Nguyễn Thị Mỹ Thắm*, Lâm
Huyền Trân*, Trần Minh Trường**
TÓM TẮT
Mục
tiêu: Khảo sát
đặc điểm lâm sàng, h́nh ảnh học của tổn
thương hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản
lâu ngày.
Thiết
kế nghiên cứu: Cắt
ngang mô tả.
Phương
pháp: Khảo sát 38
ca hẹp thanh khí quản(HTKQ) sau đặt nội khí quản(NKQ)
lâu ngày về lâm sàng, h́nh ảnh học của tổn
thương qua nội soi thanh khí quản ống mềm, CTScan
Multislices tái tạo(MSCT) cổ ngực và khảo sát mô học
của tổn thương.
Kết
quả: Tuổi trung
b́nh nhóm nghiên cứu là 34,4 tuổi, tỉ lệ nam gấp
2,5 lần nữ. Bệnh nhân có tiền sử viêm phổi
chiếm tỉ lệ cao nhất (29%). Nguyên nhân chính dẫn
đến đặt nội khí quản lâu ngày do chấn
thương sọ năo (63,2%). Đa số
đặt NKQ cấp cứu, thở máy kéo dài, thời gian
đặt NKQ trung b́nh là 11± 4,5
ngày, đặt NKQ một lần và sử dụng đa số
ống NKQ số 7.5 và 8.0. Triệu chứng lâm sàng nổi bật
bao gồm khó thở (100%), tiếng rít (71%), trong đó hầu
hết khó thở th́ hít (95%) và khó thở độ 2 chiếm
53 %. Nội soi thanh khí quản ống mềm xác định
vị trí hẹp gồm 3 ca hẹp thanh môn (8%), 11 ca hẹp
hạ thanh môn (29%), 23 ca hẹp khí quản (60%) và một ca
hẹp hai vị trí hạ thanh môn và khí quản (3%). Tồn
thương dạng ṿng chiếm tỉ lệ cao nhất (56%) và
dây thanh di động kém hay bất động là tổn
thương phối hợp thường gặp nhất (16%). Qua
MSCT, đường kính trung b́nh chổ hẹp nhất ở
thanh môn, hạ thanh môn và khí quản lần lượt là 4± 2 mm, 1,5± 1,5 mm và 2,8± 2,1 mm. Tương tự chiều dài đoạn hẹp
trung b́nh lần lượt là 4,3± 1,3 mm, 19,5±9 mm và 18,4±7,8 mm.
Chúng tôi nhận thấy có sự tương quan giữa thời gian đặt nội
khí quản và sự phát triển của hẹp thanh khí quản.
Về phân độ , qua nội soi đa số hẹp từ
trung b́nh đến nặng (86%) và trên MSCT hẹp độ
3, độ 4 chiếm 71%. Chiều
dài đoạn hẹp <3 cm chiếm đa số (89,5%).
Theo Myer-Cotton độ 3, độ 4 cũng chiếm đa số (71,4%) và giai
đoạn 4 theo phân loại của McCaffrey có tỉ lệ
cao nhất (35,4%). Chúng tôi bấm sinh thiết 23 tổn
thương đều cho kết quả 100 % mô viêm măn tính trong đó
65,2 % tiến triển xơ hóa.
Kết
luận: Tổn thương HTKQ sau đặt NKQ lâu ngày có những đặc
điểm riêng biệt về vị trí tổn thương ,h́nh dạng và tiến triển của
tổn thương. Thời gian đặt NKQ tương quan với tiến triển của hẹp
thanh khí quản.
Từ
khoá: hẹp thanh khí quản, nội khí quản
CHARACTERISTICS
OF LARYNGOTRACHEAL STENOSIS AFTER PROLONGED ENDOTRACHEAL INTUBATION
Nguyen Thi My Tham, Lam Huyen Tran, Tran Minh Truong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Suppl ement of No 1-2010: 277 - 283
Purpose: Surveying clinical
and imaging characteristics of laryngotracheal stenosis (LTS) after prolonged
endotracheal intubation (
Design: Cross –
sectional study.

Method: Surveying 38 LTS cases
after
Results: The 38 patients
included 27 males and 11 females with an age range of 16-75 years (mean: 34.4
years) and had a pneumonia history (29%). The main cause of PET was trauma
(63.2%). Almost patients were urgently intubated with endotracheal tubes 7.5
or 8.0 and positive pressure ventilation. The average duration of endotracheal
intubation (EI) was 11± 4.5 days. Inspiratory dysnea (100%) and stridor (71%)
were dominant symptoms. The second level of dyspnea was majority. (53%) FLE
which located the stenosis including 3 glottic stenosis cases (8%), 11
subglottic stenosis cases (29%), 23 tracheal stenosis cases (60%), and and one
case including both subglottic and trachea stenosis (3%). Most LTS cases had the
circumferential shape (56%). The additional injuries were usually paralysis or
fixation of vocal cords (16%). On MSCT,
the average diameters of the narrowest positions of glottic, subglottic and
trachea were 4 ± 2 mm, 1.5 ± 1.5 mm and
2.8 ± 2.1 mm respectively ; and their average lengths of narrow segments were
4.3 ± 1.3 mm, 19.5 ± 9 mm and 18.4 ± 7.8 mm respectively. We found the
correlation between the duration of EI and the development of stenosis.
Moderate cases and severe cases (from the classification of FLE) or stage 3 and
stage 4 (from the classification of MSCT) were dominant. Most stenosis cases
(89,5%) had the length of under 30 mm. Stage 3 and 4
(Myer-Cotton) and stage 4 (McCaffey) were found most frequently. Biopsy results
of LTS were all chronic inflammation (100%) in which 65.2% were fibrosis.
Conclusion: LTS after
Keywords: laryngotracheal stenosis, endotracheal intubation
Năm 1880, Wiiliam MacEwen(11) lần đầu tiên báo cáo hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản để gây mê. Năm 1969 ,Linhhom(8) cũng đă báo cáo những tổn thương thanh khí quản sau đặt nội khí quản v́ mục đích này.Từ thập niên 60 trở đi, sự gia tăng đặt nội khí quản, mở khí quản để giải quyết vấn đề hô hấp, xuất tiết, hỗ trợ thông khí làm gia tăng tổn thương đường hô hấp từ mức độ viêm nhiễm đến tắc nghẽn đường hô thở. Hẹp thanh khí quản người lớn có thể xảy ra sau đặt nội khí quản, mở khí quản, chấn thương thanh khí quản, viêm nhiễm, bỏng do nhiệt hay hóa chất…Trong đó hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản chiếm đa số khoảng 90%(10). Cơ chế chính gây tổn thương đường thở do áp lực của bóng nội khí quản đè ép vào niêm mạc thanh khí quản gây viêm loét ,thiếu máu tại chổ dẫn đến hoại tử, hóa sẹo và chít hẹp đường thở(8),(15) .Tổn thương niêm mạc sớm nhất có thể quan sát dưới kính hiển vi là 4 giờ(8) sau đặt nội khí quản. Triệu chứng lâm sàng của hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản là hội chứng tắc nghẽn hô hấp trên với khó thở th́ thở ra và tiếng rít diễn tiến ngày càng tăng dần. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiến triển của hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản lâu ngày(8),(13),(15). Về ống nội khí quản bao gồm: vị trí đặt, kích thước, số lần và thời gian đặt nội khí quản. Yếu tố bệnh lư bao gồm viêm phổi, tiểu đường, cao huyết áp, GERD, dùng corticoid liệu pháp, thói quen hút thuốc lá.
Năm 1966, Olympus(12),(19) đă sản xuất hệ thống nội soi ống mềm đầu tiên dựa trên nền tảng nội soi ống cứng với cấu tạo gồm nguồn sáng và camera gắn với màn h́nh quan sát. Điểm nổi bật của nội soi ống mềm chính là dây sáng sợi phát quang có thể di chuyển linh hoạt và kênh phẩu thuật có thể luồng dụng cụ thủ thuật.. Nội soi ống mềm với chỉ định chẩn đoán hơn là điều trị, có thể thực hiện với gây tê tại chổ (so với nội soi ống cứng chỉ định điều trị là đa số và thường phải gây mê).Trong khảo sát tổn thương hẹp thanh khí quản ,nội soi ống mềm xác định vị trí ,h́nh dạng, kích thước và tổn thương phối hợp.
Năm 1998, sự ra đời
của MSCT đánh dấu cuộc cách mạng về kỹ
thuật chẩn đoán h́nh ảnh[7]. MSCT giảm độ dày lát
cắt ,tăng độ
dái tia quét ,cho phép chụp cắt lớp nhanh hơn CTscan xoắn
ốc. MSCT thu được nhiều dữ
liệu hơn do tái tạo h́nh ảnh 3 chiều, khảo
sát những tổn thương rất nhỏ. Khảo
sát tổn thương hẹp thanh khí quản
trên MSCT ,xác định được vị
trí ,kích thước chính xác của tổn thương (3 mặt
phẳng), khoảng cách của tổn thương đến
thanh môn và cựa khí quản, h́nh dạng tổn thương.
Những bệnh nhân
được chẩn đoán hẹp thanh khí quản dựa
vào lâm sàng nhập viện bệnh viện Chợ Rẫy từ
11/2008-8/2009 có tiền căn
đặt nội
khí quản từ 48 giờ trở lên.
Chẩn đoán: một trong các dấu hiệu sau: Khó thở, tiếng rít, hẹp thanh khí quản(XQ cổ thẳng nghiêng, ngực thẳng)
Và tiền
căn đặt nội khí quản 48h trở đi(8).
Bệnh nhân hẹp thanh khí quản do
nguyên nhân khác.
Bệnh nhân lưu nội khí quản nhỏ
hơn 48h.
Bệnh nhân nhỏ hơn 16 tuổi, khó tiếp xúc, không hợp tác.
Ước lượng một hậu quả với một độ chính xác nhất định

d: sai số
của ước lượng
với độ tin cậy 95% tối đa ( d = 0,1 ).
p: tỉ suất mắc bệnh ước lượng. Trong các nghiên cứu trước đây, tỉ suất mắc bệnh hẹp thanh khí quản sau đặt NKQ khoảng 1%)3); 3,1%-4,6%(9); 0,9% - 8,3%(5). Do đó N khoảng (9-29 ca).
Bộ nội soi ống mềm Olympus Exera CV-160 (
đường kính ngoài của thấu kính 6mm).
Thuốc tê Lidocain 2%, Lidocain gel và Lidocain spray.Ống
tiêm 5ml.
Oxymeter
và máy đo huyết áp.
Dụng cụ sinh thiết.
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Chẩn
đoán bệnh nhân hẹp thanh khí quản sau đặt nội
khí quản lâu ngày theo tiêu chuẩn chẩn
đoán. Nếu nhập viện khó thở độ 2,3 tùy t́nh trạng bệnh nhân xem xét chụp
MSCT trước và MKQ sau, nội soi đánh giá tiến hành vài ngày sau đó. Nếu
khó thở độ 1 xem xét nội soi và MSCT
Đưa ống soi (đường
kính ngoài của optic 6mm) qua đường mũi hay miệng (nếu
đường mũi khó
khăn), đến
dây thanh bơm 1ml lidocain 2% nhằm
mục đích tê tại chổ
tránh phản xạ ho, sặc, sau đó lách ống soi qua dây
thanh đến cựa khí quản. Trê đường
đi của optic, quan sát và mô tả tổn thương: vị trí, h́nh dạng, kích thước
và tổn thương phối hợp.
Ước lượng các kích thước:
đo uớc lượng đường kính chổ hẹp,
khoảng cách từ đầu trên tổn thương đến dây thanh, từ đầu dưới
đến cựa khí quản , chiều dài đoạn hẹp
(nếu ống soi qua được)
Phân độ qua nội soi(14):Nhẹ <50%, trung b́nh 50-90%, nặng>90%.
Bấm sinh thiết mô tổn
thương gửi
GPB.
MSCT cổ ngực
Chụp MSCT tái tạo 3D (axial, coronal, sagittal), lát cắt mỏng 2-3 mm từ xương móng đến carina, dựng h́nh h́nh thể ngoài.
Xác
định mốc giải phẫu quan trọng: Dây thanh, sụn
nhẫn ,sụn khí quản (nếu có
canxi hóa), cựa khí quản. Đo bằng thước
đo trên CTscan các kích thước: Đường kính
trước sau của thanh môn, đường kính trước
sau của sụn nhẫn, đường kính ngang của
sụn nhẫn, đường kính ngang hạ thanh môn,
đường kính ngang khí quản để làm mốc so
sánh với kích thước chỗ hẹp.Kích thước
tổn thương: vị trí, khoảng cách
từ đầu trên tổn thương đến dây thanh, khoảng cách từ đầu
dưới tổn thương đến cựa
khí quản, chiều dài đoạn hẹp, đường
kính chỗ hẹp nhất.
H́nh dạng tổn thương: chít hẹp một
phần, chít hẹp dạng ṿng (axial), chít hẹp hoàn toàn,
đồng hồ cát hay
đáy b́nh (coronal, sagittal hay tái tạo h́nh thể ngoài).
Phân
độ tổn thương dựa vào kích
thước trên MSCT (độ hẹp và chiều dài)
Phân
độ tồn thương theo Myer-Cotton và McCaffrey(Error!
Reference source not found.).
Thu thập
bảng câu hỏi và nhập, xử lư số liệu bằng
SPSS 15.0
Tuổi
trung b́nh nhóm nghiên cứu 34,4 tuổi
(16-75tuổi), nam gấp 2,5 lần nữ. Bệnh nhân
thường có tiền sử viêm phổi (29%), THA (13%), GERD(3%), thói quen hút thuốc lá (19%). Nguyên nhân chính dẫn đến đặt nội
khí quản lâu ngày bao gồm chấn thương sọ năo (63%), bệnh
hô hấp (13%), đa chấn thương (13%). Đa số đặt NKQ cấp cứu, thở
máy kéo dài , thời gian đặt NKQ trung b́nh 11± 4,5 ngày, nhỏ nhất
3 ngày, tối đa 20 ngày, đặt NKQ một lần( 84%)
và đa số sử dụng ống NKQ số 7.5 (40%); 8.0
(55%). Triệu chứng lâm sàng nổi bật 100% khó thở,
tiếng rít (71%), trong đó khó thở th́ hít vào chiếm 95%,
khó thở độ 2 chiếm đa số (53%). Các triệu chứng thường xuất hiện
sau rút NKQ thường nhỏ hơn 1 năm
trong đó 1-6 tháng chiếm tỉ lệ 87%.
Vị trí hẹp: thanh môn (8%), hạ thanh môn
(29%), khí quản (60%), hẹp 2 vị trí hạ thanh môn và
khí quản(3%)
Đường kính chổ hẹp ước lượng lần lượt thanh môn, hạ thanh môn ,khí quản: 4mm ± 2mm; 1,8 ± 21,3mm; 2,9 ± 2mm.
H́nh 1. H́nh dạng tồn
thương vả tổn thương phối
hợp
|
A.Mô hạt 4(10%) |
B.Ph́ đại 3(8%) |
C. Màng 4(10%) |
|
E.Loét +ṿng 1(3%) |
|
|
|
H.DT di động kém/ bất
động 6(16%) |
|
J.Mềm sụn khí quản 1(3%) |
|
K.Sẹo mép sau 1(3%) |
|
|
|
|
Dạng ṿng
chiếm tỉ lệ cao nhất 21 trường hợp (56
%). Tiếp theo là dạng tổn
thương
chít hẹp hoàn toàn (16%), mô hạt
(10%), màng (10 %). chiếm tỉ lệ cao nhất 16% trường
hợp dây thanh di động kém hay bất động,tỉ
lệ 3% lần lượt các tổn thương phối hợp : polyp dây thanh, trật khớp
nhẫn phễu, mềm sụn khí quản, tổn
thương mép sau.
Bảng 1: Vị trí và kích
thước chổ hẹp
|
Kích thước |
Thanh môn n = 3 |
Hạ thanh môn n = 11 |
Khí quản n = 23 |
Hạ TM và KQ n = 1 |
|
Đầu
trên cách DT |
0 |
9,1±3mm |
31,7±13,2mm |
10mm( hạ
TM) 61,1mm(KQ) |
|
Đầu
dưới cách carina |
100±5mm |
75±8,7mm |
55,4±12,1mm |
70,2mm(hạ
TM) 24,1mm(KQ) |
|
Đường
kính chổ hẹp nhất |
4 ±2mm |
1,5±1,5mm |
2,8±2,1mm |
0mm(hạ
TM) 3,3mm(KQ) |
|
Chiều
dài đoạn hẹp |
4,3±1,3mm |
19,5±9mm |
18,4±7,8mm |
15mm(hạ
TM) 10mm(KQ) |
Về h́nh
dạng, đa số tổn thương dạng ṿng (55%)chít
hẹp một phần (24%), chít hẹp hoàn toàn (21%) Dạng
ṿng hay chít hẹp hoàn toàn trên axial quan sát trên coronal, sagittal
hay tái tạo h́nh thể ngoài là dạng đồng hồ
cát (55%), đáy b́nh (21%).


H́nh 2. L. Dạng đồng hồ cát M.Dạng đáy b́nh
Dựa vào CTscan, độ 3(71-99%) và
độ 4 (100%) là mức độ hẹp chiếm đa
số trong nghiên cứu (71%). Theo phân độ Myer- Cotton
độ 3, độ 4 cũng
chiếm tỉ lệ cao nhất. C̣n chiều dài
đoạn hẹp từ 10-30mm chiếm 55,3%
trong nghiên cứu chúng tôi, kế
đến chiều dài dưới 10mm (34,2%). Theo phân độ
McCaffrey th́ giai đoạn 4 chiếm tỉ lệ cao nhất
(35,4%).
Chúng tôi nhận thấy có mối tương quan nghịch giữa thời gian đặt NKQ với đường kính chổ hẹp (r=-0,8 với mức ư nghĩa 0,01) và tương quan thuận với chiều dài đoạn hẹp (r =0,4 với mức ư nghĩa 0,01)
100% kết quả sinh thiết là mô viêm măn tính. Trong đó xơ hóa chiếm 65,2%( bao gồm dạng màng ,ṿng ,chít hẹp hoàn toàn). Tổn thương mô hạt, polyp, loét đều cho ra kết quả tương ứng, dạng ph́ đại cho kết quả mô viêm măn tính.
Các yếu
tố nguy cơ ảnh hưởng
đến tiến triển của hẹp thanh khí quản(8),(13),(15). Quá tŕnh viêm nhiễm đường hô hấp,
niêm mạc khí phế quản bị tổn thương, các tế bào lông chuyển bị biến đổi
,niêm mạc hô hấp tại vị trí bóng nội khí quản
chèn vào càng dễ bị thiếu máu điều này cũng tương tự với bệnh
lư COPD, suyễn là những bệnh lư hô hấp măn tính(6). GERD đă được báo cáo là
yếu tố nguy cơ của hẹp thanh khí quản
thông qua cơ
chế trào ngược dịch dạ
dày gây viêm nhiễm, loét niêm mạc thành khí quản(5),(16). Nghiên cứu của chúng tôi có số
ống NKQ phù hợp với giới tính, ống 7.5 và 8.0
đối với nam, 7.0 và 7.5 đối với nữ. Thời
gian đặt nội khí quản đơn thuần trung b́nh 11±4,5 ngày.
Nghiên cứu của chúng tôi gần giống với kết
quả nghiên cứu của Salper(14) 10,9 ngày (2-14 ngày), Deeb(1) 10,5 ngày (6-45 ngày). Khó thở th́ hít
vào (95%)là dấu hiệu hiệu đặc
trưng của tắc nghẽn đường hô hấp
trên. Tiếng rít chiếm tỉ lệ 71%
tương ứng với
tỉ lệ khó thở độ 2. Tiếng
rít xảy ra khi đường kính chổ hẹp dưới
3,5mm. Khó thở và tiếng rít là hai triệu
chứng chính trong bệnh lư hẹp thanh khí quản.
Qua nội soi đa số
hẹp khí quản (60%) ,phù hợp y văn và 1 số nghiên cứu khác đa số tổn
thương
sau đặt NKQ lâu ngày ở khí quản,
cũng chính
là vị trí của bóng được
đặt vào đoạn 1/3 giữa khí quản(6),(10),(14). H́nh dạng ṿng chiếm tỉ
lệ cao nhất (56%), kế đó chít hẹp hoàn toàn, ph́
đại, mô hạt, màng. Dựa trên cơ chế tổn thương thanh khí quản do áp lực bóng đè vào niêm mac thanh
khí quản trong một khoảng thời gian, niêm mạc tiếp
xúc với bóng bị tổn thương xu hướng hẹp hướng tâm , do đó tổn thương có h́nh dạng ṿng và tiến triển đến bít
tắc hoàn toàn. Chúng tôi có 5 dạng tổn thương phối hợp: dây thanh di động kém hay bất
động, trật khớp nhẫn phễu, tổn
thương
mép sau, polyp dây thanh, mềm sụn
khí quản. Nguyên nhân
do áp lực của ống NKQ t́ đè vào dây thanh,
sụn phễu, mép sau sau trong
một khoảng thời gian dài gây ra các loại tổn
thương
đa dạng đặc biệt
là dây thanh di động kém hay bất động. Mềm sụn
khí quản được giải thích do sự suy yếu dần của
thành khí quản sau một thời gian đặt ống đặc
biệt thường xảy ra nếu có MKQ kèm theo. Một
số tác giả đă phân loại
h́nh dạng tổn thương như trong nghiên cứu của Zias(20) chia 3 dạng tổn thương hẹp khí quản bao gồm :dạng màng
đơn
thuần (81%), dạng mềm sụn
khí quản(9%) và phối hợp (9%).
Dựa vào các chỉ số khoảng cách ,chúng
tôi xác định chính xác vị trí hẹp, nghiên cứu của
chúng tôi cho kết quả giống với nghiên cứu của Sarper(14) đối với
hẹp ở khí quản, khoảng cách đến dây thanh và
carina lần lượt 31,7mm và 55,4mm . Kết
quả nội soi của chúng tôi cũng xác định vị trí hẹp thanh khí quản
phù hợp với MSCT.
Về kích
thước tổn thương ,việc đo
đường kính chổ hẹp và chiều dài đọan
hẹp giúp sự phân độ tổn thương. Độ hẹp 3,4 theo
Myer-Cotton(Error! Reference source not
found.) chiếm tỉ lệ
cao nhất, tương tự trong ngghiên cứu của Fernandez(4). Giai đoan 4
(McCaffrey) chiếm tỉ lệ cao nhất
,tiên luợng rút canule rất khó khăn ở giai đoan 4 này.
Sự phát triển của hẹp thanh khí quản chịu tác động rất nhiều yếu tố trong đó thời gian đặt nội khí quản là yếu tố có mối tương quan chặt chẽ với tiến triển hẹp thanh khí quản. Chúng tôi có thời gian đặt NKQ nhỏ nhất 3 ngày, lớn nhất 20 ngày. Trong một nghiên cứu khác thời gian khoảng 10,9 ngày (2-14 ngày)(14). White(17) cũng đă thống kê tần suất xảy ra hẹp thanh khí quản sau đặt nội khí quản lần lượt 2% nếu thời gian ít hơn 6 ngày, 5% nếu từ 6-10 ngày và 12% nếu thời gian từ 11 ngày trở đi.
SINH THIẾT:
Kết quả viêm măn tính 100% với tiền triển mô hạt,loét
hay xơ hóa phù hợp với quá tŕnh viêm h́nh thành mô sẹo(18) .Thực chất tiến
tiển của tổn thương hẹp thanh khí quản chính là tiến tiển
viêm mản tính mà hậu quả là h́n thành mô sẹo.
Dựa vào cơ chế tổn thương chủ yếu do áp lực bóng và các yếu tố ảnh hưởng
đến tiến tŕnh lành vết thương, chúng tôi đă khảo sát toàn diện tổn thương, phân độ tổn thương nhằm mục
đích lựa chọn can thiệp và tiên lượng được khả
năng rút
canule. Bên canh đó chúng tôi đưa ra khuyến cáo cho các bác sĩ lâm sàng nên rút nội khí quản càng sớm càng
tốt và nếu không thể rút NKQ
nên MKQ sớm cho bệnh
nhân ,từ ngày thứ 5 trở đi hẹp thanh khí quản
xảy ra với tiến triển từ trung b́nh đến
nặng.
2.
Eaton
DA & Murray AD. (2009). "Laryngeal Stenosis", from
http://emedicine.medscape.com/article/867177-overview
3.
Eicher
SA. (1991). "Benign Tracheal Stenosis", from http://www.bcm.edu/oto/grand/61591.html
9.
Kastanos
N, Estopa MR, Marin PA, Xaubet MA & Augusti VA. (1983).
"Laryngotracheal Injury due to Endotracheal Intubation : incidence,
evolution and predisposing factors. A prospective long-term study."
Critical Care Medicine, 11(5), 362-367.