Bùi Cao Mỹ Ái*, Vơ Thành Nhân*
Mở đầu: Tần suất bệnh động
mạch vành (BĐMV) ở bệnh nhân bệnh động
mạch ngoại biên đă được xác định
rơ. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về bệnh tắc
nghẽn động mạch chi dưới (BTNĐMCD) ở
bệnh nhân bệnh động mạch vành. Chỉ số
mắt cá chân – cánh tay (ABI) hiện nay là một phương
tiện không xâm lấn hữu ích để chẩn đoán
bệnh tắc nghẽn động mạch chi dưới.
Mục tiêu: Khảo sát chỉ số mắt cá
chân – cánh tay ở bệnh nhân bệnh động mạch
vành.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang
được thực hiện tại khoa Tim Mạch Can
Thiệp bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2008 –
12/2008. Những bệnh nhân được chẩn đoán
bệnh mạch vành được mời tham gia nghiên cứu.
Số liệu thu thập gồm yếu tố nguy cơ
BTNĐMCD, triệu chứng bệnh, khám lâm sàng và đo ABI.
ABI ≤ 0,9 được xem là có BTNĐMCD.
Kết quả: 78 bệnh nhân (58 nam, 20 nữ)
tham gia nghiên cứu. Có 10 bệnh nhân có ABI ≤ 0,9 (12,8%). Những
bệnh nhân có BTNĐMCD lớn tuổi hơn những bệnh
nhân không bệnh (p = 0,02). Không có sự khác biệt có ư
nghĩa thống kê giữa bệnh nhân có hay không có
BTNĐMCD về tỉ lệ hút thuốc lá, đái tháo
đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng
huyết áp, bệnh mạch vành.
Kết luận: bệnh nhân bệnh động
mạch vành có thể có kèm BTĐMCD. Xác định
BTNĐMCD bằng cách đo ABI là một phương pháp dễ
thực hiện.
Từ khóa: bệnh động mạch vành, bệnh
động mạch ngoại biên, chỉ số mắt cá
chân – cánh tay.
DIAGNOSIS
OF PERIPHERAL ARTERIAL DISEASE BY ANKLE-BRACHIAL INDEX IN PATIENTS WITH
CORONARY ARTERY DISEASE
Bui
Cao My Ai, Vo Thanh Nhan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1
-2010: 379-385
Back
ground: The prevalence of coronary artery disease (CAD) in
patients with peripheral arterial disease (PAD) has been well defined. However,
the prevalence of PAD in patients with CAD has not been defined. The
ankle-brachial index (ABI) is a useful non-invasive tool to screen PAD.
Objective: To assess the prevalence of PAD in hospitalized patients with CAD by
measuring the ABI.
Method: The cross – sectional study was conducted at the Department of
Interventional Cardiology,
Result: A total of 78 patients (include 58 men and 20 women) were recruited.
Ten patients (12.8%) were found to have PAD according to ABI results. Patients
with PAD were older than those without PAD (p = 0.02). There was no significant
difference among patients with or without PAD about smoking history (p = 1.00),
BMI (p = 0.08), diabetes (p = 0.68), hypertension (p = 0.28), dyslipidemia (p =
4.37), and CAD (p = 0.73).
Conclusion: Hospitalized patients with CAD were likely to have concomitant PAD.
Identification of patients with PAD by measuring the ankle - brachial index was
an easy task.
Keywords: coronary artery
disease, peripheral arterial disease, ankle-brachial index
Xơ vữa động
mạch là một bệnh lư ảnh hưởng nghiêm trọng
đến giường mạch máu toàn cơ thể. Trên thế
giới, mỗi năm có khoảng 5,8 triệu trường
hợp mới mắc bệnh động mạch vành. Tỉ lệ BTNĐMCD thay đổi tùy
nghiên cứu, từ 4,6 – 29%(4,7,10). Những bệnh
nhân BTNĐMCD không triệu chứng có tỉ lệ tử
vong tương đương những người có triệu
chứng(2). Nhiều nghiên cứu ngoài nước
đă cho thấy tỉ lệ bệnh động mạch
vành (BĐMV) ở bệnh nhân bệnh tắc nghẽn
động mạch chi dưới (BTNĐMCD) từ 27 – 40%(5,9),
và ngược lại ở những bệnh nhân BĐMV, tỉ
lệ BTNĐCD cũng khá cao, gần 40%(1,2). Những
nghiên cứu này đă sử dụng chỉ số mắt
cá chân – cánh tay (Ankle – Brachial Index, ABI) làm tiêu chuẩn chẩn
đoán BTNĐMCD. Hiện nay ở Việt Nam, một số
cơ sở đă bắt đầu sử dụng ABI
như một khảo sát không xâm lấn để sàng lọc
những bệnh nhân nguy cơ cao BTNĐMCD, nhưng những
nghiên cứu về ABI c̣n rất ít, và hầu hết tiến
hành trên bệnh nhân đái tháo đường. V́ thế
chúng tôi tiến hành khảo sát chỉ số ABI ở bệnh
nhân bệnh động mạch vành.
Cắt ngang mô tả
Khảo sát chỉ số
mắt cá chân – cánh tay ở bệnh nhân bệnh động
mạch vành nhập viện.
Bệnh nhân nhập
khoa Tim Mạch Can Thiệp – bệnh viện Chợ Rẫy
từ tháng 9/2008 đến tháng 12/2008.
Bệnh nhân
được chẩn đoán bệnh động mạch
vành qua chụp mạch vành cản quang có hẹp mạch
vành có ư nghĩa (hẹp>50% đường kính mạch
vành).
Bệnh nhân đă
đoạn chi, bệnh nhân không đồng ư tham gia nghiên cứu.
Thu thập số liệu
dựa trên bảng câu hỏi soạn sẵn, được
thiết kế dựa trên các nghiên cứu tương tự
ở nước ngoài, đo ABI bằng máy Dopper cầm tay
(Microdop) với đầu ḍ 8 MHz.
Máy huyết áp thủy
ngân hay đồng hồ áp kế. Bao nén khí kích thước
phù hợp với đoạn chi cần khảo sát. Máy
Doppler loại MicroDop,
đầu ḍ 8MHz.
Pḥng khám yên lặng,
bệnh nhân nằm ngửa. Quấn bao nén khí quanh cánh tay.
Đặt đầu ḍ (thân tạo 1 góc 38 - 520 với
hướng đi của ḍng máu) sao cho tín hiệu nghe
được rơ nhất. Bơm bao khí đến khi mất
âm thanh ở mạch, bơm thêm 20 mmHg nữa, sau đó xả
từ từ vận tốc 2 mmHg/giây. Ghi nhận huyết
áp trên đồng hồ ngay khi nghe âm thanh xuất hiện lại.
Đây là huyết áp tâm thu cánh tay. Đo cả hai tay.
Quấn bao nén khí
trên nếp cổ chân 3 cm. Đầu ḍ đặt ở
động mạch chày sau hoặc động mạch mu
chân. Tŕnh tự đo như ở tay. Đo cả hai chân.


ABI bất thường
khi ≤ 0,9.
Các biến số
được nhập và phân tích bằng phần mềm
SPSS 16 for Windows. Các biến số được mô tả
theo tỉ lệ, tần số hoặc biểu diễn
dưới dạng bảng phân phối tần suất, biểu
đồ.
Chúng
tôi tiến hành nghiên cứu tại khoa Tim Mạch Can Thiệp
bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2008 đến
tháng 12/2008. Trong thời gian nghiên cứu, 78 bệnh nhân
được chọn, trong đó có 58 nam (74,4%) và 20 nữ
(25,6%). Tỉ số nam/nữ = 3/1. Tuổi trung b́nh của
nhóm nghiên cứu là 62,1 ± 11,5. BMI trung b́nh là 23,2 ± 2,9. Các YTNC của
BTNĐMCD được tŕnh bày trong bảng 1, trong đó
tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa lipid chiếm
tỉ lệ cao nhất.
Bảng
1: Các
yếu tố nguy cơ của BTNĐMCD
|
YTNC |
Dân số chung (n =
78) |
|
THA |
53 (67,9%) |
|
ĐTĐ |
14 (17,9%) |
|
HTL |
25 (32,1%) |
|
Suy thận mạn |
7 (8,6%) |
|
RLCH lipid |
65 (83,3%) |
|
Tăng TG |
41 (52,6%) |
|
Tăng TC |
12 (15,4%) |
|
Giảm HDL – C |
46 (59,0%) |
|
Tăng LDL – C |
25 (15,4%) |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 36 bệnh nhân
đă biết có BĐMV từ trước, và 42 bệnh
nhân mới phát hiện có BĐMV (53,9%). Tỉ lệ HCVC là
65,4%, tỉ lệ BĐMV mạn là 34,6%.
Trong 78 bệnh nhân thuộc nghiên cứu của chúng
tôi:
- Tỉ lệ đi cách hồi là 0%.
- Tỉ lệ BTNĐMCD cấp tính là 0%.
- Có 10 trong số 78 bệnh nhân có ABI ≤ 0,9 (12,8%),
trong đó có 9 bệnh nhân có ABI bên phải ≤0,9, 4 bệnh
nhân có ABI bên trái ≤0,9 và 3 bệnh nhân có ABI ≤0,9 ở
cả hai bên. Như vậy tỉ lệ BTNĐMCD dựa
trên bất thường ABI là 12,8%.
Bảng 2: Chỉ số mắt cá chân – cánh
tay (ABI)
|
|
Bên phải |
Bên trái |
p |
|
ABI trung b́nh |
1,09 ± 0,14 |
1,07 ± 0,12 |
0,14 |
ABI phải và ABI trái
khác biệt không có ư nghĩa thống kê (phép kiểm t, p =
0,14).
Bảng
3:
Liên quan giữa tuổi, BMI và ABI
|
Dân số chung (n = 78) |
ABI |
P |
|
|
≤ 0,9 (n = 10) |
> 0,9 (n = 68) |
0,02 |
|
|
Tuổi trung b́nh (62,09
± 11,45) |
71,00 ± 7,57 |
60,78 ± 11,337 |
|
|
BMI trung b́nh (23,16 ± 2,89) |
21,69 ± 3,19 |
23,38 ± 2,81 |
0,08 |
- Tuổi trung b́nh
nhóm có ABI ≤ 0,9 lớn
hơn nhóm ABI > 0,9 có ư nghĩa thống kê (phép kiểm t, p
= 0,02).
- Sự khác biệt
BMI giữa nhóm ABI ≤ 0,9 và
ABI > 0,9 không có ư nghĩa thống kê ( phép kiểm t, p =
0,08).
Bảng
4:
Liên quan giữa giới và ABI
|
|
Dân số chung (n = 78) |
ABI |
P |
||
|
≤ 0,9 (n = 10) |
>0,9 (n = 68) |
||||
|
Giới |
Nữ |
20 (25,6%) |
2 (20%) |
18 (26,5%) |
1,00 |
|
|
58 (74,4%) |
8 (80%) |
50 (73,5%) |
||
Sự khác biệt về giới giữa
nhóm ABI ≤ 0,9 và nhóm ABI > 0,9 không có ư nghĩa thống kê
(l2, p = 1,00).
Bảng
5:
Liên quan giữa các YTNC và ABI
|
|
Dân số chung (n = 78) |
ABI |
P |
|
|
≤ 0,9 (n = 10) |
> 0,9 (n = 68) |
|||
|
THA |
53 (67,9%) |
5 (50%) |
48 (70,6%) |
0,28 |
|
ĐTĐ |
14 (17,9%) |
1 (10%) |
13 (19,1%) |
0,68 |
|
HTL |
25 (32,1%) |
3 (30%) |
22 (32,4%) |
1,00 |
|
Bệnh thận mạn |
7 (8,6%) |
2 (20%) |
5 (7,4%) |
0,21 |
|
RLCH lipid |
65 (83,3%) |
6 (60%) |
59 (86,8%) |
4,37 |
|
Tăng TG |
41 (52,6%) |
3 (30%) |
38 (55,9%) |
0,18 |
|
Tăng TC |
12 (15,4%) |
1 (10%) |
11 (16,2%) |
1,00 |
|
Giảm HDL – C |
46 (59,0%) |
4 (40%) |
42 (61,8%) |
0,30 |
|
Tăng LDL – C |
25 (15,4%) |
1 (10%) |
11 (16,2%) |
1,00 |
Sự khác biệt
các YTNC giữa 2 nhóm ABI ≤ 0,9 và ABI >0,9 không có ư nghĩa
thống kê (phép kiểm l2).
Bảng
6:
Liên quan giữa BĐMV và ABI
|
Dân số chung (n = 78) |
ABI |
P |
|||
|
≤0,9 (n = 10) |
>0,9 (n = 68) |
||||
|
BMV |
Cấp |
51 (25,6%) |
6 (60%) |
45 (66,2%) |
0,73 |
|
Măn |
27 (74,4%) |
4 (40%) |
23 (33,8%) |
||
Sự khác biệt
ABI giữa nhóm BĐMV cấp và BĐMV mạn không có ư
nghĩa thống kê
(l2,
p = 0,73).
Nghiên cứu của
chúng tôi tiến hành trên 78 bệnh nhân BĐMV, tuổi trung
b́nh là 62,09 ± 11,45. Một số nghiên cứu về
BTNĐMCD trong và ngoài nước cũng tiến hành trên những
đối tượng có độ tuổi tương tự(12,17,18).
Cũng có những tác giả thực hiện trên dân số
có tuổi trung b́nh cao hơn(1,5). Tuổi trung b́nh của
nhóm có BTNĐMCD cao hơn nhóm không có BTNĐMCD có ư nghĩa thống
kê. Kết quả này tương tự như hầu hết
các kết quả nghiên cứu dịch tễ BTNĐMCD(1,5).
Nghiên cứu của Pujia ở Ư ghi nhận tuổi không có mối
tương quan với BTNĐMCD(14).
Tương tự
nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước (12,3,1), kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy BĐMV xảy ra ở nam giới nhiều
hơn nữ giới. Tỉ lệ nam có BTNĐMCD là 80%, nữ
là 20%. Như vậy tỉ lệ nam/ nữ là 4/1. Sự
khác biệt về tỉ lệ giới tính ở hai nhóm có
và không có BTNĐMCD không có ư nghĩa thống kê. Khác với kết
quả của chúng tôi một số nghiên cứu nước
ngoài nhận thấy tỉ lệ BTNĐMCD ở nữ cao
hơn nam, giới tính có ảnh hưởng đến
BTNĐMCD(5,16).
BMI trung b́nh trong dân số
nghiên cứu của chúng tôi là 23,16, tương tự
như dân số trong nghiên cứu của Hasimu và cộng sự
ở Trung Quốc(9). Nghiên cứu của Christos thực
hiện trên đối tượng có BMI cao hơn(12).
BMI trung b́nh giữa 2 nhóm có và không có BTNĐMCD trong nghiên cứu
của chúng tôi khác nhau không có ư nghĩa thống kê,
tương tự kết quả của Papamichael(12).
Một số nghiên cứu t́m thấy mối tương
quan giữa BMI và BTNĐMCD như nghiên cứu của Sritara
ở Thái Lan nhận thấy BMI>25kg/m2 có
tương quan với BTNĐMCD(16).
Tỉ lệ HTL
chung trong nghiên cứu của chúng tôi là 32,1%, trong đó tỉ
lệ bệnh nhân BTNĐMCD có HTL trong nghiên cứu của
chúng tôi là 30%, tỉ lệ này trong nghiên cứu của của
Dieter là 27,5%(2), Hasimu là 42,7%(5), của
Bertomeu là 29,9%(1). Chúng tôi nhận thấy giữa
nhóm bệnh và không BTNĐMCD, tỉ lệ HTL khác nhau không có
ư nghĩa thống kê, tương tự kết quả của
Pujia ở Ư(14). Tuy nhiên theo ACC(8) cũng
như hầu hết các nghiên cứu dịch tễ khác về
BTNĐMCD, HTL có liên quan chặt chẽ và là YTNC độc lập,
hàng đầu của BTNĐMCD. Sự khác biệt của
chúng tôi so với các nghiên cứu này có lẽ do nghiên cứu
của chúng tôi tiến hành trên cỡ mẫu nhỏ, dân số
nghiên cứu của chúng tôi có tuổi trung b́nh thấp nên thời
gian tiếp xúc với thuốc lá ngắn hơn dân số của
các nghiên cứu khác.
Có 67,9% bệnh nhân
có tăng huyết áp. Bệnh nhân BTNĐMCD có THA là 50%. Tỉ
lệ này ở nghiên cứu của Dieter là 85%(2), của
Bertomeu là 84,1%(1). Mối tương quan giữa THA
và BTNĐMCD cũng được hai tác giả này ghi nhận.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ THA giữa hai
nhóm bệnh và không bệnh khác nhau không có ư nghĩa thống
kê. Tương tự như kết quả của chúng tôi,
Papamichael(12) không nhận thấy có mối
tương quan giữa THA với BTNĐMCD có lẽ v́ sự
tương đồng về độ tuổi và t́nh trạng
HTL của hai nhóm nghiên cứu.
Tỉ lệ ĐTĐ ở bệnh
mạch vành là 17,9%. Trong nghiên cứu tần suất
BTNĐMCD ở bệnh nhân BĐMV của Papamichael tỉ lệ
ĐTĐ là 29%(12), của Dieter là 28%(2), của Bertomeu là 35%(1).
Các con số này cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi
cũng như các nghiên cứu trong nước khác. Tỉ lệ
bệnh nhân BTNĐMCD có ĐTĐ trong nghiên cứu của
chúng tôi là 10%, tỉ lệ này trong nghiên cứu của Dieter
là 42,5%(2) của Hasimu là 43,3%(5) và của
Bertomeu là 41,5%(1). Những tác giả này cũng nhận
thấy có mối tương quan giữa ĐTĐ và
BTNĐMCD. Tỉ lệ đái tháo đường ở
nhóm bệnh và không bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi
khác nhau không có ư nghĩa thống kê. Tương tự
như kết quả của chúng tôi là kết quả của
Pujia(14).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, RLCH
lipid thường gặp nhất là giảm HDL – C (59,0%), kế
đó là tăng triglycerid với tỉ lệ 52,6% và tăng
LDL – C tỉ lệ thấp nhất (15,4%). Tỉ lệ RLCH
lipid chung trong nghiên cứu của chúng tôi là 83,3%,
tương tự kết quả của Dieter là 83%(2),
của Bertomeu là 84,1%(1), đều là những nghiên
cứu về BTNĐMCD ở bệnh nhân BĐMV. Tỉ lệ
bệnh nhân BTNĐMCD có rối loạn chuyển hóa lipid
trong nghiên cứu của chúng tôi là 60%, tỉ lệ này trong
nghiên cứu của Dieter là 92,5%(2), của Hasimu là
57,2%(5) và của Bertomeu là 85,7%(1). Tỉ lệ
rối loạn chuyển hóa lipid ở nhóm có và không có
BTNĐMCD khác nhau không có ư nghĩa thống kê, nghiên cứu của
Pujia(14) cũng có kết quả tương tự
như vậy. Khác với chúng tôi là nhận định của Dieter, Hasimu và
Bertomeu(1,2,5).
Tỉ lệ bệnh thận mạn
trong nghiên cứu của chúng tôi là 8,6%. Hiện tại có rất
ít công tŕnh nghiên cứu dịch tễ BTNĐMCD khảo sát
vấn đề này. Tỉ lệ bệnh thận mạn ở
bệnh nhân BTNĐMCD là 20%. Cho đến bây giờ, có rất
ít nghiên cứu dịch tễ học xem xét đến vai tṛ
của bệnh thận mạn đối với
BTNĐMCD. Theo kết quả của nghiên cứu NHANES của
Selvin và cs, 24% bệnh nhân 40 tuổi trở lên có bệnh thận
mạn có ABI <0,9, tỉ lệ này 3,7% ở những
người có độ thanh thải creatinin > 60ml/p/1,73m2,
sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê(15). Tuy
nhiên, có lẽ do cỡ mẫu nhỏ, cũng như sự
chọn lựa những bệnh nhân chụp và can thiệp
mạch vành đa phần là những bệnh nhân có chức
năng thận c̣n tốt để tránh biến chứng
lên thận của thuốc cản quang, v́ vậy nghiên cứu
của chúng tôi tỉ lệ bệnh thận mạn giữa
nhóm có và không có BTNĐMCD khác nhau không có ư nghĩa thống
kê.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, NMCT cấp
ST chênh lên chiếm tỉ lệ cao nhất (37,2%), kế
đó là BĐMV mạn (34,6%). Tỉ lệ đau thắt
ngực không ổn định là 2,1% và tỉ lệ NMCT cấp
không ST chênh lên là 2,6%. Tỉ lệ bệnh nhân BTNĐMCD ở
bệnh nhân BĐMV cấp trong nghiên cứu của chúng tôi
là 11,8%, tỉ lệ này ở BĐMV mạn là 14,8%. Sự
khác biệt này không có ư nghĩa thống kê. Theo Hasimu B(5),
BĐMV và BTNĐMCD có tương quan với nhau, nhưng
theo kết quả của Murabito trong nghiên cứu
Thực tế ảnh hưởng của
XVĐM lên giường mạch máu toàn cơ thể chứ
không chỉ riêng MV. V́ thế dù có mối tương quan hay
không trong các nghiên cứu khác nhau, th́ chúng ta cũng ghi nhận
có một tỉ lệ BTNĐMCD ở bệnh nhân BĐMV.
Vấn đề t́m mối tương quan và chứng minh
nó cần phải có những nghiên cứu đoàn hệ với
cỡ mẫu lớn mà trong khuôn khổ nghiên cứu của
chúng tôi cũng như những nghiên cứu vừa nêu trên
chưa đạt được điều đó.
Nghiên cứu của
chúng tôi tiến hành trên 78 đối tượng BĐMV
như đă mô tả ở trên. Về triệu chứng học,
tỉ lệ đi cách hồi trong dân số nghiên cứu của
chúng tôi là 0%, tỉ lệ thiếu máu cục bộ chi
dưới cấp tính cũng là 0%. Điều này cho thấy
mặc dù tỉ lệ các YTNC trong nghiên cứu của chúng
tôi tương đương với những nghiên cứu
khác nhưng ảnh hưởng của các YTNC này lên
BTNĐMCD chưa thể hiện trên lâm sàng rơ ràng, cũng có
thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ nên việc
phát hiện ra những bệnh nhân BĐMV có kèm triệu chứng
của BTNĐMCD hoặc thiếu máu cục bộ chi
dưới cấp c̣n hạn chế.
Khi khảo sát ABI, chúng
tôi nhận thấy ABI trung b́nh bên phải là 1,09 và bên trái là
1,07.
Bảng
7: So sánh ABI
trung b́nh của một số
nghiên cứu
|
|
ABI trung b́nh (phải) |
ABI trung b́nh (trái) |
|
Chúng tôi |
1,09 ± 0,14 |
1,07 ± 0,12 |
|
Vơ Thị Dễ (16): dân số b́nh thường dân số nguy cơ |
1,04 ± 0,07 0,94 ± 0,23 |
1,04 ± 0,06 0,94 ± 0,21 |
|
Papamichael (3) |
0,93 ± 0,17 |
0,93 ± 0,16 |
Cũng như những nghiên cứu dịch tễ khác sử
dụng ABI làm tiêu chí đánh giá BTNĐMCD, nghiên cứu của
chúng tôi có 10 bệnh nhân có ABI ≤0,9, trong đó có 4 bệnh
nhân có ABI bên trái ≤0,9 và 9 bệnh nhân có ABI phải
≤0,9, 3 bệnh nhân có ABI ≤0,9 ở cả hai bên. Tỉ
lệ BTNĐMCD trong nghiên cứu của chúng tôi là 12,8%,
tương tự kết quả của những nghiên cứu
dịch tễ khác trên nhóm đối tượng b́nh
thường hoặc có nguy cơ XVĐM(5,17,18).
Khi so sánh với những nghiên cứu tiến hành trên
đối tượng BĐMV, tỉ lệ bệnh trong
nghiên cứu của chúng tôi hơi thấp hơn của
Papamichael(12), Dieter(2) và nghiên cứu của
Bertomeu(1). Lư giải sự khác biệt này, chúng tôi
thử so sánh dân số nghiên cứu của chúng tôi với
dân số của ba nghiên cứu trên, th́ nhận thấy rằng:
- Nghiên cứu của Bertomeu có cỡ mẫu lớn
hơn nhiều so với chúng tôi. Dân số nghiên cứu của
chúng tôi có độ tuổi từ 42 – 81, nghiên cứu của
Bertomeu có tuổi từ 40 – 101 và tuổi trung b́nh của dân
số trong nghiên cứu này hơi cao hơn nghiên cứu của
chúng tôi (66 ±11,9 so với 62,09 ± 11,45). Trong 39,8% đối
tượng có ABI ≤0,9 trong nghiên cứu của Bertomeu,
có 57% tuổi >80. Ngoài ra, tỉ lệ THA, ĐTĐ và rối
loạn chuyển hóa lipid trong nghiên cứu này cũng cao
hơn của chúng tôi, lần lượt là 79,3% so với
67,9%, 35% so với 17,9% và 84,1% so với 83,3%.
- So với nghiên Papamichael, tuổi trung b́nh của hai dân
số gần tương đương nhau (60 ±10 so với
62 ± 0,9), nhưng cỡ mẫu của Papamichael gấp
đôi của chúng tôi, ngoài ra th́ tỉ lệ HTL, ĐTĐ
và BMI trung b́nh trong dân số nghiên cứu của Papamichael
đều hơi cao hơn của chúng tôi, các con số này
lần lượt là 42% so với 32,1%, 29% so với 17,9% và
26,6 ± 3,8 so với 23,16 ± 2,89.
- Trong 100 đối tượng BĐMV mạn thuộc
nghiên cứu của Dieter, tỉ lệ THA, ĐTĐ đều
cao hơn dân số của chúng tôi, lần lượt là 71%
so với 67,9% và 28% so với 17,9%. BMI trung b́nh ở từng
nhóm có và không có BTNĐMCD cũng cao hơn so với nghiên cứu
của chúng tôi.
Có lẽ do những khác biệt về cỡ mẫu
cũng như YTNC nói trên nên tỉ lệ BTNĐMCD trong
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn ba nghiên cứu
này, mặc dù đều tiến hành trên bệnh nhân BĐMV
đang nằm viện. Dù có sự khác biệt với các
nghiên cứu khác trên đối tượng BĐMV,
nhưng điều quan trọng đó chính là có một tỉ
lệ BTNĐMCD không có triệu chứng ở bệnh nhân
BĐMV. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, cứ
100 bệnh nhân BĐMV th́ có 12,8 người sẽ mắc
BTNĐMCD, và ở những nghiên cứu khác, với cỡ
mẫu lớn hơn, tỉ lệ này c̣n cao hơn nữa.Với
sự gia tăng của BĐMV trong dân số chung, th́ số
người có BTNĐMCD đi kèm sẽ cao hơn, làm
tăng gánh nặng trong gia đ́nh và
xă hội.
Khảo sát ABI là một phương pháp đơn giản,
dễ thực hiện để chẩn đoán BTNĐMCD,
công cụ gọn nhẹ, và có thể tầm soát bệnh mà
không mất nhiều chi phí cho bệnh nhân như các cận
lâm sàng khác. Điều này cũng được 93% trong số
276 bác sĩ lâm sàng trong nghiên cứu của Hayoz(6)
thừa nhận. Điểm cắt để chẩn
đoán bệnh có khác nhau tùy tác giả, như Pujia(14)
chọn điểm cắt là <0,95 để chẩn
đoán BTNĐMCD, trong khi đa phần các tác giả chọn
điểm cắt ≤0,9 hoặc<0,9. Theo Sorenson và cs,
ABI < 0,9 có độ nhạy và đặc hiệu đến
95% trong chẩn đoán BTNĐMCD(2). Khi thực hiện
đo ABI, trên mỗi bệnh nhân chúng tôi mất trung b́nh khoảng
10 phút cho các thao tác đo huyết áp 2 chi trên và 2 chi dưới
với 2 lần đo cho mỗi chi, không tính khoảng thời
gian bệnh nhân nghỉ ngơi trước khi đo.
Cũng có những bệnh nhân rất khó ḍ t́m được
động mạch chày sau, do phù chân, v́ thế thời gian
đo kéo dài hơn. Có lẽ với thời lượng
như vậy, việc sàng lọc BTNĐMCD tại pḥng khám
ngoại chẩn là một vấn đề khó,
nhưng đối với những bệnh nhân nội trú,
đặc biệt trên những bệnh nhân mà nguy cơ
XVĐM rơ ràng, th́ việc sàng lọc BTNĐMCD sẽ giúp
phát hiện sớm và góp phần làm thoái lui bệnh bằng
các biện pháp điều trị đơn giản khi bệnh
c̣n ở giai đoạn nhẹ
Với nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên
78 bệnh nhân bệnh động mạch vành điều
trị nội trú tại khoa Tim Mạch Can Thiệp bệnh
viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2008 đến tháng
12/2008, chúng tôi có được những kết quả sau:
- Tỉ lệ bệnh tắc nghẽn động mạch
chi dưới ở bệnh nhân bệnh động mạch
vành là 12,8% , trong đó tỉ lệ bệnh nhân có triệu
chứng đi cách hồi là 0%. Tỉ lệ tắc động
mạch chi dưới cấp tính là 0%.
- Tuổi trung b́nh của nhóm có bệnh tắc nghẽn
động mạch chi dưới lớn hơn nhóm không có
bệnh tắc nghẽn động mạch chi dưới
có ư nghĩa thống kê.
- Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa
tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn
chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, BMI, tỉ lệ bệnh
động mạch vành giữa nhóm có và không có bệnh tắc
nghẽn động mạch chi dưới.
1. Bertomeu V, Morillas P et al (2008). Prevalence and prognostic influence of peripheral arterial disease in patients >or=40 years old admitted into hospital following an acute coronary event, Eur J Vasc Endovasc Surg, 36(2):189-96.
4.
Gofin
R, Kark JD, Friedlander Y, Lewis BS, Witt H, Stein Y, et al (1987). Peripheral
vascular disease in a middle-aged population sample. The
7. Hirsch AT, Criqui MH, Treat-Jacobson D, Regensteiner JG, Creager MA, Olin JW et al (2001). Peripheral Arterial Disease Detection, Awareness, and Treatment in Primary Care, JAMA, 286:1317-1324.
8.
Hirsch AT, Haskal ZJ et al (2006). Management of
patients with peripheral arterial disease, Circulation, 113(11):
e463-654.
9.
Li XY, Wang J, He Y, Fan L (2003). The relation
between peripheral arterial occlusive disease and cardiovascular diseases in
elderly population: a cross-section study in Wanshoulu area,
11. Murabito JM, Evans JC, Larson MG, Nieto K, Levy D, et al (2003). The Ankle-Brachial Index in the Elderly and Risk of Stroke, Coronary Disease, and Death.The Framingham Study, Arch Intern Med, 163:1939 - 1942.
12.
Papamichael CM, Lekakis JP,
14.
Pujia
A, Gnasso A, Mancuso G, Spagnuolo M, Cosco C, Cortese C (1993). Asymptomatic
arteriopathy of the lower limbs. Prevalence and risk factors in a population of
southern
15.
Selvin E, Erlinger TP (2004), Prevalence of and
Risk Factors for Peripheral Arterial Disease in the
* Bộ
môn Nội, khoa Y Đại học Y Dược Tp.Hồ
Chí Minh
Địa chỉ
liên hệ: BS. Bùi Cao
Mỹ Ái ĐT: 0908819547 Email:
myaicao@yahoo.com