Nguyễn Tân Cương*, Vũ Hồng Thịnh*,
Từ Thành Trí Dũng*, Nguyễn Hoàng
Đức*,
Trần Lê Linh Phương*
Mục
tiêu: đánh giá kết quả điều trị sỏi
niệu quản bằng nội soi niệu quản ngược
ḍng với máy tán sỏi siêu âm.
Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: tiền cứu 131 bệnh nhân (57 nam và 74 nữ) có sỏi
niệu quản được điều trị tại bệnh viện
Đại học Y Dược từ tháng 10 năm 2008 đến
tháng 10 năm 2009. Tất cả BN được nội soi niệu quản
ngược ḍng bằng máy soi cứng Olympus 10.5Fr và tán sỏi
siêu âm với
Kết quả: Có 131 BN có sỏi niệu quản được xếp
vào hai nhóm: nhóm 1 (sỏi niệu quản chậu) gồm 107
trường hợp và nhóm 2 (sỏi niệu quản lưng) có 24 trường
hợp. Tỉ lệ sạch sỏi trong nhóm 1 và 2 lần
lượt là 97,2% và 83,33%. Thời gian mổ và thời gian
nằm viện trung b́nh trong nhóm 1 là 53,7 phút và 25,7 giờ.
Trong khi đó, các chỉ số này ở nhóm 2 là 56,3 phút và 26,3 giờ.
Kết luận: nội soi ngược ḍng tán sỏi với dụng
cụ tán siêu âm là chọn lựa điều trị hiệu
quả và an toàn đối với sỏi niệu quản.
Từ khóa: sỏi niệu
quản, nội soi niệu quản ngược
ḍng. tán sỏi niệu quản.
RIGID URETEROSCOPE WITH ULTRASONIC LITHOTRIPSY FOR URETERAL STONES
Nguyen Tan Cuong, Vu Hong Thinh, Tu Thanh Tri Dung, Nguyen Hoang Duc, Tran Le Linh Phuong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 – Suppl ement of No 1 – 2010: 108 – 111
Purpose: To review the
result of retrograde ureteroscopy with ultrasonic lithotripsy in the management
of ureteral stones.
Materials and methods: Rigid ureteroscopic lithotripsy with ultrasonic
Results: 131 patients
with ureteral stone were divided into 2 group: lower ureteral stone (group 1:
107 cases) and upper ureteral stone (group 2: 24 cases). All of patients were
managed by retrograde ureteroscopy with ultrasonic lithotripsy. The stone-free
rate was 97.2% in group 1 and 83.33% in group 2. Mean operating time and mean
length of post-op stay was 53.7 minutes and 25.7 hours respectively in group 1.
These figures were 56.3 minutes and 26.3
hours in group 2.
Conclusion: Ultrasonic
lithotripsy with
Keywords: ureteral stones, retrograde
ureteroscopy, ultrasonic lithotripsy.

Hiện nay, có nhiều phương pháp điều
trị hiệu quả sỏi niệu quản. Theo khuyến
cáo của hội Niệu khoa của Mỹ và Châu Âu, tán sỏi
ngoài cơ thể là
phương tiện
được ưu tiên
lựa chọn hàng đầu trong điều trị sỏi niệu
quản không biến chứng. ESWL ít gây sang chấn, có thể
xuất viện trong ngày. Theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ
sạch sỏi đạt được trên 80%(6).
Trước đây, tán sỏi nội soi ngược ḍng được chỉ định cho những trường hợp sỏi niệu quản đoạn chậu và không được khuyến cáo cho những sỏi niệu quản đoạn cao do phẫu thuật viên khó tiếp cận được sỏi. Gần đây, nhờ những tiến bộ kỹ thuật với ống soi nhỏ và những phương tiện phá sỏi hiệu quả nhưng ít gây tổn thương thành niệu quản như siêu âm và laser, nội soi niệu quản tán sỏi được chỉ định rộng răi hơn.
Máy tán sỏi siêu âm là một trong những phương tiện hiệu quả trong điều trị sỏi niệu quản qua đường nội soi ngược ḍng. Tuy nhiên, dụng cụ tán sỏi niệu quản bằng siêu âm đang bị lăng quên do sự xuất hiện cuả các phương tiện kỹ thuật mới(9). Laser là một trong số những phát minh đang được ứng dụng nhiều trong điều trị sỏi niệu. Tuy có nhiều ưu điểm nhưng hiệu quả điều trị không có nhiều khác biệt và chi phí cao. Nghiên cứu này ứng dụng máy tán sỏi siêu âm thế hệ mới LUS-2, đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản tại Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. HCM.
Từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 10 năm 2009, 131 bệnh nhân sỏi niệu quản đă được tán sỏi nội soi ngược ḍng bằng siêu âm tại Bệnh viện Đại học Y Dược.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: (1) sỏi niệu quản được chẩn đoán dựa trên siêu âm, KUB và UIV. (2) sỏi không di chuyển sau 2 tuần điều trị nội khoa.
Tiêu chuẩn loại trừ: những bệnh nhân nhiễm trùng niệu đang diễn tiến, rối loạn đông máu, có bất thường bẩm sinh của niệu quản hoặc đă mổ cắm lại niệu quản.
Tất cả bệnh nhân
được dùng kháng sinh dụ pḥng (cephalosperin thế hệ
2 hoặc 3) trước phẫu thuật 60 phút. Niệu quản
được soi bằng ống soi cứng
Bệnh nhân tái khám sau 2-4 tuần và theo dơi mỗi
3 tháng trong ṿng 6 tháng.
Có 131 bệnh nhân sỏi niệu quản được nội soi tán sỏi ngược ḍng bằng máy siêu âm. Số bệnh nhân này được xếp vào hai nhóm
- Nhóm 1: sỏi niệu quản chậu (từ L5 trở xuống) gồm có 107 BN, 43 nam và 64 nữ, độ tuổi trung b́nh là 46 ± 13,6 (thay đổi từ 19 đến 80).
- Nhóm 2: sỏi niệu quản lưng (khúc nối – L5) gồm có 24 BN, 14 nam và 10 nữ, độ tuổi trung b́nh 53 ± 15 (thay đổi từ 31 đến 79).
Bảng 1: Đặc điểm của sỏi.
|
Đặc điểm |
Sỏi NQ chậu |
Sỏi NQ lưng |
|
|
Số lượng BN |
107 |
24 |
|
|
Thận ứ nước |
Độ 1 |
33% |
37,5% |
|
Độ 2 |
55% |
37,5% |
|
|
Độ 3 |
12% |
25% |
|
|
Vị trí sỏi |
P |
49 |
8 |
|
T |
58 |
16 |
|
|
Kích thước sỏi |
10 ± 3,2 (5 - 21) |
10,2 ± 3 (6 - 15) |
|
|
Niệu mạc |
Viêm, phù nề |
79 |
17 |
|
Khảm, polyp |
28 |
7 |
|
Bảng 2: Đặc điểm
của phẫu thuật.
|
Đặc điểm |
Sỏi
niệu quản chậu |
Sỏi
niệu quản lưng |
||
|
Số lượng BN |
107 |
24 |
||
|
TG mổ |
53,7 ± 14,1 (15 -100) |
56,3 ± 12,9 (35 - 85) |
||
|
Đặt DJ |
Có |
97 |
24 |
|
|
Không |
10 |
0 |
||
|
Sạch sỏi |
Sạch sỏi |
104 |
20 |
|
|
Sót sỏi > 5mm |
2 |
2 |
||
|
Sỏi chạy lên thận |
1 |
2 |
||
|
TG nằm viện |
25,7±6,8 (24–48) |
26,3±6,7 (24–48) |
||
|
Biến chứng |
Rách niêm mạc |
5 |
2 |
|
|
Thủng NQ |
2 |
1 |
||
|
Viêm đài bể thận cấp |
3 |
1 |
||
Mulvancy ứng dụng năng lượng siêu âm để tán sỏi niệu quản lần đầu tiên vào năm 1953(9). Sóng âm thanh tần số cao (23000 – 25000 Hz) được tạo ra bởi năng lượng điện biến đổi trên lơi thủy tinh piezoceramic nằm bên trong tay cầm của dụng cụ siêu âm. Năng lượng siêu âm tạo thành những xung động của que tán kim loại và được truyền đến sỏi. Dụng cụ tán sỏi siêu âm LUS-2 là hệ thống kết hợp 2 chức năng: phá sỏi bằng năng lượng siêu âm và hút rữa dịch, mảnh sỏi vụn qua lổ rỗng trong ḷng của que tán. Nước lưu thông bên trong có tác dụng làm giảm nhiệt que tán và do đó không làm tổn thương thành niệu quản. Để có thể làm vỡ sỏi, que tán phải tiếp xúc trực tiếp với sỏi. Do đó, sỏi phải được giữ cố định tại một vị trí bằng cách dùng rọ bắt sỏi hoặc t́ sỏi vào thành niệu quản trong lúc tán. Với sỏi niệu quản khảm, sỏi ít di động do bám dính vào niêm mạc, tán sỏi siêu âm có thể gặp thuận lợi, sỏi vỡ nhanh và ít gây tổn thương niệu mạc.
Ngoài biện pháp tán sỏi ngoài cơ thể, được đánh giá là an toàn và ít xâm lấn để điều trị sỏi niệu quản chậu. Tán sỏi nội soi ngược ḍng là một lựa chọn thay thế do hiệu quả cao và biến chứng ít. Tỉ lệ tán sỏi thành công thay đổi từ 66% - 100% tùy theo tác giả và dụng cụ được sử dụng để tán sỏi(7). Theo nghiên cứu của Chausy C (1987) tán sỏi niệu quản bằng siêu âm và Vũ Hồng Thịnh (2005) tán sỏi niệu quản dưới với dụng cụ xung hơi có tỉ lệ thành công trên 96%(1,11). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tán sỏi với dụng cụ tán siêu âm, cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ sạch sỏi là 97,2%. Chúng tôi chưa thể kết luận liệu dụng cụ siêu âm có tốt hơn xung hơi không. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa các dụng cụ tán sỏi của các tác giả nước ngoài cho thấy tán sỏi siêu âm tốt hơn tán sỏi xung hơi và thủy điện lực v́ tỉ lệ sạch sỏi cao và biến chứng thấp(10).
Đối với sỏi niệu quản lưng, tán sỏi niệu quản gặp khó khăn hơn. Sỏi thường khó tiếp cận và nguy cơ thất bại do sỏi di chuyển lên thận. Theo Nguyễn Hoàng Đức (2008), tỉ lệ thất bại khoảng 24%(5). Trong loạt nghiên cứu này, chúng tôi có 2 trường hợp thất bại do không tiếp cận dược sỏi. Trong đó, có 1 trường hợp do hẹp niệu quản dưới sỏi và trường hợp c̣n lại là do niệu quản dưới sỏi gập góc nhiều, sỏi khảm không thể đưa dây dẫn qua để gióng thẳng niệu quản. Hai trường hợp thất bại khác do sỏi di chuyển lên thận trong lúc tán sỏi. Do nguy cơ sỏi di chuyển lên thận với máy soi cứng, tán sỏi niệu quản đoạn trên bằng laser vơí máy soi mềm được sử dụng ngày càng nhiều. Máy soi mềm làm tăng khả năng tiếp cận được sỏi ngay cả khi sỏi di chuyển lên thận. Ngoài ra, máy soi mềm giúp tán được sỏi thận trong trường hợp vừa có sỏi thận vừa có sỏi niệu quản. Tuy nhiên, tán sỏi laser với máy soi mềm có chi phí cao, chưa phù hơp với điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay. Tán sỏi niệu quản bằng laser với máy soi cứng là một chọn lựa hiệu quả và khả thi do có nhiều ưu điểm. Với dụng cụ laser, có thể sử dụng máy soi nhỏ để nội soi niệu quản và trong quá tŕnh tán sỏi, sỏi ít bị di chuyển. Ngoài ra năng lượng laser c̣n có khả năng cầm máu và đốt những polyp bám quanh sỏi. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, năng lượng siêu âm làm sỏi vỡ nhanh và ít gây tổn thương thành niệu quản hơn so với dụng cụ tán sỏi laser. Hầu hết các trường hợp tiếp cận được sỏi, chúng tôi đều tán sỏi thành công. Hai trường hợp sỏi di chuyển lên thận v́ sỏi cứng và kích thước quá to không thể bắt bằng rọ để tán sỏi. Ngoài ra, có hai trường hợp chúng tôi tiếp cận được sỏi và tán vỡ sỏi nhưng một số mảnh sỏi lớn (>5 mm) có khuynh hướng di chuyển lên trên không bắt kịp bằng rọ. Tỉ lệ sạch sỏi trong nghiên cứu này là 83,33% không khác biệt nhiều so với các tác giả khác. Tỉ lệ tán sỏi thành công từ 83%-87% ngay cả sử dụng với dụng cụ tán sỏi laser(5,8,12).
Bảng 3: Kết quả
tán sỏi niệu quản đoạn lưng.
|
Tác giả |
N |
Vị trí sỏi |
Dụng cụ tán sỏi |
Tỉ lệ sạch
sỏi |
|
Nguyễn Hoàng Đức
và cs |
97 |
SNQ lưng |
Laser |
83,7% |
|
Trần Văn Hinh và cs |
34 |
SNQ lưng |
Electrokinetic |
85,29% |
|
Vũ Lê Chuyên và cs |
49 |
SNQ lưng |
Xung hơi |
85,71% |
Trong quá
tŕnh tán sỏi, nhiều trường hợp có tổn
thương thành niệu quản với nhiều mức
độ khác nhau. Tổn thương nhẹ như rách niêm
mạc nông, bỏng niêm mạc do nhiệt. Thủng niệu
quản là rách toàn bộ thành niệu quản thường
do lạc đường hoặc do t́ quá mạnh vào sỏi
trong khi tán. Các trường hợp có sỏi khảm và có tổn
thương niệu quản thường phải đặt
thông niệu quản lưu. Đặt thông niệu quản
thường quy cho tất cả các trường hợp vẫn
c̣n có nhiều ư kiến chưa thống nhất. Theo các
nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, không có sự
khác biệt về hiệu quả của nhóm có đặt
thông và không đặt thông niệu quản(4). Tuy nhiên, đặt thông
double J niệu quản có thể rút ngắn thời gian nằm
viện. Nguyễn Hoàng Đức đặt DJ cho tất cả
các bệnh nhân tán sỏi niệu quản bằng laser, 98,6%
có thể xuất viện trong 24 giờ đầu sau mổ(5). Trong khi đó, nếu chỉ
đặt DJ hoặc thông niệu quản trong một số
các trường hợp chọn lọc có thời gian nằm
viện trung b́nh từ 2-3 ngày(2,8,12). Chúng tôi đặt DJ
thường quy các trường hợp sỏi niệu quản
lưng và hầu hết các trường hợp sỏi niệu
quản chậu (90,65%). Thời gian nằm viện trung b́nh
là 25,7 giờ trong nhóm sỏi niệu quản chậu và 26,3
giờ đối với nhóm sỏi niệu quản
lưng. Đa số bệnh
nhân được xuất viện trong 24 giờ sau phẫu thuật.
Nhờ những
tiến bộ kỹ thuật về ống soi và các dụng
cụ tán sỏi, tán sỏi nội soi ngược ḍng có những
bước tiến quan trọng và ngày càng được
chỉ định rộng răi để điều trị sỏi niệu quản. Qua
nghiên cứu 131 bệnh nhân, tỉ lệ tán sỏi thành
công cao (83% - 97% tùy theo vị trí sỏi niệu quản), tỉ
lệ biến chứng thấp và thời gian nằm viện
ngắn. Thời gian nằm viện trung b́nh khoảng 25 -
27 giờ. Chúng tôi nhận thấy tán sỏi niệu quản
nội soi ngược ḍng với dụng cụ tán siêu âm
là phương
pháp điều trị hiệu
quả và an toàn. Đặt DJ thường quy trong khi tán sỏi
rút ngắn thời gian nằm viện, bệnh nhân có thể
xuất viện sớm trong ngày.
1.
Chaussy C, Fuchs G, Kahn R, Hunter P, Goodfriend R (1987). Transurethral
ultrasonic ureterolithotripsy using a solid-wire probe. Urology, 29(5): 531-2.
2.
Dương Văn Trung, Lê Ngọc
Từ, Nguyễn Bửu Triều (2004). Kết quả tán sỏi
niệu quản nội soi ngược ḍng cho 1519 bệnh
nhân tại bệnh viện Bưu Điện Hà Nội.
Tạp chí Y học Thực Hành, tr. 601 - 604.
3.
Kurahashi,
Toshifumi, Miyake, Hideaki (2007).
Clinical outcome of ureteroscopic lithotripsy for 2,129 patients with ureteral
stones. Urological Research. June, 35(3): 149-153(5).
4.
Nabi G, Cook
J, N'Dow J, McClinton S (2007). Outcomes
of stenting after uncomplicated ureteroscopy: systematic review and
meta-analysis. BMJ. Mar 17;334(7593):572. Epub 2007 Feb 20. Review.
5.
Nguyễn
Hoàng Đức, Trần Lê Linh Phương (2008). Rút ngắn
thời gian nằm viện sau nội soi tán sỏi niệu
quản đoạn trên. Y Học Tp. Hồ Chí Minh,
tập 12, phụ bản số 4, tr. 197-200.
6.
Segura JW,
Preminger GM, Assimos DG, Dretler SP,
8.
Trần
Văn Hinh, Nguyễn Phú Việt, Đỗ Ngọc
Thể (2008). Kết quả bước đầu điều trị
sỏi niệu quản đoạn gần bằng tán sỏi nội
soi ngược ḍng trên máy Electrokinetic Lithotriptor. Y Học Tp.
Hồ Chí Minh, tập 12, phụ bản số 4, tr. 103-106.
10.
Vicente J, Caparrós J, Salvador J, Parra L, Rios
G (1991). Electrohydraulic and
ultrasonic lithotripsy in 100 consecutive cases of primary ureteral stones. Urol Int, 47(1): 16-9.
11.
Vũ Hồng Thịnh
và cs (2005). Tán sỏi niệu quản dưới qua nội
soi tại bệnh viện Đại học Y Dược
Tp. Hồ Chí Minh. Y Học Tp. Hồ Chí Minh, tập 9, phụ
bản số 1, tr. 111-114.
12.
Vũ Lê
Chuyên và cs (2006). Nội soi niệu ngược ḍng tán sỏi
bằng xung hơi sỏi niệu quản lưng. Tạp
chí Y học Việt