Ngô Tích Linh*, Lê Thị Kiến Trúc*
Mở
đầu: Trầm cảm lưỡng cực
(TCLC) là một bệnh lư khá phổ biến. Bệnh dễ
chẩn đoán nhầm với trầm cảm đơn cực (TCĐC), dẫn đến
việc điều trị không hiệu quả.
Mục
tiêu: Khảo sát một số đặc
điểm về dịch tễ và lâm sàng của trầm
cảm lưỡng cực ở bệnh nhân giai đoạn trầm cảm
nặng tại khoa khám bệnh viện Tâm Thần thành phố
Hồ Chí Minh.
Phương
pháp: Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, Bối
cảnh và thời gian: khoa khám bệnh viện Tâm Thần
TP.HCM từ 01/06/2007 – 31/05/2008. Bệnh nhân: tất cả
các bệnh nhân có giai đoạn trầm cảm chủ yếu
theo tiêu chuẩn DSM-IV-TR. Chẩn đoán bệnh nhân
TCĐC nếu tiền sử chỉ có cơn trầm cảm. Chẩn
đoán bệnh nhân trầm cảm lưỡng cực TCLC nếu
trong tiền sử có ít nhất một cơn hưng cảm hoặc
cơn hưng cảm nhẹ theo tiêu chuẩn DSM-IV-TR
Kết
quả: Trong 84 bệnh nhân giai đoạn trầm cảm
nặng có 38 bệnh nhân trầm cảm lưỡng cực
(45,2%), [9 bệnh nhân rối loạn lưỡng cực I
(10,7%), 29 bệnh nhân rối loạn lưỡng cực II
(34,5%)], 46 bệnh nhân trầm cảm đơn cực (54,8%).TCLC
khởi phát sớm hơn
TCĐC (23,92±6,04 tuổi so với 50,9±14 tuổi). Tỉ
lệ nữ/nam là 2/1. Không có sự khác biệt đáng kể giữa
các tŕnh độ học vấn, nghề nghiệp. Thời
gian trung b́nh của giai đoạn trầm cảm trong TCLC ngắn
hơn so với TCĐC
(4,1±1,5 tháng so với 4,1±1,5 tháng). Bệnh
nhân TCLC tái phát nhiều cơn trầm cảm hơn bệnh nhân
TCĐC (2,45±1,6 cơn
so với 0,3±0,6 cơn). Bệnh nhân trầm
cảm với tiền căn gia đ́nh có rối loạn lưỡng cực
hoặc trầm cảm khởi phát sau sanh thường là
TCLC. Bệnh nhân TCLC thường biểu hiện triệu
chứng lâm sàng không điển h́nh như tăng cân, ngủ nhiều, hoang tưởng
bị tội, kích động. Tỉ lệ bệnh nhân
TCLC có ư tưởng-hành vi tự sát và triệu chứng loạn
thần cao hơn
TCĐC.
Kết
luận: TCLC chiếm một tỷ lệ
khá cao trong số bệnh nhân được chẩn đoán giai đoạn trầm cảm
nặng. Rối loạn này thường biểu hiện
triệu chứng lâm sàng không điển h́nh, v́ vậy chúng ta cần chẩn
đoán chính xác để có những phương pháp điều trị
thích hợp.
Từ
khóa: trầm cảm lưỡng cực
(TCLC), trầm cảm đơn cực (TCĐC), rối loạn lưỡng cực
I (RLLC I), rối loạn lưỡng cực II (RLLC I).
STUDYING
SOME EPIDEMIOLOGICAL CHARACTERISTICS AND CLINICAL FEATURES OF OUTPATIENTS WITH
BIPOLAR DEPRESSION
Ngo
Tich Linh, Le Thi Kien Truc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of
No 1-2010: 425-429
Background: Bipolar depression makes up a high percentage of mental health
diseases. It is easily to be misdiagnosed as unipolar depression, consequently,
the treatment procedure of the disorder is ineffective.
Objective: To study some epidemiological characteristics and clinical features of
outpatients with bipolar depression who have a current major depressive episode
at Mental Hospital’s Clinic in
Method: Design: cross-sectional descriptive study. Setting and time: at Mental
Hospital’s Clinic in
Results: Among 84 patients suffering a current major depressive episode, there
were 38 patients with bipolar depression (45.2%), including 9 patients with
bipolar I disorder (10.7%) and 29 patients with bipolar II disorder (34.5%) and
46 patients with unipolar depression (54.8%). The onset of bipolar depression
was earlier than that of unipolar depression (23.92±6.04 year-old vs. 50.9±14
year-old), the ratio of women to men was 2 to 1. There is no significant
difference in education levels, occupations. The mean length of depressive
episode of bipolar depression was shorter than that of unipolar depression
(4.1±1.5 months vs. 10.5±1.5 months). Patients with bipolar depression
experienced more recurrence of depressive episodes than patients with unipolar
depression (2.45±1.6 episodes vs. 0.3±0.6 episodes). Patients who had family
history with bipolar disorder or the ones who had a postpartum onset depressive
disorder were usually bipolar depressive ones. Patients with bipolar depression
usually presented atypical clinical symptoms such as overweight, increased
sleep, delusions of guilt, agitation. The rate of patients with bipolar
depression who had thought of death, suicide and psychotic symptoms was higher
than the rate of whom with unipolar depression.
Conclusions: There is a rather high rate of bipolar depression in patients who are
diagnosed with a major depressive episode. This disorder usually presents
atypical clinical symptoms. As a result of this, an exact diagnosis is needed
to have appropriate treatments.
Key words: Bipolar depression, unipolar depression, bipolar I disorder, bipolar II disorder.
TCLC
là một bệnh lư khá phổ biến, tần suất bệnh
khoảng 5,5% trong dân số(1)(3). Nhưng nhiều
nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ lớn bệnh
nhân rối loạn lưỡng cực bị chẩn đoán nhầm là rối loạn trầm cảm
chủ yếu(2). Việc điều trị của hai rối loạn
này khác nhau rơ rệt(6). Phát hiện sớm và điều trị sớm rối loạn
lưỡng cực là quan trọng, tránh nguy cơ tự sát, ly hôn, suy giảm khả
năng
học tập và làm việc,
sự ghét bỏ-xa lánh của gia đ́nh và bạn bè, vấn đề rắc rối
với pháp luật(5)
. V́ vậy khảo sát đặc điểm dịch tễ học, những
nét đặc trưng lâm sàng của
TCLC góp phần mang lại những hiểu biết nhất
định về rối loạn này giúp chẩn đoán tốt hơn và chọn
lựa phương pháp điều trị thích hợp.
Thiết
kế nghiên cứu: mô tả
cắt ngang
Chọn
mẫu: bệnh nhân trầm
cảm nặng theo tiêu chuẩn DSM-IV-TR đến khám tại
khoa pḥng khám bệnh viện Tâm Thần TP.HCM từ 01/06/2007
– 31/05/2008.
Thu thập thông tin dựa trên bảng
câu hỏi soạn sẵn.
Chẩn đoán bệnh
TCĐC
nếu tiền sử chỉ
có cơn trầm cảm.
Chẩn
đoán
TCLC nếu trong tiền sử
có ít nhất một cơn hưng cảm hoặc cơn hưng cảm
nhẹ theo tiêu chuẩn DSM-IV-TR.

Sơ Đồ
Phân Bố Bệnh Nhân
Bảng
1: phân bố đặc điểm
dịch tễ học
|
|
|
TCLC (n=38) |
TCĐC (n=46) |
|
Giới tính |
|
12 (31,6%) |
16 (43,8%) |
|
Nữ |
26
(68,4%) |
30 (56,2%) |
|
|
Tuổi khởi phát trung b́nh |
23,92 ± 6,04 |
50,9 ± 14 |
|
|
Học vấn |
Cấp 1 |
08 (21,1%) |
19 (41,3%) |
|
Cấp 2 |
11 (28,9%) |
15 (32,6%) |
|
|
Cấp 3 |
12 (31,6%) |
07 (15,2%) |
|
|
> Cấp 3 |
07 (18,4%) |
05 (10,9%) |
|
|
Nghề nghiệp |
Nông dân |
06 (15,8%) |
11 (23,9%) |
|
Công nhân |
01 (2,6%) |
02 (4,3%) |
|
|
Buôn bán |
07 (18,4%) |
17 (15,2%) |
|
|
Nội trợ |
06 (15,8%) |
09 (19,6%) |
|
Theo kết quả
nghiên cứu tỉ lệ nữ/nam trên từng nhóm bệnh
xấp xỉ 2/1, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm
TCĐC
và TCLC. Tuổi khởi phát
trung b́nh của TCLC từ 23,92±6,04 (16-46 tuổi) khởi
phát sớm hơn so với
TCĐC
50,9 ± 14 (22 – 78 tuổi). Tỉ lệ tŕnh
độ học vấn thấp cao hơn tŕnh độ học vấn cao ở nhóm
TCĐC (P<0,05) nhưmg không có sự khác biệt giữa hai tŕnh
độ ở nhóm TCLC. T́ lệ người lao động
chân tay cao hơn ở
người lao động trí óc ở nhóm TCĐC nhưng không có sự khác biệt ở nhóm TCLC. Trong nhóm TCĐC tỉ lệ người kết hôn
chiếm nhiều nhất (60,9%) c̣n người ly thân-ly dị
chiếm tỉ lệ thấp nhất (4,3%)t. Trong TCLC tỉ
lệ người độc thân chiếm cao nhất(47,4%),
và thấp nhất ở người góa(0%). Bệnh nhân
TCĐC
và TCLC có t́nh trạng kinh tế
trung b́nh chiếm nhiều nhất
(lần lượt 78,3%, 84,2%), sự khác biệt không
có ư nghĩa thống kê giữa
hai nhóm.
Bảng
2: phân
bố đặc điểm lâm sàng
|
Đặc điểm lâm sàng |
TCLC (n=38) |
TCĐC (n=46) |
|
Độ dài trung b́nh
cơn |
4,1±1,5 tháng |
10,5±1,5 tháng |
|
Số cơn tái phát |
2,45±1,6 cơn |
0,3±0,6 cơn |
|
Sang chấn tâm lư |
19(50%) |
23(50%) |
|
Khởi phát sau sanh |
9(23.7%) |
1(2,2%) |
|
Tiền căn gia đ́nh có RLLC |
33 (86,8%) |
0 (0%) |
Thời
gian trung b́nh cơn của
giai đoạn trầm cảm
trong TCLC ngắn hơn so với
trong TCĐC (4,1±1,5 tháng/cơn so với 10,5 ± 1,5 tháng/cơn). Số cơn tái phát của TCLC nhiều hơn TCĐC (2,45±1,6 cơn so với
0,3±0,6 cơn), sự khác biệt
này có ư nghĩa thống
kê (p<0,05). Yếu tố sang chấn tâm lư giữa hai nhóm
là như nhau (50%). Trong nhóm TCLC trầm
cảm khởi phát sau sanh chiếm tỉ lệ cao hơn trong nhóm TCĐC ((23.7%
so với 2,2%). Tiền căn gia đ́nh có RLLC trong
TCLC cao hơn trong TCĐC (86,7%
so với 0%), sự
khác biệt này có ư nghĩa thống
kê (p<0,05).
Bảng 3: phân bố triệu
chứng lâm sàng
|
Triệu chứng
lâm sàng |
TCLC (n=38) |
TCĐC (n=46) |
|
|
Khí sắc trầm cảm |
38(100%) |
45(100%) |
|
|
Mất hứng thú |
38(100%) |
45(100%) |
|
|
Thay đổi trọng
lượng |
Sụt cân |
05(13,2%) |
30(65,2%) |
|
Tăng cân |
16(42,1%) |
03(6,5%) |
|
|
Rối loạn giấc
ngủ |
Mất ngủ |
20(52,6%) |
40(87%) |
|
Ngủ nhiều |
17(44,7%) |
01(2,2%) |
|
|
B́nh thường |
01(2,6%) |
05(10,9%) |
|
|
Rối loạn tâm thần
vận động |
Chậm chạp |
03(7,9%) |
09(19,6%) |
|
Kích động |
19(50%) |
16(23,9%) |
|
|
B́nh thường |
16(42,1%) |
26(56,5%) |
|
|
|
Mất sinh lực |
38(100%) |
44(95,7%) |
|
Mặc cảm tự
ti, ư tưởng bị tội |
Tự trách ḿnh |
13(34,2%) |
22(47,8%) |
|
Ư tưởng bị tội |
04(10,5%) |
13(28,3%) |
|
|
Hoang tưởng bị
tội |
04(10,5%) |
0(0%) |
|
|
Không |
17(44,7%) |
11(23,9%) |
|
|
Giảm tập trung,
do dự |
22(57,9%) |
33(71,7%) |
|
|
Ư tưởng tự
sát |
33(86,8%) |
27(58,7%) |
|
|
Loạn thần |
04(10,5%) |
0(0%) |
|
Không
có sự khác biệt về phân bố triệu chứng khí
sắc trầm cảm, mất hứng thú giữa
hai nhóm.
Tỉ
lệ tăng cân trong TCLC, TCĐC lần lượt là 42,1%; 6,5%, sụt
cân trong TCLC, TCĐC lần
lượt là 13,2%; 65,2%, sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê (p<0,05). Tỉ lệ ngủ
nhiều trong TCLC, TCĐC lần
lượt là 44,7%; 2,2%, mất ngủ trong TCLC, TCĐC lần lượt là 52,6%; 87%, sự
khác biệt này có ư nghĩa thống
kê (p<0,05). Bệnh nhân TCLC có tỉ lệ kích động
cao hơn bệnh nhân TCĐC (50%so với 23,9%), sự khác biệt này có ư
nghĩa thống kê (p<0,05).
Bệnh nhân TCLC có tỉ lệ hoang tưởng bị tội
cao hơn bệnh nhân TCĐC (10,5% so với 0%), sự khác biệt này có ư
nghĩa thống kê (p<0,05).
Trong TCLC ư tưởng tự sát chiếm tỉ lệ cao
hơn
trong TCĐC (86,8% so với 58,7%), sự khác biệt
này có ư nghĩa thống
kê (p<0,05). Triệu chứng loạn thần chiếm tỉ
lệ cao hơn trong TCLC so với
TCĐC
(10,5% so với 0%), sự
khác biệt này có ư nghĩa thống
kê (p<0,05). Sự khác biệt không có ư nghĩa thống giữa hai nhóm về các triệu
chứng thiếu quyết đoán, giảm
tập trung, mất sinh lực.
Trong mẫu nghiên cứu
này TCLC chiếm 45,2%, RLLC I chiếm 10,7%, RLLC II chiếm
34,5%. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của một số tác giả
khác như Hantouche EG, Akiskal HS, Lancrenon S, Benazzi F.J 1997 nghiên cứu ở 203 bệnh nhân trầm cảm
th́ TCLC chiếm 49%, RLLC I chiếm 6%, RLLC II chiếm 22%. Tỉ
lệ phân bố giới tính nữ/nam xấp xỉ 2/1,
cũng
phù hợp với nhận
xét của Leibenluft 2000. Tuổi khởi phát trong TCLC sớm
hơn
trong TCĐC, tương tự
với nhận xét của Weissman 1996, một nghiên cứu
đa
quốc gia với mẫu
38000 bệnh nhân trầm cảm, hay nhiều công tŕnh nghiên cứu
khác cũng t́m thấy RLLC
thường khởi phát trước 25 tuổi. Nghiên cứu
cũng
nhận thấy người
độc thân và ly hôn có tần suất bị TCLC 60,5% cao
hơn
những người kết
hôn 39,5% (p<0,05), phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Reiger 1993. Bệnh nhân TCLC thường có t́nh trạng
kinh tế trung b́nh, và không có sự khác biệt giữa các
nhóm tŕnh độ văn hóa cũng như nghề
nghiệp.
Qua nghiên cứu này
cho thấy thời gian trung b́nh của cơn trầm cảm trong TCLC là 4,1±1,5 tháng ngắn hơn TCĐC 10,5±1,5 tháng, số cơn trung b́nh của TCLC nhiều hơn TCĐC. Kết quả này phù hợp vói kết
luận của một nghiên cứu cho rằng giai đoạn trầm cảm trong RLLC ngắn
hơn
và tái phát nhiều hơn TCĐC. Yếu
tố sang chấn tâm lư giữa hai nhóm TCLC, TCĐC là như nhau (50%) tương tự với
kết quả trong nghiên cứu của tác giả Malkoff
1998, Brown và Harris. Bệnh nhân có tiền căn gia đ́nh có RLLC, khởi phát sau sanh có nguy cơ TCLC (23,7%; 86,8%) hơn TCĐC (2,2%; 0%). Theo
kết quả nghiên cứu
của Bowden CL 2005, Vornil LA 2004 th́ bệnh nhân giai đoạn trầm cảm có tiền
căn
gia đ́nh RLLC thường hướng tới TCLC,
đây là đặc điểm hữu ích trong sự phân biệt
với TCĐC. Và trong các
nghiên cứu của Freeman 2001, Kalz MM 1982, Reich T 1979 cho rằng
trầm cảm sau sanh thường là TCLC hơn là TCĐC(7).
Việc so sánh sự
khác biệt triệu chứng lâm sàng giữa TCLC và TCĐC không quyết định chẩn đoán nhưng có thể giúp bác sĩ lâm sàng hướng
tới diễn biến bệnh lưỡng cực có thể
xảy ra. Trong nghiên cứu này bệnh nhân trầm cảm
mà ngủ nhiều th́ xác suất bị TCLC (44,7%) cao hơn TCĐC (2,2%), ngược lại bệnh nhân trầm cảm mà mất
ngủ xác suất bị TCĐC (87%) nhiều hơn TCLC (52,6%). Bệnh
nhân TCLC thường có xu hướng tăng cân hơn (42,1%), ngược lại bệnh nhân TCĐC thường sụt cân hơn (65,2%). Trong triệu chứng tâm thần vận
động của TCLC thường biểu hiện kích
động (50%) hơn của
TCĐC
(23,9%), ngược lại
chậm chạp thường thấy ở TCĐC (19,6%) hơn TCLC (7,9%). Bệnh nhân TCLC thường có hoang tưởng bị
tội hơn, ư tưởng tự
sát cao, triệu chứng loạn thần hơn TCĐC (lần
lượt là 10,5% so với 0%; 86,8% so với 58,7% và10,5% so với
0%). Các triệu chứng khác như khí sắc
trầm, mất hứng thú, mất sinh lực, giảm tập
trung và thiếu quyết đoán hầu
như
không khác nhau giữa hai nhóm
trầm cảm trong nghiên cứu. Các kết quả này phù hợp
với nhận xét của nhiều tác giả cho rằng
trong TCĐC thường có những
triệu chứng điển h́nh
như
sụt cân (Abrams và Taylor
1980), mất ngủ (Brockington, Altman, Hillier, Meltzer, và Nand
1982). Ngược lại trong TCLC thường được
mô tả những triệu chứng không điển h́nh như chứng ngủ nhiều, tăng cân (Depue và
Monroe 1978), kích động
(Mitchell PB 2001, Mammen 2004), hay có loạn thần (Bowden CL 2001,
Goldberg AL 2001), tỉ lệ tự sát cao hơn (Dilsaver SC 1997, Kessler RC 1994)(4).
2.
Abrams R,
*
Bộ môn Tâm thần, khoa Y - Đại học Y Dược
TP. Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: Lê Thị Kiến Trúc ĐT: 03136 Email: