Tạ Thuỳ Linh*, Trần
Thị Phương Thu**, Lê Minh Thông*
Mục tiêu: Đánh giá kiểu và sự hồi phục rối
loạn sắc giác (RLSG) và độ nhạy tương phản
(ĐNTP) ở bệnh lư viêm thần kinh thị (VTKT) tại
bệnh viện Mắt TP.HCM.
Phương
pháp: 30 bệnh nhân
được chẩn đoán và điều trị VTKT tại
BV Mắt TP.HCM từ 11/2008 - 9/2009. SG và ĐNTP được
đo ở giai đoạn cấp, sau điều trị 6
tuần và 3 tháng bằng test Farnsworth D15 và bảng FACT
(Functional Acuity Contrast Test).
Kết
quả: Tỉ lệ
RLSG chiếm 76,6% ở giai đoạn cấp; 53,3% sau
điều trị 6 tuần và 20% sau điều trị 3
tháng. Tại cả 3 thời điểm, có thể gặp
bất cứ rối loạn trục nào. Tại thời
điểm cấp rối loạn sắc giác (RLSG) trục
đỏ-xanh lá thường gặp ở nhóm thị lực
0,1 - 0,4 (80%) và RLSG trục vàng-xanh da trời thường gặp
ở nhóm thị lực 0,5 - 0,9 (83,3%). Tỉ lệ rối
loạn ĐNTP chiếm 93,3% tại thời điểm cấp,
73,3% tại 6 tuần và 60% ở thời đểm 3 tháng.
Tại mọi thời điểm, dạng rối loạn
ĐNTP gặp nhiều nhất là phối hợp thị tần
trung b́nh và cao (lần lượt ở 3 thời điểm
là 53,6%, 45,5%, 44,4%). Tiếp sau đó là các dạng rối loạn
tại tất cả các thị tần hoặc chỉ rối
loạn tại thị tần trung b́nh hoặc thị tần
cao. Các dạng rối loạn ĐNTP khác chiếm tỉ lệ
không đáng kể. Trong giai đoạn hồi phục
nghiên cứu ghi nhận có những trường hợp thị
lực đă hồi phục 10/10 nhưng vẫn c̣n RLSG và
ĐNTP.
Kết
luận: Không có kiểu
rối loạn về màu đơn thuần nào liên quan cố
định với bệnh lí VTKT do đó chỉ nên sử
dụng kiểu RLSG như một gợi ư trong chẩn
đoán ở giai đoạn cấp và gắn liền với
thị lực. ĐNTP chỉ nên sử dụng như một
dấu hiệu gợi ư trong chẩn đoán VTKT, đặc
biệt ở những bệnh nhân giảm ĐNTP
đơn độc ở thị tần thấp th́ khả
năng chẩn đoán VTKT thấp hơn những bệnh
nhân giảm ĐNTP tại thị tần trung b́nh-cao. Trong
theo dơi bệnh nên đo kết hợp thị lực, sắc
giác và ĐNTP.
Từ
khoá: bệnh lư viêm
thần kinh thị,
độ nhạy tương phản, sắc giác, test
Farnsworth, bảng FACT.
ASSESSMENT
THE DISTURBANCES OF CONTRAST SENSITIVITY AND COLOR VISION BEFORE AND AFTER
TREATMENT IN OPTIC NEURITIS
Ta
Thuy Linh, Tran Thi Phuong Thu, Le Minh Thong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 231
- 236
Purpose: To describe the
types and changings of color vision defects and contrast sensitivity
disturbances present in the acute phase of the disease and 6 weeks and 3 months
into recovery in the 30 optic neuritis patients.
Methods: Patients meeting
strict eligibility criteria were seen within 14 days of the onset of symptoms
and then at regular follow-up visits. At the first, 6-week and 3-month visits,
spatial vision (acuity, contrast sensitivity) and color vision were measured.We
used the Farnsworth-Munsell 15 hue tests and Functional Acuity Contrast Test in
this research.

Results: Color vision
defect percentage was 76.6% in the acute phase, 53.3% at 6-week point and 20%
at 3-month point. In the acute phase, most patients with low vision acuity show
mixed red-green (RG) while ones with medium acuity showed blue-yellow (BY)
color defects. However, all three types of color defects were present in every
time of assessment. Contrast sensitivity defect percentage was 93.3% in the
acute phase, 73.3% at 6-week point and 60% at 3-month point. In all time, the
most common defects is the medium- high spatial
frequency, followed by all-spatial frequency defect, medium spatial frequency
defect and high spatial frequency defect. There was only one patient with
low-medium spatial frequency defect at acute phase and 6-week visit. In
recovery period (6 weeks and 3 months after treatment), there were some
patients with disturbance in color vision or contrast sensitivity although
their decimal vison acuity were at 10/10.
Conclusion: Contrary to
common clinical wisdom, optic neuritis is not characterized by selective RG
defects. Its types can shift time over time. Contrast sensitivity defects are
in a wide variety yet happen most around medium spatial frequency. So color and contrast sensitivity defect types cannot be used for
differential diagnosis of optic neuritis. In order to follow the
patients’s recovery process, ophthalmologists should not only assess vision
acuity but also measure color vision and contrast sensitivity.
Keywords: optic neuritis, contrast sentivity, color vision, Farnsworth test, Functional Acuity Contrast Tesr (FACT).
VTKT là bệnh lư TKT mắc
phải thường gặp nhất chỉ sau glaucoma ở
những người dưới 50 tuổi(6). Với triệu chứng điển h́nh là giảm thị
lực cấp tính, yêu cầu điều trị đ̣i hỏi
nhập viện, thường xảy ra trong độ tuổi
lao động, ... đây có thể được coi là một
bệnh lí gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc
sống và tốn kém cho bản thân người bệnh
cũng như xă hội.
Mặc dù, triệu chứng của VTKT rất
đa dạng bao gồm giảm thị lực nhiều
trong thời gian ngắn vài giờ đến vài ngày,
đau mắt tăng khi liếc, mất thị trường,
khiếm khuyết đồng tử hướng tâm
tương đối, phù sung huyết đĩa thị, rối
loạn trên VEP(9),... nhưng hiện tại vẫn chưa
có một triệu chứng hoặc phương pháp cận
lâm sàng nào được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn
đoán VTKT. Bên cạnh đó, c̣n những vấn đề
chưa sáng tỏ về cơ chế bệnh sinh trong VTKT
đă gây ra một số khó khăn trong việc chẩn
đoán xác định VTKT, nhất là đối với những
trường hợp bệnh nhân có các triệu chứng
không điển h́nh. Ngoài ra, trong quá tŕnh hồi phục của
bệnh, các nghiên cứu đă ghi nhận nhiều trường
hợp dù thị lực đă cải thiện tối
đa nhưng bệnh nhân vẫn than phiền về chất
lượng thị giác gây không ít bối rối cho các bác
sĩ lâm sàng. Chính điều này đă thúc
đẩy nhiều nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu
các chức năng thị giác khác bên ngoài thị lực và
thị trường, đó chính là sắc giác và ĐNTP.
Nói một cách dễ hiểu,
sắc giác là khả năng phân biệt màu sắc ở những
mức độ khác nhau, c̣n ĐNTP là thước đo khả
năng phát hiện sự khác nhau giữa một vật và
nền của nó. Từ đầu thế kỉ 20, các nhà nghiên cứu
đă ghi nhận những thay đổi về sắc giác
và ĐNTP trong VTKT(1)(8). Từ đó đến nay, mặc
dù vẫn c̣n nhiều tranh luận về mức độ,
kiểu và diễn tiến của RLSG và ĐNTP nhưng sự
hiện diện của các rối loạn chức năng
thị giác này trong VTKT đă được nhiều công
tŕnh nghiên cứu khẳng định(3)(4)(11).
Tuy nhiên, tại nước ta cho đến nay vai tṛ của sắc giác và ĐNTP vẫn chưa thực sự được quan tâm và đánh giá đúng mức trong chẩn đoán và theo dơi bệnh lí VTKT. Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này qua đó đánh giá và ứng dụng ĐNTP và sắc giác trong chẩn đoán và theo dơi bệnh lư VTKT.
Đối tượng nghiên cứu: là các bệnh nhân được chẩn đoán VTKT ở một mắt (thị lực ≥1/10), mắt c̣n lại b́nh thường được điều trị tại BV. Mắt TP.HCM từ 11/2008 - 9/2009. Tiêu chuẩn loại trừ nếu bệnh nhân có bệnh lư khác tại mắt kèm theo, tiền sử chấn thương đầu, dùng thuốc hoặc đă phẫu thuật mắt ảnh hưởng đến sắc giác và ĐNTP. Trong quá tŕnh nghiên cứu có 30 bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn trên và được đưa vào mẫu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân được khám mắt toàn diện và đầy đủ. Tại mỗi thời điểm lúc nhập viện, 6 tuần và 3 tháng sau điều trị bệnh nhân đều được đo sắc giác bằng test Farnsworth D15 và đo ĐNTP bằng bảng FACT. Cả 2 phương pháp này đểu được tiến hành đo từng mắt, mắt lành trước, mắt bệnh sau. Với test D15, bệnh nhân sẽ sắp xếp 15 ô màu có sắc độ khác nhau theo thứ tự cho trước. Test sắc giác (+) (có rối loạn sắc giác) nếu có ≥2 đường chéo lớn đi qua trung tâm ṿng tṛn. Kết quả sắc giác sẽ ghi nhận 1 trong 3 loại trục: đỏ- xanh lá (RG), vàng-xanh da trời (BY), không chọn lọc (NS). Với bảng FACT, bệnh nhân phải xác định hướng các vạch trong từng tiêu thử có độ tương phản khác nhau lần lượt ở 5 thị tần. Test đo ĐNTP đường biểu điễn ĐNTP được xem là bất thường khi đường cong không nằm trong giới hạn b́nh thường của dân số hoặc khác biệt giữa 2 mắt tại cùng bất kỳ một thị tần nào ≥2 ô hoặc khác biệt giữa 2 mắt ≥1 ô tại từ 2 thị tần kế tiếp trở lên. Giá trị ĐNTP được xác định dựa trên một bảng kết quả tương ứng và được chuyển thành logarit thập phân trong quá tŕnh thống kê. Thị lực sử dụng trong thống kê dưới dạng thị lực LogMar. Các số liệu được xử lí bằng phần mềm SPSS 16.0.


H́nh trái. Hộp
đo sắc giác D15; H́nh phải. Bảng đo
ĐNTP FACT.
Tỉ lệ RLSG tại lúc nhập viện là 76,6%, sau điều trị 6 tuần là 53,3% và sau 3 tháng là 20%. Sự cải thiện RLSG giữa lúc nhập viện và 6 tuần có ư nghĩa thống kê (p<0,05) tuy nhiên sự cải thiện giữa thời điểm 6 tuần và 3 tháng là không có ư nghĩa (p>0,05).
Bảng 1. Tần số
phân bố RLSG theo thị lực tại
3 thời điểm khám.
|
Kiểu RLSG |
Thị lực |
||||||||
|
0,1-0,4 |
0,5-0,9 |
0,1 |
|||||||
|
n1 |
n2 |
n3 |
n1 |
n2 |
n3 |
n1 |
n2 |
n3 |
|
|
Vàng-xanh da
trời |
1 |
0 |
0 |
5 |
2 |
1 |
0 |
0 |
0 |
|
Đỏ-xanh
lá |
8 |
2 |
1 |
2 |
3 |
2 |
0 |
0 |
0 |
|
Không chọn
lọc |
6 |
1 |
0 |
1 |
6 |
1 |
0 |
2 |
2 |
|
B́nh thường |
0 |
0 |
0 |
5 |
7 |
13 |
2 |
7 |
10 |
|
Tổng |
15 |
3 |
1 |
13 |
18 |
17 |
2 |
9 |
12 |
Với n1, n2, n3 lần lượt là tần
số RLSG tại thời điểm nhập viện, 6 tuần
và 3 tháng sau điều trị.
Bảng 1 cho thấy lúc nhập viện, nếu thị lực 0,5 - 0,9 th́ kiểu vàng-xanh da trời thường gặp, c̣n nếu thị lực trung tâm 0,1 - 0,4 th́ kiểu đỏ-xanh lá thường gặp. 6 tuần sau điều trị, nếu thị lực 0,5 - 0,9 th́ thường gặp kiểu rối loạn trục không chọn lọc.
Bảng 2. Sự
thay đổi kiểu RLSG giữa thời điểm cấp
và sau 6 tuần.
|
RLSG ở thời điểm cấp |
RLSG ở thời điểm 6 tuần |
Tổng số RLSG ở thời
điểm cấp |
|||
|
BY (n) |
RG (n) |
NS (n) |
N (n) |
||
|
BY (n) |
1 |
3 |
1 |
1 |
6 |
|
RG (n) |
1 |
0 |
5 |
4 |
10 |
|
NS (n) |
0 |
2 |
3 |
2 |
7 |
|
N (n) |
0 |
0 |
0 |
7 |
7 |
|
Tổng số
RLSG ở thời điểm 6 tuần |
2 |
5 |
9 |
14 |
30 |
Bảng 3. Sự thay đổi kiểu RLSG giữa thời điểm cấp và 3 tháng.
|
RLSG ở thời điểm cấp |
RLSG ở thời điểm 3 tháng |
Tổng số RLSG ở thời
điểm cấp |
|||
|
BY (n) |
RG (n) |
NS (n) |
N (n) |
||
|
BY (n) |
0 |
1 |
0 |
5 |
6 |
|
RG (n) |
0 |
0 |
2 |
8 |
10 |
|
NS (n) |
1 |
2 |
1 |
3 |
7 |
|
N (n) |
0 |
0 |
0 |
7 |
7 |
|
Tổng số
RLSG ở thời điểm 3 tháng |
1 |
3 |
3 |
23 |
30 |
Bảng
2 và bảng 3 cho thấy ở VTKT cấp kiểu rối loạn
đỏ-xanh lá thường gặp nhất, tại thời
điểm 6 tuần kiểu rối loạn trục không
chọn lọc thường gặp và ở 3 tháng kiểu
rối loạn đỏ-xanh lá và không chọn lọc
thường gặp hơn. Tuy nhiên sự khác biệt giữa
các khuynh hướng thay đổi trục và không thay đổi
trục là không có ư nghĩa (kiểm định c2 với p>0,05).
Bảng 4. Đặc điểm
và tỉ lệ bất thường ĐNTP tại các thời
điểm
|
Thời điểm |
Tỉ lệ bệnh nhân có ĐNTP bất
thường |
Thành phần thị tần bị ảnh
hưởng |
|
|
Nhập viện |
28 (93,3) |
Trong
đó: - 15(53,6) rối loạn
thị tần trung b́nh và cao. - 7 (25) rối loạn tất cả thị
tần. - 5 (17,8) chỉ rối
loạn thị tần trung b́nh. - 1 (3,6) rối loạn
thị tần thấp-trung b́nh. |
|
|
6 tuần |
22 (73.3) |
Trong
đó: - 10(45,5) rối loạn
thị tần trung b́nh và cao. - 5 (22,8) rối loạn
tất cả thị tần. - 3 (13,6) chỉ rối
loạn thị tần trung b́nh. - 3 (13,6) chỉ rối
loạn thị tần cao. - 1(4,5) rối loạn
thị tần thấp-trung b́nh. |
|
|
3 tháng |
18 (60) |
Trong
đó: - 8(44,4) rối loạn
thị tần trung b́nh và cao. - 3 (16,7) rối loạn
tất cả thị tần. - 5 (27,8) chỉ rối
loạn thị tần trung b́nh. - 2 (11,1) chỉ rối
loạn thị tần cao. |
|
Tại mọi thời điểm dạng rối loạn ĐNTP gặp nhiều nhất là phối hợp thị tần trung b́nh và cao (lần lượt ở 3 thời điểm là 53,6%, 45,5%, 44,4%). Tiếp sau đó là các dạng rối loạn tại tất cả các thị tần hoặc chỉ rối loạn tại thị tần trung b́nh hoặc thị tần cao. Dạng rối loạn thị tần thấp-trung b́nh chỉ gặp ở 1 bệnh nhân lúc nhập viện và sau 6 tuần.
Bảng 5. Tỉ
lệ bất thường ĐNTP ứng với từng
nhóm thị lực.
|
|
Nhóm thị lực |
Tỉ lệ ĐNTP bất
thường (%) |
|
Nhập viện |
0,1 - 0,4 |
100 |
|
0,5 - 0,9 |
84,6 |
|
|
1,0 |
50 |
|
|
6 tuần |
0,1 - 0,4 |
100 |
|
0,5 - 0,9 |
89,5 |
|
|
1,0 |
62,5 |
|
|
3 tháng |
0,1 - 0,4 |
100 |
|
0,5 - 0,9 |
83,3 |
|
|
1,0 |
40 |
Tại cả 3 thời
điểm khám ở nhóm thị lực kém (1/10 - 4/10) tất
cả bệnh nhân đều có rối loạn ĐNTP và tỉ
lệ rối loạn ĐNTP luôn thấp nhất ở nhóm
thị lực 10/10.
Bảng 6. Tương quan giữa thị lực LogMar và ĐNTP ở các thời điểm
|
Thị tần (c/deg) |
Thời điểm |
r |
p |
|
1,5 |
NV |
-0,47 |
0,012 |
|
6 tuần |
-0,66 |
<0,001 |
|
|
3
tháng |
-0,64 |
<0,001 |
|
|
3 |
NV |
-0,63 |
0,001 |
|
6 tuần |
-0,7 |
<0,001 |
|
|
3
tháng |
-0,73 |
<0,001 |
|
|
6 |
NV |
-0,65 |
0,002 |
|
6 tuần |
-0,67 |
<0,001 |
|
|
3
tháng |
-0,72 |
<0,001 |
|
|
12 |
NV |
-0,61 |
0,008 |
|
6 tuần |
-0,54 |
0,005 |
|
|
3
tháng |
-0,65 |
<0,001 |
|
|
18 |
NV |
-0,52 |
0,007 |
|
6 tuần |
-0,45 |
0,02 |
|
|
3
tháng |
-0,55 |
0,002 |
Như vậy, trong VTKT có sự
tương quan nghịch mức độ trung b́nh giữa
thị lực LogMar và ĐNTP ở mọi thị tần
và mọi thời điểm. Có nghĩa thị lực
logMar tăng th́ ĐNTP giảm, đồng nghĩa với
thị lực thập phân tăng th́ ĐNTP tăng.
Nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy giai đoạn cấp (lúc nhập
viện) rối loạn trục đỏ-xanh lá chiếm tỉ
lệ cao nhất (43,5%), đây cũng là trục thường
gặp khi thị lực trung tâm bị ảnh hưởng
nặng, c̣n trục vàng-xanh da trời thường gặp
trong những trường hợp thị lực trung tâm
chưa bị ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên cả hai rối loạn này cũng như
rối loạn không chọn lọc đều thấy ở
cả 3 thời điểm cấp, sau 6 tuần và 3 tháng.
Do đó, chúng tôi thấy rằng không có kiểu
rối loạn về màu đơn thuần nào liên quan cố
định với bệnh lí VTKT. Barrett Katz(2) báo cáo tỉ lệ RLSG với test
F100 là 9,29% nhóm ≥10/10, 62% nhóm 5/10 - 9/10 và 100% nhóm 1/10 - 4/10.
Nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ RLSG ở các nhóm thị
lực thấp hơn nghiên cứu trên có thể do test
đo sắc giác khác nhau, thời gian khám sắc giác khác nhau
và cỡ mẫu khác nhau.
Nếu ứng dụng vào chẩn đoán lúc nhập viện đối với những bệnh nhân đến trong giai đoạn cấp th́ các bác sĩ lâm sàng phải phối hợp cả thị lực trung tâm lẫn kiểu RLSG tại thời điểm này. Cụ thể là với những bệnh nhân có thị lực trung tâm kém và có rối loạn trục đỏ-xanh lá hay những bệnh nhân có thị lực ít ảnh hưởng bị rối loạn trục vàng-xanh da trời sẽ là yếu tố phù hợp với chẩn đoán VTKT. Chúng tôi cũng nhấn mạnh rằng đây cũng chỉ là một yếu tố gợi ư chứ không phải quyết định trong quá tŕnh chẩn đoán ban đầu.
Tại thời điểm 3
tháng, những bệnh nhân có thị lực trung tâm kém
thường đi kèm RLSG kéo dài và trục rối loạn
chủ yếu là đỏ-xanh lá, do đó có thể khả
năng RLSG kéo dài đến 3 tháng có liên quan đến
độ nặng của mất thị lực trung tâm ban
đầu. Những bệnh nhân có thị lực
cải thiện cao hơn nếu có RLSG đi kèm th́ thường
là trục không chọn lọc hoặc đỏ-xanh lá.
Barrett Katz(2) cũng đưa ra kết
luận rằng trong giai đoạn cấp rối loạn
trục đỏ-xanh lá thường gặp trong thị lực
trung tâm thấp c̣n trục chọn lọc vàng-xanh da trời
thường gặp trong những trường hợp thị
lực trung tâm ít ảnh hưởng. Trong nghiên cứu của
chúng tôi ở giai đoạn cấp tính, rối loạn trục
đỏ-xanh lá thường gặp ở nhóm có thị lực
trung tâm thấp mà nhóm này lại chiếm đa số trong
thời điểm nhập viện do đó tại thời
điểm này rối loạn trục đỏ-xanh lá chiếm
đa số trong nghiên cứu của chúng tôi, c̣n đối
với nhóm có thị lực trung tâm c̣n tốt th́ kiểu rối
loạn thường gặp là vàng-xanh da trời. Bởi v́
kiểu trục rối loạn giai đoạn cấp phụ
thuộc rất nhiều vào thị lực trung tâm ban đầu(2). Do đó, chúng tôi thấy
kết quả như vậy cũng phù hợp với những
nghiên cứu của Barrett Katz(2) và Marilyn(10) (các nghiên cứu của các tác giả
trên thị lực trung tâm giai đoạn cấp hầu hết
chỉ giảm nhẹ-trung b́nh). Tuy vậy vẫn
c̣n một số tỷ lệ c̣n chưa phù
hợp giữa nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên
cứu của các tác giả khác. Điều này có thể được lí
giải do sự khác biệt về đặc tính dân số
mẫu, cỡ mẫu, test đo sắc giác, mốc thời
gian khám sắc giác,...
Trong giai đoạn hồi phục của bệnh, tại thời điểm 6 tuần và 3 tháng đều có 2 trường hợp dù thị lực đă hồi phục tối đa về 10/10 (thị lực thập phân) nhưng vẫn có RLSG trục không chọn lọc. Điều này cho thấy sự phục hồi RLSG và thị lực là không tương ứng. Do đó, nếu chỉ dùng bảng thị lực để theo dơi diễn tiến hồi phục VTKT là rất thiếu sót.
Nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy h́nh thái rối loạn ĐNTP trong VTKT khá đa
dạng, có thể chỉ ảnh hưởng riêng lẻ một
vài thị tần hoặc phối hợp nhiều thị tần
với nhau hoặc ảnh hưởng tất cả các thị
tần khảo sát. Tuy nhiên, ảnh hưởng chủ yếu
vẫn là ở thị tần trung b́nh- cao hoặc tất cả
mọi thị tần, chỉ có 1 trường hợp ảnh
hưởng thị tần thấp-trung b́nh ở thời
điểm cấp và 6 tuần, đặc biệt không xảy
ra trường hợp nào chỉ tổn thương riêng lẻ
thị tần thấp. Nghiên cứu của Hess và Plant(7) cũng kết luận
rằng ĐNTP có thể xảy ra ở bất kỳ thị
tần nào, nhưng ít ảnh hưởng đến những
thị tần thấp. Như vậy chúng tôi cho rằng chỉ
nên sử dụng ĐNTP như một dấu hiệu gợi
ư trong chẩn đoán VTKT, đặc biệt ở những
bệnh nhân giảm ĐNTP đơn độc ở thị
tần thấp th́ khả năng chẩn đoán VTKT thấp
hơn những bệnh nhân giảm
ĐNTP tại thị tần trung b́nh – cao.
Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ bất thường ĐNTP trong VTKT có khuynh hướng giảm khi thị lực tăng lên. Xét về mối tương quan giữa thị lực LogMar và trung b́nh logarit giá trị ĐNTP, chúng tôi nhận thấy tại mọi thời điểm đều có sự tương quan nghịch giữa giá trị ĐNTP và thị lực LogMar, có nghĩa là có sự tương quan thuận giữa thị lực thập phân và giá trị ĐNTP. Điều này cũng phù hợp với những nghiên cứu về ĐNTP, trong đó thị lực là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến ĐNTP(1)(5). Tuy nhiên mối tương quan này không phải tuyệt đối, hay nói cách khác trong bệnh lí VTKT sự ảnh hưởng đến ĐNTP cũng không hoàn toàn cùng mức độ như thị lực bởi v́ nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy cũng giống như sắc giác, tại giai đoạn ổn định của bệnh vẫn có 4/10 (40%) bệnh nhân dù thị lực đă hồi phục 10/10 nhưng vẫn rối loạn ĐNTP. Điều này cũng phù hợp với kết luận Celesia và cộng sự(4) cho rằng trong VTKT có những trường hợp ĐNTP và sắc giác phục hồi trước thị lực nhưng cũng có những trường hợp thị lực phục hồi trước các chức năng thị giác khác, do đó có những bệnh nhân dù thị lực đă phục hồi 10/10 nhưng ĐNTP vẫn rối loạn. Do đó, trong quá tŕnh theo dơi diễn tiến hồi phục của bệnh nhân, nên sử dụng phối hợp cả 3 phương pháp đo thị lực, sắc giác và ĐNTP để có thể đánh giá đầy đủ hơn t́nh trạng bệnh của bệnh nhân.
1.
4. Celesia G.G., et al. (1990). Optic neuritis: A prospective study. Neurology; 40: 919 - 923.
11. The Optic Neuritis Study Group (1991). The clinical profile of acute optic neuritis: experience of the Optic Neuritis Treatment Trial. Arch Ophthalmol.; 109: 1673 – 1678.