 72.7% and 92.6% respectively. In both period, cefazolin was the most antibiotic to use for prevention. In period 1, there was 3 cases of irrational monotherapy with ampicillin for treatment. Three cases of antibiotic adverse reactions were reported.
Conclusion: Reviewing from
the study revealed that after the guideline for prevention of surgical site
infections was issued, antibiotic use for cesarean section in obsterics
department of Hung Vuong hospital was more rational than before.
Key words: Cesarean section, rational use of antibiotics, guideline for prevention of surgical site infections
Bệnh nhiễm khuẩn
luôn chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh xảy ra cho
con người. Ở nước ta, hàng năm lượng
kháng sinh được sử dụng tại các bệnh viện
luôn chiếm tỷ lệ rất lớn. Sử dụng
kháng sinh an toàn, hợp lư, hiệu quả và kinh tế luôn là
một trong những quan tâm hàng đầu tại các cơ
sở điều trị (4). Trong các cơ sở điều
trị ở thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), bệnh viện
Hùng Vương (BVHV) là một trong hai bệnh viện đầu
ngành và là tuyến chuyên môn cao nhất về sản phụ
khoa của thành phố. Với tính chất đặc thù,
BVHV sử dụng khá nhiều kháng sinh để điều
trị các bệnh nhiễm trùng sản phụ khoa. Trong nhiều
năm qua, với sự chỉ đạo của Bộ y
tế, sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lư, hiệu quả
và kinh tế luôn là một trong những quan tâm hàng đầu
của Ban Giám Đốc, Hội đồng thuốc và
điều trị của các bệnh viện (3). Giống
như các cơ sở điều
trị khác, BVHV vẫn c̣n có những điều bất
như ư, bất cập trong sử dụng loại thuốc
đă từng được xem là loại thuốc thần
kỳ nhưng nay có khá nhiều vấn nạn, đặc
biệt vấn nạn đề kháng kháng sinh. Mổ sanh
ngày càng gia tăng trên ṭan thế giới. Riêng TP Hồ chí
Minh, tỷ lệ mổ sanh gia tăng từ 20,2% vào năm
2000 lên đến 35% vào năm 2006 (5). Mổ sanh tại BVHV
chiếm tỷ lệ đáng kể trên tổng số các
ca phẫu thuật của bệnh viện. Đối với
phẫu thuật sản phụ khoa, trong đó có mổ
sanh, sử dụng kháng sinh dự pḥng (KSDP) hiện nay trở
thành việc thường quy của các bệnh viện,
không ngoài mục đích nâng cao chất lượng điều
trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn hậu phẫu,
giảm chi phí điều trị do giảm được
số ngày nằm viện và số lượng kháng sinh hậu
phẫu. Bắt đầu từ tháng 2 năm 2009, BVHV mới
xây dựng và áp dụng phác đồ sử dụng kháng
sinh dự pḥng trong phẫu thuật nhằm làm giảm tỷ
lệ nhiễm khuẩn hậu phẫu (2). Sử dụng
kháng sinh trước và sau khi có phác đồ chắc chắn
có những thay đổi rất cần có sự khảo
sát để đánh giá ưu điểm mà việc áp dụng
phác đồ đem lại.
Mục tiêu của chúng tôi là khảo sát việc
sử dụng kháng sinh trong mổ sanh tại Khoa Sản
BVHV nhằm đề xuất các ư kiến tiến tới
việc hợp lư hóa sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật.
Các hồ
sơ bện án của bệnh nhân mổ sanh có chỉ
định dùng kháng sinh được lưu trữ tại
Khoa Sản BVHV trong thời gian từ tháng 1/ 2009 đến 4/ 2009.
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức
ước lượng tỷ lệ của một dân số.
![]()
Z = 1,96 với
độ tin cậy 95%.
p = 0,5 v́ khi
đó p(1-p) sẽ lớn nhất và cỡ mẫu là tối
đa có tính đại diện.
d (sai số mong muốn): 0,05
![]()
Để đạt độ tin cậy, số mẫu cần khảo sát là 400 mẫu. Trong đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát 500 hồ sơ bệnh án từ 01/01/2009 đến 30/4/2009.
Phương pháp hồi cứu: Tiến hành hồi cứu mô tả cắt
ngang các hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh
được lưu trữ tại Khoa Sản bệnh viện
từ tháng 1/ 2009 đến 4/ 2009.
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn bác sĩ điều trị
ở Khoa Sản và dược sĩ ở
Khoa Dược để biết rơ v́ sao có thực trạng
sử dụng kháng sinh như khảo sát.
Phân tích so sánh và đánh giá:
Phân tích các số liệu, việc chỉ định dùng
kháng sinh trong mổ sanh và so sánh với “Phác đồ sử
dụng kháng sinh dự pḥng trong phẫu thuật tại
Khoa Sản BVHV” (PĐKSDP-BVHV) (2), phác đồ điều
trị của một số nước tiên tiến
(6)(7).
Được
thành lập từ năm 1900 với tên ban đầu là Bảo
sanh viện Chợ Lớn, hoàn tất việc xây mới
vào tháng 2/ 2004. với số giường bệnh: 700, số
bác sĩ: 204, số nữ hộ sinh: 414, dược
sĩ: 6, nhân viên khác: 283.
Vào tháng
2 năm 2009, BVHV đã áp dụng PĐKSDP-BVHV do
bệnh viện đề ra. Thời gian chúng tôi
thực hiện đề tài là từ
tháng 01/2009 đến 04/2009, vì vậy chúng tôi
chia thời gian khảo sát làm 2 giai
đoạn:
Giai
đoạn 1 (GĐ1): trước khi có phác
đồ, gồm 1 tháng (01/2009).
Giai
đoạn 2 (GĐ2): sau khi có phác đồ,
gồm 3 tháng (02/2009, 03/2009, 04/2009).
Chúng tôi đã so sánh việc
sử dụng kháng sinh trong 2 giai đoạn
này để xem việc sử dụng có
hợp lý, an toàn, hiệu quả khi tuân theo
phác đồ kháng sinh dự phòng hay không.
Hồ sơ bệnh án
Số
lượng hồ sơ bệnh án đã
khảo sát là 500 hồ sơ, được chia
ra theo 2 giai đoạn khảo sát như trong bảng 1.
Bảng 1. Số hồ
sơ bệnh án (HSBA) khảo sát
|
SỐ HSBA |
THÁNG 1 |
THÁNG 2 |
THÁNG 3 |
THÁNG 4 |
|
Giai đoạn 1 |
100 |
|
|
|
|
Giai đoạn 2 |
|
100 |
150 |
150 |
Đặc
điểm bệnh nhân
Giới tính:
nữ, tuổi: thấp nhất là 16 tuổi, cao
nhất là 44 tuổi. Phần lớn có
độ tuổi từ 21 đến 30 tuổi.
Trong thời gian khảo sát ở bệnh viện, vì nhiều lý do khác nhau không phải tất cả các trường hợp đều được sử dụng KSDP, có trường hợp ngay từ đầu dùng kháng sinh điều trị (KSĐT) hoặc dùng KSDP bị thất bại chuyển sang (xem bảng 2).
Bảng 2. Tỷ lệ KSDP và KSĐT được sử dụng trước và sau khi có phác đồ
|
KHÁNG SINH SỬ̉ DỤNG |
TRƯỚC KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
SAU KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
||
|
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
|
|
DỰ PHÒNG |
11 |
11 |
243 |
60,8 |
|
ĐIỀU TRỊ |
89 |
89 |
157 |
39,2 |
|
TỔNG CỘNG |
100 |
100 |
400 |
100 |
Nhận xét: Tỷ lệ dùng KSDP sau khi có PĐKSDP-BVHV cao hơn so với trước khi có phác đồ (60,8% so với 11%).
Dùng KSDP được
xem là không thành công khi: Các xét nghiệm
huyết học vào các ngày hậu phẫu
có chỉ số CRP và bạch cầu tăng cao,
kèm với dấu hiệu lâm sàng như sản
phụ sốt, vết mổ nề, sưng, nóng,
đỏ, đau, có chảy mủ chứng tỏ
có nhiễm trùng vết mổ. Tỷ lệ KSDP
thành công và không thành công được
trình bày ở bảng 3.
Bảng 3. Tỷ lệ KSDP
thành công và không thành công trước và
sau khi có phác đồ
|
KHÁNG SINH DỰ PHÒNG |
TRƯỚC KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
SAU KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
||
|
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
|
|
THÀNH CÔNG |
8 |
72,7 |
225 |
92,6 |
|
KHÔNG THÀNG CÔNG
CHUYỂN SANG ĐIỀU TRỊ |
3 |
27,3 |
18 |
7,4 |
|
TỔNG CỘNG |
11 |
100 |
243 |
100 |
Nhận xét: Tỷ lệ dùng KSDP thành công sau khi có PĐKSDP-BVHV cao hơn so với trước khi có phác đồ (92,6% so với 77,7%).
Bảng 4. Tỷ lệ các loại KSDP được dùng trước và sau khi có phác đồ
|
KHÁNG SINH DỰ PHÒNG |
TRƯỚC KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
SAU KHI CÓ PHÁC ĐỒ |
||
|
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
|
|
Cefazolin |
6 |
54,5 |
153 |
63,0 |
|
Ampicillin + Sulbactam |
4 |
36,4 |
76 |
31,3 |
|
Amoxicillin + Clavulanate |
1 |
9,1 |
12 |
4,9 |
|
Lincomycin |
|
|
2 |
0,8 |
|
TỔNG CỘNG |
11 |
100 |
243 |
100 |
Nhận xét: Trước khi có phác đồ
và sau khi có phác đồ, kháng sinh được dùng dự
pḥng nhiều nhất là cefazolin. Trong trường hợp
thai phụ có nguy cơ cao, kháng sinh được lựa
chọn là ampicillin + sulbactam nhiều
hơn so với amoxicillin + clavulanat. Có sự lựa
chọn này là v́ dùng ampicillin + sulbactam có
lợi cho bệnh nhân do chi phí rẻ hơn. Có 2
trường hợp trong GĐ2 dùng KSDP là
lincomycin. Cả 2 trường hợp này
sản phụ được tiêm ampicillin + sulbactam
và có biểu hiện dị ứng thuốc nhẹ
nên chuyển sang dùng lincomycin (theo phác đồ, nên thay
bằng clindamycin nhưng lúc đó bệnh viên không có kháng
sinh clindamycin).
Trong
mổ sanh, không phải tất cả các
trường hợp đều dùng KSDP mà
có một số trường hợp dùng
KSĐT ngay từ đầu như: nhiễm độc
thai, sốt trong chuyển dạ không rơ nguyên nhân, nhau bong
non, nhau tiền đạo… Tỷ lệ sử dụng
kháng sinh đơn trị và phối hợp trong trường
hợp dùng KSĐT ngay từ đầu được
tŕnh bày ở bảng 5.
Bảng 5. Tỷ lệ kháng sinh dùng
đơn trị và phối hợp trong các
trường hợp dùng KSĐT ngay từ
đầu
|
KSĐT ngay từ đầu |
SỐ TH |
TỶ LỆ (%) |
|
Đơn trị |
60 |
24,4 |
|
Kết hợp |
186 |
75,6 |
|
TỔNG CỘNG |
246 |
100 |
Nhận
xét: Trong 246 trường hợp mổ sanh
dùng KSĐT ngay từ đầu, đa số các
trường hợp là dùng kháng sinh
phối hợp (75,6%) do có nguy cơ nhiễm
trùng cao. Tất cả trường hợp dùng KSĐT
là đơn trị trong GĐ2 đều hợp lư dựa
theo phác đồ của BVHV (1), trong khi ở GĐ2 có 3
trường hợp dùng đơn trị là ampicillin là bất
hợp lư do kháng sinh này đă bị đề kháng rất
nhiều.
Nếu
căn cứ vào PĐKSPD-BVHV, ở giai đọan 1 có một
số việc có thể xem là bất hợp lư trong dùng KSDP
như sau:
- Tỷ lệ dùng KSDP là rất thấp (11%).
- Trong GĐ1, các bác sĩ thường chỉ định dùng 2 lọai kháng sinh ampicillin+ sulbactam và amoxicillin+ clavulanat trong cả các trường hợp không có nguy cơ cao.
- Trong GĐ1, kháng sinh được dùng thay thế khi bệnh nhân có dị ứng với kháng sinh thuộc nhóm penicillin là lincomycin thay v́ clindamycin (không đúng theo phác đồ).
- Trong GĐ1, trước khi có phác đồ, KSDP được dùng liều đầu tiên sau khi mổ trong vòng 1 giờ thay vì dùng ngay sau khi kẹp rốn trẻ sơ sinh theo đúng phác đồ.
Trong 500 hồ sơ khảo sát, chúng tôi ghi nhận có 3 trường hợp xảy ra ADR. Cả 3 trường hợp đều là phản ứng dị ứng thuốc nhẹ do dị ứng với ampicillin + sulbactam, biểu hiện: nổi mẫn đỏ, ngứa, mặt phù, và cả 3 ngưng thuốc và chuyển sang dùng lincomycin thay thế.
Trong suốt thời
gian từ tháng 01/2009 đến tháng 04/2009,
trong điều kiện có nhiều khó khăn, chúng tôi
cố gắng thực hiện các mục tiêu
của đề tài. Chúng tôi đã tiến
hành khảo sát 500 hồ sơ bệnh án
có chỉ định mổ sanh, và tất cả
các bệnh án này đều có dùng
kháng sinh để dự phòng hoặc
điều trị.
Chúng
tôi đã khảo sát các văn bản, tài
liệu liên quan như: PĐKSDP-BVHV, các tài liệu
nước ngoài về sử dụng KSDP và
KSĐT trong mổ sanh.
Kể từ khi PĐKSDP-BVHV
được đưa vào áp dụng, KSDP
được sử dụng trong mổ sanh
tại BVHV trong GĐ2 là 60,8%, tăng gấp 6 lần
so với trước GĐ1 là 11%. Tỷ lệ
dùng KSDP thành công trong GĐ2 cũng tăng lên
đáng kể. Đa số các trường
hợp dùng KSDP cũng như KSĐT trong GĐ2
đều tuân theo quy tắc sử dụng
kháng sinh an toàn, hợp lý.
Chúng tôi nhận thấy việc
đưa vào áp dụng PĐKSDP-BVHV là
hoàn toàn đúng và cần thiết,
giúp sử dụng KSDP hợp lý hơn,
hạn chế việc
dùng KSĐT trong hậu phẫu.
1. Bệnh viện Phụ Sản Hùng Vương TPHCM (2005), Phác đồ điều trị 9/2005, Tài liệu lưu hành nội bộ.
2. Bệnh viện Phụ Sản Hùng Vương TPHCM (2009), “Phác đồ sử dụng kháng sinh dự pḥng trong phẫu thuật, thủ thuật”, Tài liệu lưu hành nội bộ.
3. Bộ Y tế Việt nam, Chỉ thị 04/BYT-CT ngày 04/3/1998 về tăng cường sử dụng thuốc hợp lư, an toàn, hiệu quả và tiết kiệm tại các cơ sở khám chữa bệnh.
4. Nguyễn Huy Tuấn và cộng sự (2004), Khảo sát và đánh giá công tác quản lư sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lư, hiệu quả tại bệnh viện phụ sản Trung Ương, Tạp chí Dược học, số 2, trang 36- 38.
5. Nguyễn thị Bích Duyên và cộng sự (2008), Khảo sát t́nh trạng kháng thuốc của các chủng gây nhiễm trùng tiểu trên sản phụ mổ sanh tại bệnh viện Hùng vương, Tập san Thông tin Y học, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ Tuổi trẻ lần thứ VI, số 6, 1-2008, 188-195.
6.
Sandford J P, The
7. Wells G B, Pharmacotherapy Handbook (2005), 8th ed., The McGraw-Hill Companies Inc.
[*] Khoa Dược -
Đại học Y Dược Tp.HCM
Địa
chỉ liên hệ: PGS.TS. DS. Nguyễn
Hữu Đức ĐT: 0918276256 Email: tvduoc@yahoo.com