Trần Thị
Dạ Thảo*, Quang Văn Trí *
Mở đầu: Sự phối hợp lao phổi
và đái tháo đường là vấn đề sức khỏe
quan trọng hiện nay tại Việt Nam.
Mục tiêu: Khảo sát lâm sàng,
tổn
thương X-quang phổi, đặc điểm vi trùng học và tình trạng kiểm soát đường
huyết
ở
bệnh
nhân lao phổi
kèm
đái tháo đường
(ĐTĐ) típ 2.
Phương pháp: Cắt ngang, gồm những bệnh nhân lao phổi nhập viện Phạm Ngọc Thạch từ 7/2008 đến 7/2009. Nhóm nghiên cứu gồm
154 bệnh
nhân lao phổi
- ĐTĐ típ 2, nhóm chứng
gồm
101 bệnh
nhân lao phổi
không ĐTĐ.
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm lao phổi - ĐTĐ là 59 ± 24. Độ tuổi thường
mắc
bệnh
nhất
của
nhóm
không ĐTĐ là dưới 40 tuổi. Có 64,9% bệnh nhân mắc đái tháo đường
trước
lao (thường
gặp nhất là từ 2-5 năm). Ho ra máu và sụt cân thường
gặp
hơn
ở
nhóm
có
ĐTĐ. Lao phổi AFB dương ở nhóm ĐTĐ là 86,4% so với
nhóm
không ĐTĐ là 67,3%. Tổn thương phân bố lan tỏa chiếm tỉ lệ 66,2% ở nhóm ĐTĐ và 58,4% ở nhóm không ĐTĐ. Tổn thương dạng hang và tổn thương thùy dưới gặp nhiều hơn ở nhóm ĐTĐ (54,3% và 65%) so với nhóm không ĐTĐ (25,7% và 43,5%). Đái tháo đường
là
yếu
tố
nguy cơ
độc lập đối với tổn thương thùy dưới và tổn thương dạng hang.
Kết luận: Đái tháo đường
làm
thay đổi một số biểu hiện lâm sàng và Xquang của lao phổi. Tổn thương lan tỏa nhiều thùy, tổn thương thùy dưới và tổn thương dạng hang là những điểm khác biệt cần chú ý ở bệnh nhân lao phổi mắc đái tháo đường.
Từ khóa: lao phổi, đái tháo đường, xquang phổi,
đường huyết
CLINICAL
FEATURES, CHEST XRAY AND GLYCEMIA CONTROL IN PATIENTS WITH PULMONARY
TUBERCULOSIS AND DIABETES
Tran Thi Da Thao, Quang Van Tri
* Y Hoc TP. Ho
Chi Minh * Vol. 14 – Supplement of No 1 – 2010: 419 - 424
Background: The combination of pulmonary tuberculosis (PT) and diabetes is currently
an important heath problem in
Objective: Investigate the clinical features, chest xray, bacteriology and
glycemia control in patients with PT and diabetes.
Method: Cross – sectional study performed in patients with PT admitted to
Results: The average age in the study group was 59 ± 24 years. The most
frequent age in the control group was below 40 years. Diabetes was diagnosed
before PT in 64.9% of cases (2-5 years was commonest). Hemoptysis and weight
loss were more seen in the study group. Smear positive PT was found in 86.4% in
the study group, compared to 58.4% in the control group. The diffuse lesion on
chest xray was noted in 66.2% in the study group, and in 58.4% in the control
group. The cavitary and lower lung field lesions were more observed in the
study group (54.3% and 65% respectively) vs the control group (25.7% and 43.5%
respectively). Diabetes is an independent risk factor of the cavitary and lower
lung field lesions.
Conclusion: Diabetes altered some clinical features and chest xray of PT. The
diffuse, lower lung field and cavitary lesions constitue the significant difference
to note in PT patients with diabetes.
Keywords: pulmonary tuberculosis, diabetes, chest xray, glycemi
Hiện nay, bệnh
lao vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng
đầu trong số các bệnh nhiễm trùng,
còn đái tháo đường (ĐTĐ)
là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ năm
trong số tất cả các bệnh lý. Sự
phối hợp hai bệnh lý này hiện nay
là vấn đề sức khỏe đang
được báo động nghiêm trọng trên
toàn cầu, đặc biệt là vùng châu
Á-Thái Bình Dương. Tuy y văn đã ghi
nhận đái tháo đường làm thay
đổi các đặc điểm lâm sàng,
Xquang của lao phổi, tại Việt Nam vẫn chưa
có những nghiên cứu về vấn
đề này cùng với tình trạng
kiểm soát đường huyết của
bệnh nhân. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này nhằm khảo sát các
đặc điểm về lâm sàng, vi trùng
học, Xquang phổi và tình trạng kiểm
soát đường huyết của bệnh nhân lao
phối mắc
ĐTĐ típ 2.
- Mô tả và so
sánh đặc điểm về lâm sàng, X-quang
phổi, xét nghiệm vi trùng lao giữa hai
nhóm lao phổi có ĐTĐ và không ĐTĐ.
- Đánh
giá sự kiểm soát đường
huyết ở bệnh nhân lao phổi - ĐTĐ
típ 2.
- Khảo sát
mối tương quan giữa tổn thương
X-quang phổi và tình trạng kiểm soát
đường huyết.
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang
Mẫu nghiên cứu: tất cả những bệnh
nhân được chẩn đoán xác
định lao phổi có và không có ĐTĐ típ 2
nhập viện khoa lao bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
từ 7/2008 đến 7/20009. Chúng tôi loại
trừ những bệnh nhân không đồng ý
tham gia nghiên cứu, có thiếu máu, có
bệnh gan thận nặng, nhiễm HIV, dùng
corticoids trên ba tháng, và những bệnh nhân lao
ngoài phổi đơn thuần.
Thu thập và xử lý
số liệu
Các bệnh nhân
được hỏi bệnh sử, khám lâm
sàng, phỏng vấn về bệnh đái tháo
đường và được thực
hiện các xét nghiệm. Các thông số trên
được ghi nhận vào phiếu thu thập
số liệu riêng của hai nhóm (có và không
có đái tháo đường). Riêng Xquang
phổi được lưu và phân tích
độc lập bởi hai bác sĩ chuyên khoa lao
và bệnh phổi (một trực tiếp và
một không trực tiếp tham gia nghiên cứu).
Số liệu
được nhập và xử lí
bằng phần mềm SPSS 16.0. Phép kiểm t, Mann
Whitney U cho các biến định lượng,
phép kiểm chi bình phương cho các biến
định tính, hệ số tương quan Spearman,
hồi qui logistic để tìm mối tương quan.
Giá trị p<0,05 được xem là có
ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu
gồm 255 bệnh nhân, chia làm hai nhóm. Nhóm nghiên
cứu gồm 154 bệnh nhân lao phổi – ĐTĐ
típ 2, nhóm chứng gồm 101 bệnh nhân lao phổi
không mắc ĐTĐ.
Bảng 1: Các
đặc điểm dịch tễ học của dân
số
nghiên
cứu
|
|
Đái tháo đường |
Không đái tháo đường |
p |
|
Tổng số (n) |
154 |
101 |
|
|
Tuổi (năm) |
59±24 [32-88] |
54 ±32 [22-84] |
0,007 |
|
Độ tuổi
thường gặp nhất |
51-60 |
< 40 |
|
|
|
86/68 |
67/34 |
|
|
Nơi cư ngụ |
|
||
|
Thành phố (n) |
96 (62,3%) |
47 (46,5%) |
|
|
Tỉnh (n) |
58 (37,6%) |
54 (53,5%) |
|
|
BMI (kg/m2) |
19,2±6,1 [11-29] |
18±4,4 [12,2-25,3] |
0,001 |
|
n: số bệnh nhân |
|||
Tuổi trung
bình của nhóm lao phổi – ĐTĐ là 59,
độ tuổi thường gặp nhất
là 51-60 tuổi. Trong khi đó, tuổi trung bình
của nhóm lao phổi - không ĐTĐ là 54, và
độ tuổi thường mắc bệnh
nhất là dưới 40 tuổi. Trong cả hai
nhóm, tỉ lệ nam giới mắc bệnh cao
hơn. Cả hai nhóm đều có BMI thấp.
Bảng
2:
Hình thức phối hợp lao phổi - đái tháo đường
|
Thời
điểm chẩn đoán lao phổi so với
đái tháo đường (n) |
|
|
Đái tháo
đường chẩn đoán trước
lao phổi |
100 (64,9%) |
|
Đái tháo
đường chẩn đoán cùng lúc
lao phổi |
43 (27,9%) |
|
Lao phổi
trước đái tháo đường |
11 (7,1%) |
|
Thời gian
đái tháo đường trước
lao * (trung vị, năm) |
4 [0,5 – 15] |
|
< 2 năm (n) |
15 |
|
2- 5 năm |
52 |
|
6-10 năm |
23 |
|
> 10 năm |
8 |
Bảng
3: So
sánh tỉ lệ lao tái phát,
lao kháng thuốc và ở
nhóm lao phổi mắc đái tháo đường trước lao và nhóm không đái tháo đường
|
|
ĐTĐ trước lao (n=100) |
Không ĐTĐ (n=101) |
p |
|
Lao tái phát |
|
|
|
|
1 lần |
16 (16%) |
20 (19,8%) |
|
|
2 lần |
7 (7%) |
4 (3,96%) |
|
|
> 2 lần |
5 (5%) |
0 |
|
|
Tổng cộng |
28 (28%) |
24 (23,7%) |
0,9 |
|
Cấy đàm |
|
|
|
|
Số bệnh nhân được cấy |
51 |
14 |
|
|
Lao kháng thuốc |
12 |
4 |
|
|
Lao ngoài phổi |
Có đái tháo đường (n=154) |
Không ĐTĐ (n=101) |
|
|
Lao màng phổi |
24 |
9 |
|
|
Lao màng não |
1 |
6 |
|
|
Lao ruột |
2 |
0 |
|
|
Lao thanh quản |
3 |
0 |
|
|
Lao hạch |
1 |
1 |
|
|
Lao cột sống |
0 |
2 |
|
|
Lao tinh hoàn |
0 |
1 |
|
|
Tổng cộng |
31 (20,1%) |
19 (18,8%) |
0,8 |
Về triệu
chứng lâm sàng, thời gian khởi
bệnh thường gặp nhất ở
cả hai nhóm là 30 ngày, trung vị của
nhóm lao phổi - ĐTĐ là 20 và nhóm không
ĐTĐ là 15. Ăn kém, sụt cân và ho ra
máu là những triệu chứng lâm sàng
thường gặp hơn ở nhóm có
ĐTĐ một cách có ý nghĩa thống kê.
Bảng
4:
Triệu chứng lâm sàng
|
Các triệu chứng |
Lao phổi- ĐTĐ (n=154) |
Lao phổi- không ĐTĐ (n=101) |
p |
|
Thời gian
khởi bệnh (ngày) Thường
gặp nhất |
20 [1- 160] 30 |
15 [1-90] 30 |
|
|
Ho khạc đàm |
131 (85,1%) |
90 (89,1%) |
0,4 |
|
Sốt |
90 (58,4%) |
59 (58,4%) |
0,9 |
|
Ăn kém, sụt
cân |
66 (42,9%) |
27 (26,7%) |
0,009 |
|
Mệt mỏi |
30 (19,5%) |
18 (17,8%) |
0,6 |
|
Đau ngực |
22 (14,3%) |
11 (10,9%) |
0,5 |
|
Ho ra máu |
32 (22,8%) |
10 (9,9%) |
0,04 |
|
Khó thở |
42 (27,3%) |
26 (25,7%) |
0,8 |
Tổn thương X-quang
được khảo sát về sự phân bố tổn thương, đặc biệt là tổn thương thùy dưới và
các dạng tổn thương. Ở nhóm lao phổi - ĐTĐ,
hình ảnh Xquang được phân tích trên
151 trường hợp, do có 3 trường hợp thất lạc phim lúc chúng tôi xử lý ảnh.
So sánh
đặc điểm Xquang giữa hai nhóm, chúng tôi ghi nhận tổn thương lan tỏa trong nhóm có ĐTĐ
là 66,2%, nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không ĐTĐ, 58,4%. (p= 0,001,
phép kiểm chi bình phương). Lao phổi có tổn thương thùy dưới ở nhóm có ĐTĐ là 65%, nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không ĐTĐ là 43,5% (p=0,04). Tổn thương dạng hang ở nhóm ĐTĐ là 54,3%, ở nhóm không ĐTĐ là 25,7%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.
Bảng
5:
Tổn thương X-quang phổi ở hai nhóm
bệnh nhân
|
Tổn
thương X-quang |
Đái tháo
đường (n=151) |
Không đái
tháo đường (n=101) |
||
|
Phân bố tổn thương |
n |
% |
n |
% |
|
Khu trú |
49 |
31,8% |
42 |
41,6% |
|
Lan tỏa |
102 |
66,2% |
59 |
58,4% |
|
Tổn thương thùy trên hay dưới |
||||
|
Chỉ thùy trên |
53 |
34,4% |
57 |
56,4% |
|
Chỉ thùy
dưới |
19 |
12,3% |
6 |
5,9% |
|
Cả thùy trên
và thùy dưới |
79 |
51,3% |
38 |
37,6% |
|
Có tổn thương thùy dưới |
98 |
65% |
44 |
43,5% |
|
Dạng tổn thương |
||||
|
Tổn thương dạng hang |
|
|
|
|
|
Không có hang |
69 |
44,8% |
75 |
74,3% |
|
Có 1 hang |
55 |
35,7% |
22 |
21,8% |
|
≥ 2 hang |
27 |
17,5% |
4 |
4% |
|
Có tổn thương hang |
82 |
54,3% |
26 |
25,7% |
|
Thâm nhiễm |
114 |
74% |
69 |
68,3% |
|
Dạng nốt |
72 |
46,8 |
29 |
28,7% |
|
Dạng kê |
2 |
1,3% |
8 |
7,9% |
|
Mờ đồng nhất |
6 |
3,9% |
3 |
3% |
|
Dạng u |
0 |
0% |
1 |
1% |
|
Xơ sẹo, nốt vôi hóa |
23 |
14,9% |
11 |
10,9% |
|
Khí phế thủng |
3 |
1,9% |
0 |
0% |
|
Tràn dịch
màng phổi |
20 |
13% |
5 |
4,95% |
|
Tràn khí
màng phổi |
7 |
4,5% |
4 |
3,96% |
|
Xẹp phổi |
5 |
3,2% |
1 |
0,99% |
Trong 154 trường hợp lao phổi –
ĐTĐ, lao phổi AFB (+) chiếm tỉ lệ 86,4% .
Nhóm chứng có tỉ lệ lao phổi AFB (+)
là 67,3%. Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê với giá trị p < 0,0001.
Tình trạng điều
trị và kiểm soát đường
huyết: được khảo sát
ở 100 trường hợp lao phổi –
ĐTĐ trước lao. Đường huyết
đói trung bình là 13,8±10,2 [5-30,5]. HbA1C trung
bình là 9,4 ± 4 [5,7-17,5]. Chỉ có 44
trường hợp điều trị liên tục,
55 trường hợp không điều trị liên
tục và 1 trường hợp không
điều trị. 73% số bệnh nhân không biết tên
thuốc hạ đường huyết mình
đang dùng. Chỉ có 5 bệnh nhân đạt
trị số HbA1C ≤ 7.
Chúng tôi không tìm thấy sự tương
quan giữa HbA1C và với mức độ
lan tỏa của tổn thương trên Xquang phổi
(hệ số Spearman = 0,08; p = 0,4), với sự
hiện diện hang (hệ số Spearman = 0,08; p= 0,4) và
với tổn thương thùy dưới
(hệ số Spearman = -0,051; ; p = 0,6).
Qua phân tích hồi quy logistic, chúng tôi ghi
nhận được đái tháo
đường là yếu tố nguy cơ
độc lập của tổn thương thùy
dưới (OR= 2,9, 95% CI = 1,7-5, p = 0,0002) và tổn
thương dạng hang (OR = 4,5, 95% CI = 2,5 – 8,1, p < 0,0001).
Nghiên cứu ghi nhận tuổi trung bình
của nhóm lao phổi – ĐTĐ cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm lao phổi
không đái tháo đường. Độ
tuổi mắc bệnh thường gặp
nhất của nhóm có ĐTĐ là 51-60
tuổi trong khi nhóm bệnh nhân không ĐTĐ là
dưới 40 tuổi. Theo thống kê của WHO (2000),
ở những nước đang phát
triển, độ tuổi mắc đái tháo
đường nhiều nhất là 45-64 tuổi.
Đối với trường hợp lao
phổi phối hợp ĐTĐ, đa số các
nghiên cứu cũng ghi nhận nhóm bệnh nhân
này có tuổi mắc bệnh trung bình cao
hơn bệnh nhân lao phổi đơn thuần(1,2,12,14,15).
Trong đa số các trường hợp,
bệnh nhân mắc đái tháo
đường trước, sau đó xuất
hiện bệnh lao (64,9%). Điều này phù
hợp với cơ chế bệnh sinh là
tình trạng rối loạn miễn dịch trong
đái tháo đường là yếu
tố thuận lợi cho bệnh lao xuất hiện(4,6).
Tình huống thường gặp thứ hai
là lao phổi và đái tháo
đường phát hiện cùng lúc, hay
nói cách khác là lao phổi giúp phát
hiện đái tháo đường, bệnh
lý có thể đã diễn tiến âm thầm
một thời gian mà chưa được
chẩn đoán(2,8,10). Cũng theo WHO, có
đến 50% bệnh nhân đái tháo
đường típ 2 không được
chẩn đoán(14). Do vậy, tầm soát
bệnh lý đái tháo đường nên
được thực hiện ở bệnh
nhân lao phổi một cách thường quy, nhất
là những bệnh nhân ngoại trú.
Thời gian mắc đái tháo
đường trước lao thường
gặp nhất trong vòng 2-5 năm (53,06%). Đa
số các nghiên cứu cho kết quả
tương tự(10,12,14,15). Không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về tỉ lệ lao ngoài phổi ở hai
nhóm bệnh nhân. Cho đến hiện nay, tuy có
nhiều nghi ngờ đái tháo
đường làm tăng tần suất lao ngoài
phổi nhưng chưa có nghiên cứu nào
khẳng định điều này, chỉ có
nhiễm HIV được công nhận là yếu
tố làm gia tăng tần suất lao ngoài
phổi(3,11,15).
Lao tái phát không khác biệt giữa hai
nhóm. Chúng tôi cũng chưa kết luận
được đái tháo đường
làm tăng tỉ lệ lao kháng thuốc. Vấn
đề này còn đang tranh cãi và có
nhiều nghiên cứu đang chứng minh. J. Mboussa
ghi nhận lao tái phát ở bệnh nhân
đái tháo đường là 18,75%, không
đái tháo đường là 9%. Banerjee ghi
nhận không có sự khác biệt nhưng
có liên quan đến lao kháng thuốc(2).
Theo Bashar và Nissapatorn, lao tái phát và tình
trạng đa kháng thuốc trên bệnh nhân lao phổi
- ĐTĐ là vấn đề rất cần
được quan tâm, nên tiến hành cấy
đàm và làm kháng sinh đồ đa
kháng ở tất cả những bệnh nhân
lao phổi có đái tháo đường(3,11).
Về triệu chứng lâm sàng, thời
gian khởi bệnh không khác nhau giữa hai
nhóm. Tuy nhiên, có sự khác nhau có ý
nghĩa thống kê về tần suất các triệu
chứng ăn kém, sụt cân và ho ra máu.
Theo y văn, tỉ lệ ho ra máu ở bệnh nhân
lao phổi chỉ khoảng 6%. Nhiều tác giả
cũng ghi nhận ho ra máu là triệu chứng
thường gặp ở bệnh nhân lao
phổi - ĐTĐ, theo Nguyễn Minh Hải là 21,8%, theo
Zuber Ahmad là 28,6%(1).
Về tổn thương Xquang, chúng tôi ghi
nhận được ba điểm khác biệt
giữa hai nhóm nghiên cứu. Thứ
nhất, tổn thương phân bố lan tỏa ở
nhóm ĐTĐ nhiều hơn nhóm không ĐTĐ
có ý nghĩa thống kê (66,2% so với 58,4%, p=
0,01, phép kiểm chi bình phương). Morris và
cộng sự cũng ghi nhận tổn thương
lan tỏa nhiều thùy là biểu hiện chủ
yếu trên X-quang phổi của bệnh nhân lao
phổi-ĐTĐ(10). Như vậy, tuy
thời gian khởi bệnh của hai nhóm
gần như nhau, nhưng tổn thương trên X-quang
ở nhóm có ĐTĐ lại lan tỏa
nhiều hơn một cách có ý nghĩa
thống kê. Thứ hai, chúng tôi ghi nhận tỉ
lệ có tổn thương thùy dưới
là 65%, chỉ có tổn thương thùy
dưới đơn thuần là 12,3%, các
tỉ lệ này của nhóm không ĐTĐ lần
lượt là 43,5% và 5,9%. Nhiều nghiên
cứu đã ghi nhận đái tháo
đường là yếu tố làm tăng
tỉ lệ lao phổi thùy dưới, theo
Pérez-Guzman là 19%, theo Shaikh là 23,5%(1,5,9,12,14,15).
Thứ ba, tổn thương dạng hang (một hang
và đặc biệt là nhiều hang) ở
nhóm ĐTĐ là 54,3%, nhiều hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm không ĐTĐ
là 25,7% (p <0,0001, phép kiểm chi bình
phương). Tổn thương dạng hang trong dân
số lao phổi chung chỉ khoảng 10%. Các tác
giả Pérez-Guzman, Shaikh và cộng sự
cũng ghi nhận tổn thương hang chiếm tỉ
lệ cao hơn ở bệnh nhân có ĐTĐ,
đặc biệt là hang thùy dưới
phổi(12,14). Như vậy, tỉ lệ tổn
thương lan tỏa nhiều thùy, tổn thương
thùy dưới và tổn thương dạng
hang tăng cao là điểm khác biệt về
phương diện X-quang giữa hai nhóm bệnh
nhân có và không có ĐTĐ.
Trong 154 bệnh nhân lao phổi-ĐTĐ, soi
đàm tìm AFB dương tính ở 133
bệnh nhân (84,6%), và là 67,3% ở nhóm không
ĐTĐ (p < 0,0001). Theo Singla, 65,2% bệnh nhân lao
phổi-ĐTĐ tìm thấy AFB dày đặc
trên mẫu đàm xét nghiệm (so với
bệnh nhân không ĐTĐ là 54,1%, p= 0,008)(15).
Ông ghi nhận được đái tháo
đường là một yếu tố nguy cơ
độc lập đối với sự gia
tăng số bệnh nhân có mật độ AFB cao
trong mẫu đàm. Tỉ lệ AFB dương
tính cao có thể là kết quả của
tổn thương lan tỏa và tổn thương
hang chiếm tỉ lệ cao ở bệnh nhân lao
phổi mắc ĐTĐ. Do vậy, ở bệnh
nhân ĐTĐ nghi ngờ lao phổi, tích
cực xét nghiệm đàm tìm AFB có
thể giúp chẩn đoán xác định lao
phổi AFB dương tính.
Tình trạng kiểm soát đường
huyết được khảo sát trên 100 bệnh
nhân mắc ĐTĐ trước lao.
Đường huyết đói và HbA1C trung
bình của nhóm bệnh nhân này đều
rất cao, cho thấy tình trạng kiểm soát
đường huyết không tốt ở bệnh
nhân ĐTĐ típ 2 trong nghiên cứu. Theo một
nghiên cứu tiến hành trên 12 quốc gia châu
Á, việc kiểm soát đường
huyết của Việt Nam đạt tiêu chuẩn tốt
chỉ có 5-10% và nước ta đứng
đầu khu vực về biến chứng
mạch máu nhỏ của đái tháo
đường(16). Theo tác giả Tạ
Văn Bình điều tra tại TP. HCM, HbA1C trung
bình của bệnh nhân ĐTĐ típ 2 là 10,6%(16).
Chúng tôi tiến hành khảo sát mối
liên hệ giữa HbA1C và mức độ
tổn thương lan tỏa, tổn thương thùy
dưới và tổn thương dạng hang.
Kết quả cho thấy không có sự tương
quan giữa HbA1C và các dạng tổn
thương này, điều này có thể lí
giải là do đa số các bệnh nhân trong nghiên
cứu đều không kiểm soát
đường huyết tốt, HbA1C đều cao nên
không tìm thấy sự
khác biệt.
Qua phân tích hồi qui logistic giữa các
yếu tố đái tháo đường,
tuổi, giới, BMI, chúng tôi ghi nhận
được đái tháo đường
là yếu tố nguy cơ độc lập của
tổn thương thùy dưới. Theo Shaikh
và Singla, đái tháo đường là
yếu tố nguy cơ độc lập duy nhất
có ý nghĩa thống kê đối với
tổn thương thùy dưới sau khi tiến
hành phân tích hồi quy logistic(14,15).
Tương tự, Pérez-Guzman cũng thực
hiện hồi quy đa biến cho thấy bệnh lý
đái tháo đường, tình trạng
lớn tuổi, giảm tế bào lympho đều
có thể gây ra lao phổi thùy dưới,
nhưng đái tháo đường quan trọng
gấp đôi so với tình trạng lớn
tuổi và quan trọng gấp bốn lần so
với giảm tế bào lympho(12). Về
tổn thương dạng hang, Pérez-Guzman và Shaikh
cũng kết luận chỉ có đái tháo
đường là yếu tố nguy cơ
độc lập đối với tổn thương
hang trên Xquang sau khi thực hiện hồi quy đa
biến có hiệu chỉnh tuổi, giới và
dân tộc(12,14). Như vậy, nghiên cứu
của chúng tôi, và một số nghiên cứu
về lao phổi - ĐTĐ đều ghi nhận,
đái tháo đường làm thay
đổi hình ảnh X-quang của lao phổi, làm
tăng tỉ lệ lao phổi thùy dưới
và tổn thương dạng hang.
Đái tháo đường làm thay
đổi những biểu hiện lâm sàng và
Xquang của lao phổi. Về lâm sàng, sụt cân
và ho ra máu là hai triệu chứng thường
gặp hơn ở bệnh nhân lao
phổi-ĐTĐ. Đa số bệnh nhân mắc
đái tháo đường trong khoảng 2-5
năm mới xuất hiện
lao phổi. Chưa tìm thấy sự khác
biệt về tỉ lệ lao tái phát và lao
kháng thuốc giữa hai nhóm. Lao phổi AFB
dương thường gặp hơn ở
nhóm ĐTĐ. Đa số bệnh nhân không kiểm
soát đường huyết tốt. Về
phương diện Xquang phổi, tổn thương lan
tỏa, tổn thương thùy dưới và
tổn thương dạng hang chiếm tỉ lệ cao
hơn một cách có ý nghĩa thống kê
ở nhóm lao phổi - ĐTĐ. Qua phân tích
hồi quy logistic, đái tháo đường
là yếu tố nguy cơ độc lập
đối với tổn thương thùy
dưới và tổn thương dạng hang.
5.
Deshmukh P.A, Shaw T. (1984), “Pulmonary
tuberculosis and diabetes mellitus”,
7. Kim S.J., Hong Y.P., Lew W.J., Yang S.C., Lee E.G. (1995), “Incidence of pulmonary tuberculosis among diabetes”, Tuber. Lung. Dis, 76, pp. 529-533.
13. Rathmann W., Giani G. (2004), “Global prevalence of diabetes, Estimates for the year 2000 and projections for 2030”, Diabetes Care, 27(5), pp. 1047-1053.
16. Tạ Văn Bình (2001), “Tình hình chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam và một số quốc gia châu Á”, Tạp Chí Y Học Thực Hành, số 11 (405), tr. 31-35.
*
Bộ môn Lao và bệnh Phổi, khoa Y - Đại học Y
Dược Tp. Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: BS. Trần Thị
Dạ Thảo ĐT:
0989036832 Email:
drdathao@gmail.com