Lê Quang Đ́nh*, Nguyễn Hoài
Đặt vấn đề: tăng tiết mồ hôi tay và nách là bệnh
hay gặp ở người trẻ, gây nhiều phiền
toái trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong giao tiếp.
Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt
hạch thần kinh giao cảm là phương pháp điều trị hiệu quả
cao và dễ thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu : Đánh giá khả năng phẫu thuật áp dụng gây mê với
nội khí quản 1 ṇng.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu. Trong thời gian từ 08/2009 đến
11/2009
Kết quả: có 59 trường
hợp tăng tiết mồ hôi tay, nách được phẫu thuật,
nam/nữ 0,90. Tuổi trung b́nh 24 ± 3,6; tỷ
lệ khô 2 tay là 98%.Có 3 trường hợp phải gỡ
dính phổi được đặt dẫn lưu màng phổi dự
pḥng, 1 trường hợp (2%) phải phẫu thuật lần
2 do 1 tay c̣n ướt sau mổ. Không có biến
chứng nào được ghi nhận.
Kết luận: Với gây mê nội
khí quản 1 ṇng, phẫu thuật nội soi cắt hạch
giao cảm ngực 2 hoặc 2,3 trong điều trị
tăng tiết mồ hôi tay cho hiệu quả cao, ít tai biến
và biến chứng. Tuy nhiên, nên xem xét đặt
nội khí quản 2 ṇng trong trường hợp cần cắt
thêm hạch giao cảm ngực 4 trong điều trị tăng tiết mồ hôi nách hoặc bệnh nhân có
nguy cơ dính phổi
cao.
Từ khóa : Tăng tiết mồ hôi tay, gây mê với nội khí quản 1 ṇng
THE RESULTS OF
THORACOSOPIC SYMPATHECTOMY,ANAESTHETIZED WITH A
SINGLE-LUMEN ENDOTRACHEAL TUBE IN TREATMENT HYPERHIDROSIS
Le Quang Dinh, Nguyen Hoai Nam
* Y Hoc TP. Ho
Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 135 - 138
Introduction: Hyperhidrosis is
frenquently present in young patients, causing a lot of problems in life,
especially in social communication. Thoracoscopic sympathectomy is the highly
effective treament.
The target researching: Assessing capacity of Thoracoscopic sympathectomy in patients
anaesthetized with single-lumen Endotracheal tube.
Methods: Prospective
cohort. At
Results: A series of 59
Hyperhidrosis patients were performed thoracoscopic sympathectomy. Gender index
was 0.90 male over female, with mean age 24 ± 3.6. Dried proportion in both
hands obtained 98% about the number of the surgical patients. Three patients
(5%) had a chest tube placed because of extensive lysis
of adhesion . No patient had a postoperative complication.

Conclusion: Thoracoscopic
sympathectomy in treatment Hyperhidrosis is highly effective, less complication
when general anesthesia is initiated with a single-lumen
endotracheal tube. However, the patient would have a double-lumen
endotracheal tube in case of complete removal of the sympathetic chain from T2
to T4 or the risk of lung adhession.
Keywords : Hyperhydrosis, single-lumen endotracheal tube
Tăng tiết
mồ hôi quá mức xuất hiện ở mặt, ḷng bàn tay, bàn chân, nách, lưng… do t́nh trạng cường giao cảm gây
ra, chiếm khoảng 1% dân số. Tăng tiết mồ hôi tay, nách
được coi là một bệnh không nguy hiểm đến
tính mạnh nhưng lại
gây nhiều phiền toái đối với
người bệnh trong lao động, sinh hoạt và giao
tiếp xă hội. Bệnh có thể để
lại những hậu quả đáng kể về mặt tâm lư. Chính v́ vậy, nhu cầu điều trị bệnh trở nên cấp thiết
đối với đa số
bệnh nhân.
Những
năm gần đây, phẫu thuật
nội soi là phương pháp điều trị được áp dụng rộng
răi v́ tính ưu việt
: an toàn, đơn giản, hiệu quả và thẩm mỹ.
Phương
pháp này đă thay thế hoàn
toàn cho phương pháp mở ngực kinh
điển, các thủ thuật triệt hạch
bằng tiêm cồn hay nước sôi qua thành ngực hay liệu
pháp điện ion hóa, botox, laser… trong điều trị bệnh tăng tiết mồ hôi.
Tại Việt
Nam, nhiều nghiên cứu báo cáo về cắt hạch thần
kinh giao cảm ngực qua nội soi trong điều trị tăng tiết mồ
hôi tay với tỷ lệ thành công rất cao, đơn giản và ít biến chứng.
Nhằm
phát triển và cải tiến quy tŕnh điều trị, chúng tôi thực hiện nghiên
cứu đánh
giá khả năng của phẫu thuật này áp dụng gây mê với
nội khí quản 1 ṇng trong điều trị
tăng tiết mồ hôi tay, nách.
Tiền cứu
Tất cả
bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay và nách được phẫu thuật tại
Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM trong thời
gian từ tháng 08/2009 đến tháng 11/2009.
Bệnh nhân
được mổ cắt hạch thần kinh giao cảm
ngực qua ngă nội soi lồng ngực với tư thế Semi – Fowler. Bệnh nhân được
gây mê với nội khí quản 1 ṇng, thở máy với áp lực
thấp từ 7 – 10ml/kg.
Vào ngực bằng trocar 5mm liên sườn 4 đường
nách trước - giữa, đưa camera vào quan sát. Sau đó
thêm một trocar liên
sườn 3 đường nách giữa để
đưa dụng
cụ vào thao tác. Một số trường hợp phổi
dính, sẽ thêm một trocar 5mm ở vị trí liên sườn
3 đường nách trước và qua trocar này đưa thêm dụng cụ vào
cho tiện thao tác để gỡ dính, vén phổi.
Đánh giá khả năng quan sát thấy được các hạch thần
kinh giao cảm từ T2 đến T4.
Cắt đốt hạch thần kinh giao cảm T2 hoặc
T2,3 đối với tăng tiết mồ hôi tay đơn thuần, hạch T3,4 đối
với tăng
tiết mồ hôi nách đơn thuần; T2,3,4 đối với tăng tiết mồ hôi tay và nách
được đốt, hủy bằng điện. Các lỗ
trocar được đóng
lại sau khi đă đuổi khí nhờ một
ống thở Oxy. Không dẫn lưu màng phổi trừ một
vài trường hợp đặc biệt.
Tất cả bệnh nhân được theo dơi sau mổ tới khi xuất viện.
Trong thời
gian từ 08-2009 đến 11-2009 có 59 bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay, nách được phẫu thuật tại
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM. Trong
đó có 47
trường hợp tăng tiết mồ hôi tay
đơn thuần,
2 trường hợp tăng tiết mồ hôi nách đơn thuần và 10 trường hợp
tăng tiết
mồ hôi tay và nách.
Trung b́nh 24 ± 3,6
(14 – 51)
|
|
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
|
Dưới 16 tuổi |
4 |
7% |
|
Từ 16-25 tuổi |
38 |
64% |
|
Từ 26 đến 35
tuổi |
9 |
15% |
|
Trên 35 tuổi |
8 |
14% |
|
Tổng số |
59 |
100% |
Nam/Nữ: 28/31 (0,90)
Sinh viên, học sinh : 38 (64%)
Nghề văn pḥng :
13 (22%)
Khác : 8 (14%)
|
|
Mồ hôi tay |
Mồ hôi tay + nách |
Tổng cộng |
|
Chỉ hạch T2 |
2 |
1 |
3 |
|
Hạch T2,3 |
38 |
7 |
45 |
|
Hạch T2,3,4 |
7 |
3 |
10 |
|
Không xác định |
0 |
1 |
1 |
|
Tổng cộng |
47 |
12 |
59 |
Chúng tôi không gặp trường
hợp nào ra mồ hôi tay như cũ.
Có 1 trường hợp chỉ
khô một bên tay, bên c̣n lại vẫn ra
nhiều mồ hôi. Bệnh nhân được
mổ lại thành công sau đó.
Tỷ lệ khô tay kỳ đầu là 58/59 (98%)
Chúng tôi không gặp tai biến nào.
Có 3 trường hợp phải
gỡ dính phổi, được đặt dẫn lưu màng phổi dự pḥng và rút ống an
toàn trong ngày hậu phẫu thứ 1.
Có 1 trường hợp tràn khí màng phổi lượng ít, diễn tiến ổn định, không cần can thiệp.
Nghiên cứu chúng tôi tương tự nhiều nghiên cứu của các tác giả
khác về độ tuổi, và giới tính.
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ khô tay cao, 98%. Đặc biệt, nhóm bệnh
nhân tăng tiết
mồ hôi tay đơn thuần được điều trị thành công 100% do
khả năng phân định dễ dàng hạch thần kinh giao cảm
ngực T2 và T3(2,3).
Riêng nhóm tăng tiết mồ hôi tay và nách hoặc tăng tiết mồ hôi nách đơn thuần, khả năng phân định hạch
thần kinh T4 khó khăn. Chỉ thực
hiện cắt đốt T4 trong số 3/12 trường hợp
(25%). Chúng tôi cố gắng cắt đốt
được hạch T2,3 những trường hợp c̣n lại.
Theo dơi sau mổ chúng tôi ghi nhận tay và
nách đều giảm tiết mồ hôi 11/12 trường
hợp.
Duy nhất 1 trường hợp tăng tiết mồ hôi tay và nách không phân định được hạch thần kinh giao cảm ngực gặp ở bệnh nhân 46 tuổi, thể trạng mập, tụ mỡ nhiều vùng cạnh cột sống ngực 2 bên. Chúng tôi cắt đốt hạch T2,3 dựa vào vị trí giải phẫu. Trường hợp này một bên tay vẫn c̣n ướt sau mổ, có thể xem như thất bại. Bệnh nhân được mổ lại thành công sau đó 1 tháng với gây mê nội phế quản 2 ṇng.
Chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp dính phổi đều có thói quen hút thuốc lá. Trong đó, 1 trường hợp vừa tăng tiết mồ hôi tay và nách chỉ cắt đốt được hạch T2.
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá
khả năng của phẫu thuật nội
soi cắt hạch giao cảm ngực áp dụng gây mê nội
khí quản 1 ṇng, do đó chỉ phân tích lợi điểm và bất lợi của
kỹ thuật này.
Hạch thần kinh giao cảm ngực T2,3 nằm ở vị trí cao của lồng ngực, do đó, chỉ cần có sự thông thương giữa xoang màng phổi và khí trời sau khi đặt trocar đầu tiên, kèm với việc cho phổi thông khí áp lực vừa phải, phổi sẽ co lại. Việc phân định hạch thần kinh T2,3 sẽ dễ dàng sau khi vén phổi với dụng cụ qua trocar thứ 2.
Kỹ thuật gây mê đặt
nội khí quản 1 ṇng đơn giản và dễ dàng hơn so với đặt nội khí
quản 2 ṇng.
Với gây mê đặt nội khí quản 1 ṇng, thời
gian chuẩn bị được rút ngắn, giảm những
sang chấn đường thở, không cần thay lại
sonde 2 ṇng thành nội khí quản sau mổ, giúp giảm bớt
chi phí. Kỹ thuật này thực hiện
được dễ dàng ở nhiều bệnh viện
ngoại khoa chưa điều kiện thuận lợi
áp dụng gây mê với nội khí quản 2 ṇng.
Từ năm 2002 đến năm 2005, tác giả Daniel L và cs(1) cũng đă thực hiện thành công 205 ca cắt hạch thần kinh giao cảm ngực nội soi với gây mê nội khí quản 1 ṇng. Tác giả này cũng cho biết điều kiện bất lợi về nội khí quản 2 ṇng tại cơ sở y tế là lư do ông nghiên cứu đơn giản hóa kỹ thuật gây mê.
Về
khó khăn,
Như đă nêu ở trên, phẫu thuật nội
soi cắt hạch giao cảm ngực áp dụng gây mê nội
khí quản thường gặp nhiều khó khăn trong
việc phân định
hạch T4, trường hợp phải gỡ dính phổi
(bệnh nhân có tiền sử bệnh lư phổi, hút thuốc
lá).
Chúng tôi nhận thấy nhóm tuổi trên 35 và thể trạng
mập cũng là yếu tố tiên lượng khó khăn khi
phẫu thuật.
Quy tŕnh phẫu thuật
đ̣i hỏi sự phối hợp hài ḥa giữa
bác sĩ phẫu thuật khi thao tác với bác sĩ gây mê trong việc cho thông khí áp lực thấp mà vẫn
đảm bảo độ bảo ḥa oxy an
toàn cho bệnh nhân.
Trong trường hợp chảy máu, phẫu thuật sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với kinh nghiệm hơn 5 năm thực hiện phẫu thuật này tại BV.ĐHYD, chúng tôi chưa gặp biến chứng chảy máu trầm trọng nào cần phải mở ngực để cầm máu(2,4). Tương tự nhiều báo cáo của các tác giả nước ngoài.
Phẫu thuật nội
soi cắt hạch giao cảm ngực T2 hoặc T2,3 trong điều trị bệnh
tăng tiết mồ hôi tay có thể thực hiện
dễ dàng và an toàn với gây mê nội khí quản 1 ṇng. Trường hợp cần cắt thêm hạch
giao cảm T4 hoặc bệnh nhân có yếu tố nghi ngờ
dính phổi, nên xem xét đặt nội khí quản 2 ṇng
để quá tŕnh phẫu thuật được thuận
lợi.
2.
Lê Phi Long
“nghiên cứu giảm mồ hôi bù trừ sau mổ cắt hạch
giao cảm điều trị tăng tiết mồ
hôi tay”. Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh. Vol 1 Phụ bản
1 2007.
3.
Moya J, Ramos R, Morera R. Results of
high bilateral endoscopic thoracic sympathectomy and sympatholysis in the
treatment of primary hyperhidrosis: a study of 1016 procedures. Arch
Bronconeumol 2006 May;42(5): 230
4.
Nguyễn
Hoài
5.
Yano M, Kiriyama M, Fukai I . Endoscopic
thoracic sympathectomy for palmar hyperhidrosis: efficacy of T2 and T3 ganglion
resection. Surgery.
2005 Jul;138(1):40-5.