Phạm
Thái Hưng *, Hoàng Kỷ**,
Phạm Ngọc Hoa*
Mục tiêu: Khảo sát tần suất của từng nhánh động
mạch ngoài gan cung cấp máu cho ung thư biểu mô tế
bào gan nguyên phát (HCC) và các yếu tố ảnh hưởng
đến sự h́nh thành các nhánh động mạch ngoài
gan nuôi u (ĐMNGNU) này.
Phương pháp
nghiên cứu: Từ tháng 8/2009 đến tháng
10/2009, 321 bệnh nhân với chẩn đoán HCC được
đưa vào lô nghiên cứu. 245/321 bệnh nhân có tiền sử
làm thuyên tắc mạch hóa dầu (TOCE: transcatheter oily
chemoembolization) trước đó. H́nh ảnh chụp cắt lớp
điện toán (CLĐT) của những bệnh nhân này
được phân tích cẩn thận để xác định
khả năng hiện diện của các nhánh ĐMNGNU, vị
trí giải phẫu của khối u và kích thước khối
u. Sau đó, chúng tôi tiến hành luồn ống thông chọn lọc
vào ĐMNGNU nghi ngờ để xác định nguồn gốc
của động mạch này. Cuối cùng, mối liên hệ
giữa các nhánh ĐMNGNU với số lần làm TOCE, kích
thước khối u và vị trí của u được
phân tích cụ thể.
Kết quả: 63/321 (19.62%) bệnh nhận có khối u nhận máu từ
71 nhánh động mạch ngoài gan. Trong đó 46.47% trường
hợp xuất phát từ động mạch hoành dưới
phải, 19.71% xuất phát từ động mạch mạc
treo tràng trên, 11.26% xuất phát từ động mạch vị
trái, 8.45% xuất phát từ động mạch liên sườn
phải, 5.63% xuất phát từ động mạch vú trong
phải, 4.22% xuất phát từ động mạch thận
và bao thận phải, 2.81% xuất phát từ động mạch mạc nối và 1.41% xuất
phát từ động mạch thượng thận phải.
Phân tích hồi quy lư luận đơn biến cho thấy
kích thước khối u (p<2.2e-16), số lần làm TOCE
(p=3.817e-07) thực sự có ảnh hưởng đến
sự h́nh thành các nhánh ĐMNGNU. Phân tích hồi quy lư luận
đa biến cho thấy kích thước khối u có ảnh
hưởng ưu thế (p < 0.01, OR= 1.737, độ tin cậy:
1.533 to 1.969).
Kết luận: Các nhánh ĐMNGNU
khá phổ biến. Sự h́nh thành các nhánh
ĐMNGNU này rơ ràng có mối tương quan với kích thước khối u,
số lần làm TOCE và vị trí giải phẫu của u.
Từ khóa: Ung thư biểu
mô tế bào gan nguyên phát; Động mạch ngoài gan nuôi u
INVESTIGATION OF
EXTRAHEPATIC ARTERIES THAT SUPPLY HEPATOCELLULAR CARCINOMA ON DIGITAL
SUBTRACTION ANGIOGRAPHY
Pham
Thai Hung,
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 63 – 68
Purpose: The purpose of this study
was to investigate the incidence of each extrahepatic artery to hepatocellular
carcinoma (HCC) and causative factors impacting on the formation of
extrahepatic arteries (EAs).
Methods: Between August 2009 and October 2009, 321
patients with diagnosed HCC were prospectively enrolled into this study.
245/321 patients had previously undergone transcatheter oily chemoembolization
(TOCE). The computerized tomography scan of these patients was reviewed
carefully to identify the potential EAs of HCC, determine the anatomic tumor
location and measure tumor sizes. Then we performed selective angiography of
all suspected EAs that could supply the tumor. Finally, the relations of EAs
with times of chemoembolization, tumor size, and the anatomic tumor location
were analyzed. Results: 63 (19.62%) of these 321 patients showed 71 EAs
supplying tumors. Incidences of extrahepatic blood source to HCC were 46.47%
from the right inferior phrenic artery (RIPA), 19.71% from the superior
mesentery artery (SMA), 11.26% from the left gastric artery (LGA), 8.45% the
right intercostal artery (RICA), 5.63% from the right internal mammary artery
(RIMA), 4.22% from the right renal or renal capsular artery (RRCA), 2.81% from
the omental artery (OA) and 1.41% from
the right adrenal artery (RAA). Univariate logistic regression analysis showed
that tumor size (p<2.2e-16), times of chemoembolization (p=3.817e-07) were
significantly associated with the presence of EAs. Multiple logistic regression
analysis showed that tumor size had dominant influence on the EAs formation (p
< 0.01, OR = 1.737, confidence interval: 1.533 to 1.969).
Conclusions: The presence of EAs supplying HCC is
rather common. The formation of EAs in HCC is obviously correlated with tumor
size, multiple chemoembolization and anatomic tumor location.
Keywords: Hepatocellular carcinoma; Extrahepatic arteries
HCC là loại phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát (95%), là một trong những ung thư ác tính chiếm tỷ lệ cao nhất tại khu vực Đông Á và xếp hàng thứ 3 về tỉ lệ tử vong do ung thư trên toàn thế giới(4,5). Mặc dù hiện nay có nhiều cách thức điều trị mới đă được thử nghiệm và áp dụng, phương pháp thuyên tắc mạch hóa dầu (TOCE: transcatheter oily chemoembolization) vẫn có giá trị trong điều trị HCC khi không c̣n khả năng phẫu thuật. Trên lâm sàng, ngoài những nhánh động mạch gan cung cấp máu cho UTBMTBG, bác sĩ can thiệp c̣n có thể bắt gặp những khối u được nuôi bởi các nhánh động mạch ngoài gan. Sự h́nh thành và phân bố của các nhánh động mạch ngoài gan nuôi u (ĐMNGNU) này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị của bệnh nhân.
Khảo sát tần suất các nhánh động mạch ngoài gan cung cấp máu nuôi cho UTBMTBG và những yếu tố ảnh hưởng đến sự h́nh thành các nhánh động mạch này.
Mô tả cắt ngang tiến cứu.
321 bệnh nhân được chụp mạch
máu bằng kỹ thuật chụp mạch số hóa xóa nền
(DSA) tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng
08/2009 đến tháng 10/2009 được chẩn đoán HCC khi có kết quả
giải phẫu bệnh là HCC; hoặc h́nh ảnh CLĐT xác nhận sự hiện
diện của khối u có tăng tưới máu động mạch kết hợp
với AFP > 400ng/ml. Tiêu chuẩn
lọai trừ bao gồm bệnh nhân có tiền sử
điều trị bằng
các phương pháp khác
không phải TOCE; hoặc bệnh nhân có tổn
thương gan lan tỏa
làm cho việc xác định kích thước khối u khó
khăn.
Các biến số về độ tuổi, giới tính và số lần tiến hành TOCE trước đó của 321 bệnh nhân được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án. Sau đó, tất cả những bệnh nhân này được tiến hành chụp động mạch thân tạng để khảo sát tổng quát các nhánh của động mạch gan đến nuôi u. Bên cạnh việc chụp động mạch thân tạng, việc luồn thăm ḍ và chụp các động mạch khác để xác định tuần hoàn ngoài gan nuôi u được tiến hành khi có một trong những yếu tố nghi ngờ sự hiện diện của các nhánh động mạch ngoài nuôi u sau đây:
-
Khối u nằm
ở vùng ngọai vi của gan hoặc tiếp giáp với
thành ngực trước và sau, ṿm hoành, vùng trần của
gan hoặc các cơ quan kế cận được xác
định trên chụp CLĐT.
-
Tăng sinh
động mạch ngoài gan xung quanh khối u trên h́nh
ảnh chụp CLĐT.
-
Có vùng khuyết
thuốc một phần hoặc toàn bộ khối u trên
h́nh ảnh DSA khi chụp khảo sát động mạch
thân tạng hoặc khối u ngấm thuốc cản quang
ít trên h́nh chụp DSA, không tương xứng với h́nh
ảnh chụp CLĐT th́ động mạch.
Những yếu
tố ảnh hưởng đến sự h́nh thành các
nhánh động mạch ngoài gan nuôi u được chúng
tôi đánh giá trên h́nh chụp CLĐT bao gồm vị trí và kích thước
khối u. Vị trí khối u được xác định
theo cách phân chia phân thùy gan của Couinaud. Nếu khối u
thuộc từ hai phân thùy trở lên, phân thùy chứa u nhiều
nhất sẽ được chỉ định là vị
trí khối u. Trường hợp có nhiều u, chỉ u lớn
nhất được đánh giá. Kích thước khối u được
xác định là đường kính lớn nhất của
khối u trên mặt cắt ngang.
Sử dụng
phép phân tích hồi quy lư luận đơn biến (univariate logistic regression)
để xác định mối tương quan giữa một biến định
tính (có hoặc không có ĐMNGNU) với một biến định
lượng (số lần làm TOCE trước đó hoặc kích thước khối
u). Dùng phép phân tích hồi quy lư luận đa biến (multiple logistic regression)
để xác định mối tương quan giữa một biến định
tính (có hoặc không có ĐMNGNU) với nhiều biến định lượng và phần
giao của hai biến định lượng. Tất cả
quá tŕnh sử lư số liệu này đều được
thực hiện trong phần mềm thống kê R 2.8.
321 bệnh
nhân bao gồm 268 nam và 53 nữ có độ tuổi 59.17 ±
12.74 trong lô nghiên cứu và được chia thành hai nhóm: nhóm
có ĐMNGNU (63/321) và nhóm không có ĐMNGNU (258/321). Tỷ lệ có ĐMNGNU của nam và nữ lần lượt là 19.40% (52/268) và
20.75% (11/53). Sự khác biệt này không có ư nghĩa thống kê (p=0.8503).
Trong 63 bệnh
nhân trong nhóm có ĐMNGNU,
55 trường hợp có 1 nhánh ĐMNGNU và 8 trường hợp
c̣n lại có hai nhánh ĐMNGNU. Tần suất cụ thể
của mỗi nhánh được tóm tắt trong bảng
1.
Bảng
1: Tần suất và tỷ lệ các
nhánh ĐMNGNU
|
Tên động mạch |
Tần số |
Tỷ lệ % |
|
Hoành dưới (P) |
33 |
46.47 |
|
Mạc treo tràng trên |
14 |
19.71 |
|
Vị (T) |
8 |
11.26 |
|
Liên sườn (P) |
6 |
8.45 |
|
Vú trong (P) |
4 |
5.63 |
|
Thận - vỏ bao thận (P) |
3 |
4.22 |
|
Mạc nối |
2 |
2.81 |
|
Thượng thận (P) |
1 |
1.41 |
Ở nhóm có
ĐMNGNU, số bệnh
nhân có tiền sử làm TOCE từ 3 đến 4 lần chiếm
tỷ lệ cao nhất (42.85%), tiếp theo là từ 5 đến
6 lần (26.98% ) và thấp nhất là 0 lần (4.76%). Ngược
lại với nhóm không có ĐMNGNU, những bệnh nhân có tiền sử làm TOCE 1-2 lần chiếm
tỷ lệ cao nhất (38.37%), tiếp theo làm những bệnh
nhân không có tiền sử làm TOCE (28.29%) và thấp nhất là
những bệnh nhân đă làm TOCE nhiều hơn 6 lần (5.42% ).
Trong 63 trường
hợp có ĐMNGNU, 41 khối u có kích thước 5-10 cm (65.07%), 13 khối u có
kích thước ≤ 5 cm (20.63%) và 9 khối u có kích thước >10 cm (14.28%).
Trong 258 trường hợp không có ĐMNGNU, 156 khối u có kích thước
≤ 5 cm (60.46%), 99 khối
u có kích thước 5-10 cm (38.37%) và 3 khối u có kích thước
>10 cm (1.16%).
U
thường phân bố ở gan phải nhiều hơn gan trái tại
các hạ phân thùy V, VI, VII, VIII. Không có sự khác biệt
đáng kể
về tỷ lệ phân bố giải phẫu của u ở
hai nhóm qua phép kiểm Fisher (p= 0.9971).
Phép kiểm t một đuôi cho thấy
nhóm bệnh nhân không có ĐMNGNU có số lần đă làm TOCE ít hơn nhóm có ĐMNGNU (2.21±2.1 và
3.77±1.9). Sự khác biệt
này có ư nghĩa thống
kê (p=3.817e-07). Điều
này chứng tỏ mối liên hệ giữa tiền sử
làm TOCE và sự h́nh thành các nhánh động mạch nuôi u
ngoài gan. Để xác định rơ hơn mối liên hệ giữa số
lần làm TOCE trước đó và xác suất h́nh thành các nhánh ĐMNGNU,
chúng tôi áp dụng mô
h́nh phân tích hồi quy lư luận đơn biến giữa hai biến
ĐMNGNU và số lần làm TOCE. Kết quả cho thấy
mối tương quan thuận giữa số lần làm TOCE với khả
năng h́nh thành các nhánh ĐMNGNU (β=0.30343, OR=1.35, độ tin cậy:
1.533 to 1.969). (Biểu đồ 1)

Biểu
đồ 1: Xác suất h́nh thành các nhánh động mạch ngoài
gan nuôi u phụ thuộc vào số lần tiến hành TOCE
trước đó.
Phép kiểm t
một đuôi với
giá trị p= 2.2e-16 cho thấy có sự khác biệt về
kích thước giữa hai nhóm có và không có ĐMNGNU (7.15 ± 2.39 và 4.63 ±1.52). Do đó, kích thước khối u thực sự
là một yếu tố có ảnh hưởng đến sự
h́nh thành các nhánh ĐMNGNU. Điểm
khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi với những
nghiên cứu trước đây là không chỉ dừng lại ở việc
xác nhận mối tương quan này mà c̣n đi sâu phân tích bản chất tương quan giữa kích thước khối
u và xác suất h́nh thành các nhánh động mạch nuôi u
ngoài gan qua mô h́nh phân tích hồi quy lư luận đơn biến (logistic regression) giữa
hai biến ĐMNGNU và kích thước u. Kết quả thu
được cũng cho thấy mối tương quan thuận giữa kích thước u và xác
suất h́nh thành ĐMNGNU với β = 0.65588
và OR = 1.92 (độ tin cậy 1.533 đến 1.969) (Biểu
đồ 2).

Biểu
đồ 2: Xác suất h́nh thành tuần
hoàn ngoài gan nuôi u phụ thuộc vào kích thước khối
u (theo mm).
Cả 2 biến
tiền sử làm TOCE và kích thước khối u khi
được xét riêng lẻ đều có vai tṛ trong việc
h́nh thành các nhánh động mạch ngoài gan nuôi u. Câu hỏi
được đặt ra là có sự tương tác nào giữa hai
biến số trên khi chúng cùng hiện diện trên một bệnh
nhân và yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh hơn? Để trả lời câu hỏi
này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích hồi quy lư luận đa biến (multiple logistic regression). Kết
quả cho thấy kích thước khối u luôn có ảnh
hưởng mạnh hơn tiền sử làm TOCE của bệnh nhân đến khả
năng h́nh thành các nhánh ĐMNGNU (βtoce< βdk ). Khi kích thước khối u càng tăng, ảnh hưởng của số
lần làm TOCE càng giảm. Điều này lư giải tại sao
những khối u có kích thước lớn thường
xuất hiện các nhánh động mạch nuôi u ngoài gan rất
sớm và ít lệ thuộc vào số lần làm TOCE trước
đó. Đồng thời,
khi hai yếu tố kích thước và số lần làm TOCE
phối hợp với nhau sẽ làm tăng khả năng h́nh thành các
nhánh động mạch
ngoài gan (βgiao=0.1259).
Động mạch
hoành dưới là nhánh động mạch ngoài gan thường
gặp nhất cung cấp máu cho UTBMTBG(2,3,7). Trong nghiên cứu của chúng
tôi, u nhận máu nuôi từ động mạch hoành dưới
phải chiếm tỷ lệ 46.47%. Phần lớn khối
u (28/33) nhận máu từ động mạch hoành dưới
phải nằm ở các hạ phân thùy bên phải của
gan mà nhiều nhất là tại hạ phân thùy VIII (15/33).
Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Chung JW(1). Ngoài ra chúng tôi c̣n ghi nhận 4/33
trường hợp u nằm tại gan trái nhưng cũng nhận máu từ động mạch
dưới hoành phải. Chúng tôi không ghi nhận trường
hợp u nào nhận máu từ động mạch hoành trái.
Các nghiên cứu trước cũng cho thấy động mạch hoành
trái thường không gặp hoặc có tỷ rất thấp
so với động mạch hoành phải: 0.89% theo tác giả
Hyo Cheol Kim(2), 0% theo tác giả Yong Li Wang(7),
2% theo tác giả Jin Wook Chung(3).
Về giải
phẫu, động mạch hoành dưới phải cung cấp
máu nuôi cho hầu hết cơ hoành, bao gồm cả phần cơ hoành tiếp xúc với vùng trần của
gan. Do có sự liên hệ chặt chẽ giữa gan và
cơ hoành, máu nuôi cung cấp
cho cơ hoành có thể đến gan bằng đường tiếp xúc
trực tiếp. Đặc biệt các khối u nằm tại
vùng trần của gan (H́nh 1). Như vậy trên h́nh ảnh CLĐT, chúng ta
có thể đoán trước sự hiện diện
của động mạch hoành dưới khi khối u nằm
tại vị phân thùy VII, VII và tiếp xúc với ṿm hoành phải.

H́nh
1: BN. Hà Văn M.-69752. Động
mạch hoành dưới phải xuất phát từ động
mạch thân tạng (mũi
tên) cho nhánh nuôi u (đầu mũi tên) nằm sát ṿm hoành
Chiếm 19.71%. Theo Chung JW(1), do
sự phát triển ra bên ngoài và thâm nhiễm ngoài bao, một khối u có thể tiếp xúc trực tiếp với những cơ quan trong ổ bụng như đại tràng, dạ dày. Khi khối u lồi ra ngoài hoặc nằm tại mặt dưới của gan phải, u có tiếp xúc rất gần với đại tràng. Khi đó, một nhánh của động mạch mạc treo tràng trên
có thể nuôi khối u. Ngoài ra động mạch mạc treo tràng trên c̣n cho nhánh nuôi đến những u nằm tại các phân thùy giữa của gan. Điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi khi đa số các u nằm tại các hạ phân thùy dưới nhận các nhánh nuôi từ động mạch mạc treo tràng trên: 1 u tại hạ phân thùy III, 5 u tại hạ phân thùy V và 8 u tại hạ phân thùy VI.
Chiếm 11.26%: 3 khối u tại hạ phân thùy II, 3 u tại hạ phân thùy III và 1 u tại hạ phân thùy IV và V. Theo Hyo-Cheol Kim(2),
động mạch vị trái thường cho nhánh nuôi đến các khối u thuộc các hạ phân thùy bên hoặc thùy đuôi của gan. Khi khối u có diện tiếp xúc rộng với dạ dày, khả năng nhận máu từ động mạch vị trái là rất lớn. Như vậy 6/8 khối u nằm tại phân thùy bên nhận máu từ động mạch vị trái. Điều này cũng khá phù hợp với ghi nhận của Hyo-Cheol Kim(2).
Chiếm 8.45%: 1 u tại hạ phân thùy IV, 2 u tại hạ phân thùy VI, 2 khối u tại hạ phân thùy VII, 1 u tại hạ phân thùy VIII. Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ của tác giả Jin Wook Chung(3) là 5.4% và tác giả Li Wang(7) là 7.7%. Phần lớn (5/6) các khối u nhận máu từ động mạch liền sườn phải đều nằm tại gan phải. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Shiro Miyayama(6). Tuy nhiên có một trường hợp động mạch liên sườn phải cho nhánh nuôi nằm tại hạ phân thùy IV (H́nh 2).

H́nh 2: BN Trần Mỹ Nh.-77882. Động mạch liên sườn phải (đầu mũi tên) cho nhánh đến nuôi u tại gan trái (mũi tên)
Chiếm 5.63%, số liệu của chúng tôi thay đổi không nhiều so với nghiên cứu của Yong Li Wang(7) là 5.1% và Shiro Miyayama(6) là 4.87%. Tất cả 4/63 trường hợp đều nhận máu nuôi từ động mạch vú trong phải: 1 u tại hạ phân thùy II, 2 khối u tại hạ phân thùy IV và 1 u tại hạ phân thùy VII. Điều này cũng phù hợp với ghi nhận của những nghiên cứu trước đây v́ động mạch vú trong trái thường ít gặp hơn động mạch vú trong phải(3,6,7).
Tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi là 4.22%, cao hơn so với tỷ lệ của Jin Wook Chung(3) là 2.1% và thấp hơn tỷ lệ của Shiro Miyayama(6) là 12%. Những khối u phát triển hướng xuống và vào trong có thể được nuôi bởi động mạch thận. Tất cả các khối u trong nhóm này đều nằm tại mặt sau thùy phải của gan, gần với hố thận. Trong đó có 2 khối u nằm tại hạ phân thùy VI và 1 khối u nẳm tại hạ phân thùy V.
Hai nhánh động mạch mạc nối (2.81%) đến nuôi u nằm tại hạ phân thùy V và VII được chúng tôi ghi nhận. V́ mạc nối lớn thường di động đáng kể, động mạch mạch nối có thể nuôi khối u tại bất cứ phần nào nằm trong phúc mạc của gan(1,6).
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ phát hiện một nhánh động mạch thượng thận phải cung cấp máu cho u tại hạ phân thùy VI chiếm tỷ lệ 1.41%, thấp hơn tỷ lệ của tác giả Shiro Miyayama(6) là 7% và tác giả Jin Wook Chung(3) là 5.9%.
Sự phát triển các nhánh động mạch ngoài gan cung cấp máu nuôi cho UTBMTBG có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của phương pháp điều trị TOCE. Để phát hiện sớm các nhánh động mạch này, bác sĩ h́nh ảnh học can thiệp nên hiểu rơ những nhánh ĐMNGNU khác nhau, những yếu tố góp phần h́nh thành nên chúng nhằm mục đích cải thiện chất lượng điều trị và pḥng ngừa các biến chứng không mong muốn do thuyên tắc lầm vào các nhánh động mạch không nuôi u.
2.
Hyo Cheol Kim, Jin Wook Chung, Whal Lee, Hwan
Jun Jae,
4.
Loune Abbruzzese, Douglas B. Evans, Christopher
G. Willett, Cecilia Fenoglio-Preiser (2004). Hepatocellular carcinoma.
Gastrointestinal Oncology,
* Bộ
môn CĐHA, ĐHYD **
Hội Điện Quang Việt Nam
Địa chỉ liên lạc:
BS. Phạm Thái Hưng ĐT: 0938 101 389 Email: hungpham@gmail.com