Văn Hùng Dũng*, Trương Nguyễn Hoài Linh*, Phan kim Phương*, Nguyễn văn Phan*
Phẫu thuật bắc cầu nối
chủ-vành là một phương thức điều trị
triệt căn được chọn lựa cho bệnh hẹp
mạch vành nhằm làm giảm tần suất đau thắt
ngực cũng như nhồi máu cơ tim
hay đột tử.
BN & PP NC: hồi cứu trên 680 trường hợp mổ bắc
cầu chủ-vành đơn thuần hoặc có kèm phẫu
thuật van tim từ tháng 9 năm 2001 đến tháng 5
năm 2008 tại Viện Tim thành phố HCM.
Kết quả: BN là nam giới chiếm 68,6% (398),
tuổi trung b́nh là 61,6 ± 8,7 năm ( từ 31 đến 83 tuổi). Tiền sử có nhồi máu cơ
tim 31,4%; cao huyết áp mạn 81,6%; tiểu
đường 27,2%; rối loạn chuyển hóa lipid 43,3%;
hút thuốc lá 24%. Nong can thiệp
mạch vành trước mổ: 6%.
Đau ngực không ổn định trước mổ
chiếm 40,7%.
NYHA III & IV: 7,6% Bệnh van tim kèm
theo (15,9%) bao gồm: hở van hai lá 68; hẹp hở van hai
lá: 12; bệnh van động mạch chủ: 13; bệnh
đa van tim kết hợp: 15 trường hợp. Tổn thương mạch vành dạng
một thân: 4,3%; hai thân: 19,7% và ba thân
chính: 76%. Tổn thương thân chung chiếm 47,1% trường hợp. Mổ cấp cứu và bán khẩn
chiếm 4,3% (30). Số cầu nối TB
cho mỗi BN là 3,12. Mổ bắc cầu
không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể có 22 trường hợp
( 3,25%). Trong nhóm can thiệp trên van hai lá,
tạo h́nh van chiếm 77%; thay van hai lá 23%. Tử vong phẫu thuật toàn bộ:
18 (2,6%) 8 do suy tim không hồi phục sau mổ, 4 do NMCT hậu
phẫu, 3 nhiễm trùng huyết, 2 do xuất huyết năo và
1 do suy đa cơ quan. Biến chứng hậu phẫu chủ
yếu là suy tim nặng: 35; nhồi máu
cơ tim: 5; tai biến mạch máu năo: 9 và nhiễm trùng: 20
trường hợp. Thời gian thở máy TB: 23,8 ± 56,2 giờ và thời gian nằm hồi sức
TB: 3,4 ± 4,9 ngày. Thời gian nằm
viện TB là 17,1 ± 8,5 ngày.
Thời gian theo dơi sau mổ trung b́nh: 34,7
± 20,2 tháng ( 17,9% mất theo dơi ).
Đại đa số BN cải thiện lâm sàng sau mổ
với NYHA I. Hở
van hai lá tồn lưu sau mổ 3 trường hợp trong
đó 2 trường hợp phải mổ lại để
thay van. Tử vong muộn:
10 trường hợp ( 6 trường hợp
có liên quan đến tim).
Kết luận: Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ là nguyên
nhân chủ yếu gây hở van hai lá đi kèm với bệnh hẹp
mạch vành. Phẫu thuật
bắc cầu chủ-vành đơn thuần hoặc có kèm
phẫu thuật van tim cho kết quả
tốt mặc dù quá tŕnh phẫu thuật và điều trị
hậu phẫu rất phức tạp.
Từ khoá: phẫu thuật bắc cầu chủ-vành
SURGERY
AND OUTCOMES OF CORONARY ARTERY
DISEASE AT THE
Van
Hung Dung, Truong Nguyen Hoai Linh, Phan Kim Phuong, Nguyen
Van Phan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1-2010: 156 - 161
Background:
CABG is a radical method for treatment of coronary artery stenosis in order
to reduce angina pectoris, myocardial infarction and sudden death.
Patients and Methods: a retrospective in 680 consecutive patients who were operated at the
Heart Institute HCMC from Sep 2001 to June 2008.

Results: Male patients
was 68.6% (398), the median age was 61.6 ± 8.7 ys ( range
from 31 to 83 year-old). Patients‘s history were
myocardial infarction 31.4%;
chronic hypertension 81.6%; diabete melitus: 27.2%; dyslipidemia: 43.3%;
tabagism: 24%. 6% pts had been PCI before operation. Before operation, instable
angina was 40.7% and NYHA III & IV was 7.6%. In clinical, 15.9% associated with valvular
disease: MR: 68; MS: 12; aortic disease: 13 and multi valvular disease: 15
cases. Coronary artery lesions were as follow: one vessel: 4.3%, two- vessels:
19.7% and three vessels: 76%. Left main disease was 47.1%. Emegency and urgency operation had done in
4.3% (30). The mean number of graft per patients: 3.12. 22 cases were done by offpump CABG. Mitral
valve plasty was done in 77% and mitral replacement in 23%. 15 cases had
replaced both mitral and aortic valve. Total mortality rate was 2.6% (18) caused by 8
irreversible cardiac failure, 4 AMI post-op, 3 septicemia, 2 cerebral
hemorrhage and 1 MOF. The main post-operative complications
was LCO: 35; AMI: 5; CVA: 9 and nosocomial infection: 20 cases. The mean time of artificial ventilation: 23.8
± 56.2 hrs and mean time of stay in ICU: 3.4 ± 4.9 days. The mean time of
hospital stay were 17.1 ±
8.5 days. Follow-up was completed in 82% with mean time of FU was
34.7 ± 20.2 months. Clinical status
(NYHA I) improved in majority of cases. Post-op residual mitral regurgitation
in 3 cases ( 2 cases had redo for mitral replacement).
Late death: 10 cases ( 6 cardiac related).
Conclusion: Ischemic heart
disease is the most common cause of mitral regurgitation associated with
coronary artery stenosis. Midterm results of isolated CABG or CABG with valve
intervention were very good.
Keyword: Coronary artery bypass graft (CABG)
Vào năm 1955 Longmire báo cáo phẫu thuật cắt bỏ phần nội mạc xơ vữa không có trợ giúp của tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT ) và sau đó 1967 Favaloro & Effler lần đầu tiên thực hiện thành công phẫu thuật bắc cầu chủ-vành (PTBCCV) dưới sự trợ giúp của THNCT. Kể từ đó, PTBCCV đă tiến rất nhanh và trở thành một phẫu thuật tim thường qui. PT bắc cầu chủ vành là một trong các phương pháp điều trị triệt căn cho bệnh thiếu máu cơ tim và các hậu quả của nó. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của PTBCCV tại Viện Tim thành phố HCM.
1.
Đối tượng nghiên cứu:
là những bệnh nhân được mổ bắc cầu
nối ĐMV (có thể kèm theo những
phẫu thuật van tim khác) tại Viện Tim thành phố Hồ
chí Minh từ tháng 9/2001 đến tháng 5/2008.
2. Chúng tôi chia
làm 2 nhóm: nhóm 1 chỉ mổ bắc cầu chủ-vành
đơn thuần và nhóm 2 bắc
cầu chủ –vành đi kèm với phẫu thuật van tim
khác. Nhóm 1 được so sánh với nhóm 2 về các mặt:
¨Đặc điểm trước mổ:
Tuổi, giới, phân suất tống máu thất trái, độ
NYHA, điểm Euroscore, tổn thương ĐMV, các bệnh
nội khoa kèm theo và mổ chương
tŕnh, bán khẩn hay khẩn.
¨Phẫu thuật: số cầu nối TB ở
mỗi nhóm bệnh nhân, loại mạch ghép làm cầu nối,
thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), thời
gian kẹp động mạch chủ.
¨Diễn tiến hậu phẫu sớm: tử
vong trong 30 ngày, tần suất các biến chứng hậu
phẫu, số
ngày nằm hồi sức, số ngày nằm viện
sau mổ.
3. Ở mỗi
nhóm bệnh nhân mổ bắc cầu chủ-vành, chúng tôi
tính nguy cơ tử vong trong 30 ngày theo thang điểm Euroscore(15. Tỉ
lệ tử vong thực tế được so sánh với
tỉ lệ tử vong dự báo theo
thang điểm này.
4. Phân tích thống
kê: So sánh tỉ lệ giữa 2 nhóm bằng phép kiểm chi
b́nh phương. So sánh biến liên tục giữa 2 nhóm bằng phép
kiểm t (nếu biến có phân phối b́nh thường)
hoặc phép kiểm Mann-Whitney (nếu biến không có phân phối
b́nh thường). Ngưỡng có ư nghĩa thống
kê được chọn là p < 0,05.
5. Theo dơi: các BN c̣n sống đều được tái khám, làm siêu âm gắng sức hoặc MSCT 64 hoặc chụp mạch vành sau mổ khi có đau ngực tái phát không đáp ứng điều trị nội khoa. BN không đến tái khám được gởi thư hoặc điện thoại trực tiếp. Nếu không có phản hồi coi như mất theo dơi.
Từ tháng 9/2001 đến tháng 5/2008 có 680 bệnh nhân
được mổ bắc cầu nối ĐMV tại
Viện Tim.
Chúng tôi chia làm 2 nhóm: 572 người mổ thuộc nhóm 1 là
nhóm chỉ bắc cầu đơn thuần và 108 người
mổ thuộc nhóm 2 vừa bắc cầu vừa phẫu
thuật van tim đi kèm. Bệnh nhân có tuổi trung b́nh 61,6
± 8,7 năm ( từ 31 đến 83 tuổi), nam giới chiếm
68,6%. 29% bệnh
nhân có phân suất tống máu dưới 40% trước mổ. 57% bệnh nhân đau thắt ngực
ổn định với CCS III-IV trước mổ và có
30 bệnh nhân (4,3%) NMCT cấp có biến
chứng choáng tim
và hoặc phù phổi cấp được mổ
khẩn hoặc bán khẩn. Trong số các bệnh nội
khoa kèm theo tăng huyết áp thường
gặp nhất, kế đến là rối loạn lipid máu
và đái tháo đường. Nhóm 1 và nhóm 2
không có khác biệt có ư nghĩa về các đặc điểm
trước mổ (bảng 1). Về dạng tổn
thương ĐMV, hẹp > 70% hoặc tắc 3 ĐMV
chiếm tỉ lệ cao nhất 76%, kế đó là hẹp
hoặc tắc 2 ĐMV 19,7% và hẹp > 50% thân chung trái chiếm
22%
Bảng 1: Đặc điểm
bệnh nhân trước mổ.
|
Đặc điểm |
Chung |
Nhóm
1 (n1 =
572) |
Nhóm 2 (n2 =
108) |
|
Tuổi
(năm) |
61,6 ±
8,7 |
58,3 ± 8 |
59,9 ± 9 |
|
Giới
nam (%) |
398 (68,6) |
340 (59,4) |
58 (55,2) |
|
EF (%) |
61,4 ± 12,4 (20 – 78) |
56,4 ± 12,1 (28 – 78) |
56,3 ± 14 (20 – 75) |
|
EF < 40 %
(%) |
147 (21,6) |
137 (23,9) |
10 (9,25) |
|
NYHA (%) I II III IV |
340 (50) 288 (42,4) 37 (5,4) 15 (2,2) |
275 (48) 256 (44,75) 30 (5,2) 11 (1,9) |
65 (60) 32 (29,6) 7 (6,5) 4 ( 3,7) |
|
ĐTN ổn định
(%) |
388 (57) |
307 (53,7) |
81 (75) |
|
Dạng tổn
thương ĐMV (%) Hẹp > 50% thân chung trái Hẹp/tắc 3 thân chính Hẹp/tắc 2 thân chính Hẹp/tắc 1 thân chính |
150 (22) 517 (76) 144 (19,7) 29 (4,3) |
130 (22,7) 454 (79) 123 (21,5) 5 (0,9) |
20 (18,5) 63 (58,3) 21 (19,4) 24 (22,2) |
|
Đă can
thiệp ĐMV qua da |
41 (6) |
38 (6,6) |
3 (2,7) |
|
Bệnh
kèm theo (%) Đái tháo đường Creatinin/máu ³ 2 mg/dL Tiền sử NMCT Tiền sử đột quị Tăng huyết áp Rối loạn lipid máu Hút thuốc lá Bệnh mạch máu ngoại biên |
185 (27,2) 20 (3) 213 (31,4) 54 (8) 555 (81,6) 294 (43,3)
163 (24) 27 (4) |
157 (27,4) 20 (3,5) 180 (31,4) 46 (8) 478 (83,5)
250 (43,7) 139 (24,3)
|
28 (25,9) 0 33 (30,5) 8 (7,4) 77 (71,4) 44 (41) 24 (22,2) |
Mổ khẩn do choáng tim hoặc phù
phổi cấp trước mổ có 10 trường hợp
(nhóm 1:7 và nhóm 2:3) và mổ bán khẩn có 20 trường hợp
(nhóm 1: 17 và nhóm 2: 3 BN).
Số cầu nối trung b́nh ở mỗi bệnh nhân là 3,12 ± 0,85. Có 96% bệnh nhân được bắc cầu nối với động mạch ngực trong trái hoặc cả hai ĐM ngực trong và 71% bệnh nhân được bắc cầu nối với động mạch quay trái. 87% số BN được sử dụng tĩnh mạch hiển trong phải làm mạch ghép thứ ba. Các phẫu thuật kèm theo gồm sửa van 2 lá, thay van 2 lá, thay van động mạch chủ, sửa van 3 lá, đóng thông liên thất, cắt mép van động mạch phổi và cắt túi ph́nh thất trái (bảng 2). So với bệnh nhân nhóm 2, bệnh nhân nhóm 1 được bắc nhiều cầu nối hơn và tỉ lệ sử dụng động mạch quay làm mạch ghép cao hơn có ư nghĩa. Thời gian kẹp ĐMC cũng như thời gian THNCT của nhóm 2 cũng cao hơn nhóm 1 do phải can thiệp thêm trên van hai lá, van ba lá và hoặc van ĐMC. 22 trường hợp bắc cầu chủ-vành không cần THNCT.
Bảng 2: Đặc điểm
phẫu thuật.
|
Đặc điểm |
Chung |
Nhóm 1 (n1 = 572) |
Nhóm 2 (n2 = 108) |
|
Số cầu
nối TB ở mỗi BN |
3,12 ± 0,85 |
3,42 ±
0,7 |
2,7±0,8
(*) |
|
Dùng động
mạch vú trong trái (%) |
653 (96) |
558 (97,5) |
95 (88) |
|
Dùng cả
hai ĐM vú trong (%) |
36 (5,3) |
34 (5,9) |
02(1,85) |
|
Dùng động
mạch quay trái (%) |
483 (71) |
424 (74) |
59
(54,7)* |
|
Dùng
tĩnh mạch hiển trong (%) |
592 (87) |
511
(89,3) |
81 (75) |
|
Thời
gian THNCT TB (phút) |
140,7 ± 48,3 |
128 ±
44,8 |
176,7±67,6
|
|
Thời
gian kẹp động mạch chủ TB (phút) |
85,7 ±
30,8 |
82,5 ± 29 |
112,7±
29,3 |
|
Offpump |
22(3,2%) |
21 |
1 |
|
Phẫu
thuật đi kèm Tạo h́nh van 2 lá Thay van 2 lá Thay van
động mạch chủ Tạo h́nh
van 3 lá Đóng
thông liên thất Cắt mép
van ĐMP Cắt
ph́nh thất trái |
64 31 27 25 02 01 03 |
0 0 0 0 02 0 02 |
64 31 27 25 0 01 01 |
(*) p
< 0,05 khi so sánh nhóm 2 với nhóm 1.
Có 18
bệnh nhân chết chu phẫu (tử vong trong 30 ngày =
2,6%). Riêng ở 572 bệnh nhân
mổ bắc cầu nối ĐMV đơn thuần tử
vong trong 30 ngày bằng 1,75%(10). Tần suất các biến chứng
hậu phẫu được nêu trên bảng 3. Tần suất
các biến chứng hậu phẫu của nhóm 1 và nhóm 2 khác
biệt không có ư nghĩa.
Thời gian nằm
hồi sức TB là 3,4 ± 4,9 ngày (60% bệnh nhân nằm hồi
sức lâu hơn 1 ngày). Thời gian nằm hồi sức
TB của nhóm 1 là 2,8 ± 1,8 ngày và của nhóm 2
là 4,2 ±
6,3 ngày (khác biệt có ư nghĩa, p<0,05). Thời gian thở
máy chung của hai nhóm là 23,8 ± 56,2 giờ. Suy tim, suy thận
cấp, nhiễm trùng phổi là các yếu tố kéo dài thời
gian thở máy đáng kể.
Thời
gian nằm viện hậu
phẫu chung là 17,1 ± 8,5 ngày (ngắn nhất 9 ngày, dài nhất 40 ngày). Thời
gian nằm viện hậu phẫu của nhóm 1 là 16,5 ± 6,7 ngày và của nhóm 2 là 18,1 ± 9,3 ngày (khác biệt không có ư
nghĩa).
Bảng 3: Tần suất các biến chứng hậu
phẫu.
|
Loại Biến chứng |
Chung |
Nhóm 1 (n1 = 572) |
Nhóm 2 (n2 = 108) |
|
NMCT chu phẫu |
17 (2,5%) |
14 (2,4%) |
3 (2,7%) |
|
Chảy
máu cần mổ lại |
22 (3,23%) |
-- |
-- |
|
Suy tim nặng
cần IABP |
14 ( 2%) |
10(1,75%) |
4 (3,7%) |
|
Suy tim cần
Inotrope |
258 (38%) |
190(33,2%) |
68 ( 63%) |
|
Khiếm
khuyết thần kinh type 1 |
18 (2,6%) |
15 (2,6%) |
3 (2,7%) |
|
Suy thận cấp (cần
PD ) |
26 (3,8%) |
15 (2,6%) |
11(10,2%) |
|
Viêm trung thất |
6 (0,88%) |
4 (0,7%) |
2 (1,85%) |
|
Rung nhĩ |
46 (4,5%) |
22 (3,8%) |
24 (22,8%)* |
*34% BN đă rung nhĩ trước mổ
Thời gian theo dơi sau xuất viện trung vị là 34,7 tháng, ngắn nhất 6 tháng và dài nhất 87 tháng. Có 10 ca tử vong trễ (6 có liên quan đến tim trong đó 3 bệnh nhân do suy tim không hồi phục và 4 bệnh nhân đột tử ) và 16 ca đau thắt ngực tái phát có dấu hiệu thiếu máu cục bộ tồn lưu trên siêu âm dobutamine kiểm tra sau mổ (10 bệnh nhân được điều trị nội khoa và 6 bệnh nhân được can thiệp qua da đặt stent và đều cho kết quả điều trị tốt).
Tử vong chung của nghiên cứu này là 2,6%. Với nhóm 1, chỉ bắc cầu chủ-vành
đơn thuần tỉ lệ dự báo tử vong trung b́nh của
nhóm bệnh nhân này theo thang điểm Euroscore là 4,82% cao hơn đáng kể so với của
chúng tôi là 1,75%. Với nhóm 2, tử
vong dự báo theo Euroscore là 8,46%
tương tự như ở nghiên cứu này là 7,4%.
Phân tích gộp của
Nalysnyk từ 176 nghiên cứu trên 205.717 bệnh nhân, tử
vong phẫu thuật trong 30 ngày trung b́nh là 2,1% và dao động
trong khoảng 0,7 đến 7,7%(13). Tử
vong sau mổ thường ty thuộc vào đặc điểm
hay mức độ nặng của bệnh nhân trước
mổ, do đó khó có thể so sánh tử vong sau mổ của những
nhóm bệnh nhân khác nhau.
Về biến chứng NMCT chu phẫu, theo y văn nước ngoài tần suất trung b́nh là 2,4% (dao động trong khoảng 0 đến 13,9%)(13), kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 2,7% tương tự như các nghiên cứu khác tuy nhiên điểm lưu ư là NMCT chu phẫu là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ hai sau suy tim hậu phẫu.
Về lựa chọn mạch
máu làm cầu nối, ngay từ đầu chúng tôi đă chọn
ĐM ngực trong làm cầu nối chuẩn cho ĐM trái
trước xuống và kể từ năm 2003 chúng tôi sử
dụng ĐM quay là mạch ghép thứ hai khi không có chống
chỉ định. Khuynh hướng hiện nay là dùng nhiều
cầu nối là động mạch hoặc toàn bộ cầu
nối là động mạch v́ nhiều nghiên cứu đă
cho thấy cầu nối động mạch có tuổi thọ
dài hơn cầu nối tĩnh mạch hiển(3,6,9,11. Tùy theo trung tâm, tỉ lệ sử
dụng toàn bộ mạch ghép là động mạch khoảng
20% đến 100%(3,6,9,12). Tại Bệnh Viện Tim Tâm
Đức và Viện Tim thành phố HCM, tỉ lệ sử
dụng nhiều cầu nối là động mạch lần
lượt là 90% và 75%.
Bệnh van tim đi kèm trong nghiên cứu này bao gồm tổn thương trên van hai lá, ba lá và ĐMC do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đứng đầu là hở van hai lá do thiếu máu cơ tim. Điểm khác biệt là tỉ lệ bệnh van tim đi kèm do hậu thấp, thoái hóa và viêm nội tâm mạc cao hơn, 35% so với với các tác giả khác là dưới 5%(2,5,8,10).
Tỉ lệ đột quỵ
trong nghiên cứu này khá thấp 0,73% (5 TH) so với các nghiên cứu
khác trong khoảng 2-3%(8,9,13,17,19) có lẽ do chúng tôi sử dụng
kháng đông sau mổ thận trọng hơn và trễ
hơn các tác giả khác.
Về suy thận sau mổ,
theo một số tổng kết nước ngoài, tỉ lệ
suy thận sau mổ từ 17,2 % - 24%(3,17). Tỉ lệ suy thận cần
điều trị thay thế thận theo tổng kết của
Sirivella và cộng sự từ 2% - 15%(17). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ
lệ này là 3,8% nằm trong khoảng thấp.
Tuy nhiên suy thận cấp sau mổ kéo dài thời
gian nằm hồi sức rất đáng kể, cá biệt
có BN nằm đến 31 ngày.
Về thời gian nằm hồi sức, số
ngày trung b́nh theo Nathoe là 1,62 và theo Angelini
có 20% bệnh nhân phải nằm hồi sức hơn 1
ngày. So với kết quả
này th́ thời gian nằm hồi sức của BN sau mổ
của chúng tôi dài hơn đáng kể do tỉ lệ suy tim sau mổ cao hơn và biến chứng nhiễm
trùng phổi cũng như suy thận cao hơn.
Phẫu
thuật bắc cầu chủ-vành đơn
thuần tại Viện Tim có tỉ lệ tử vong sớm
và tần suất biến chứng hậu phẫu thấp
tuy nhiên thời gian nằm hồi sức và nằm viện
hậu phẫu khá dài. Tỉ lệ dùng động
mạch ngực trong trái và khuynh hướng dùng toàn bộ
động mạch làm cầu nối ngày càng tăng.
Hở van hai lá đi kèm với bắc cầu chủ –vành
có nguyên nhân chính là thiếu máu cơ tim. Từ các kết quả trên đây chúng tôi nhận
thấy trong tương lai cần phải áp dụng một
số kỹ thuật mới trong phẫu thuật và
chăm sóc sau mổ để hạ thấp hơn nữa
tần suất các biến chứng, đồng thời rút
ngắn thời gian nằm hồi sức và nằm viện.
1. Angelini GD, Taylor FC, Reeves BC, Ascione R. Early and midterm outcome after off-pump and on-pump surgery in Beating Heart Against Cardioplegic Arrest Studies (BHACAS 1 and 2): a pooled analysis of two randomized controlled trials. Lancet 2002; 359: 1194-1199.
3.
Brian F. Buxton and John
Fuller. Clinical Trials and Graft Patency Data in Coronary Artery Surgery—A
30-Year Perspective. Heart Lung
and Circulation 2004;13S:S7–S12
4.
Del Duca D , Iqbal S, Rahme E, Goldberg P, de Varennes B.Renal
failure after cardiac surgery: timing of cardiac catheterization and other
perioperative risk factors. Ann Thorac
Surg. 2007 Oct;84(4):1264-71
6.
Guru V , Fremes SE, Tu JV. The Five and Ten Year Outcomes For Coronary Artery
Bypass Graft (CABG) Surgery Patients Discharged Alive With Left Ventricular
Dysfunction.Western Thoracic Surgeon Association 2009.
7.
Holmvang L, Jurlander B, Rasmussen C, et al. Use of biochemical markers of infarction for
diagnosing perioperative myocardial infarction and early graft occlusion after
coronary artery bypass surgery. Chest 2002; 121: 103-111.
8.
Holman WL,
Allman RM, Sansom M, et al, for the Alabama CABG Study Group.
9.
Hồ huỳnh
quang Trí, Phan kim
Phương, Nguyễn văn Phan, Phạm Nguyễn Vinh. Kết
quả ban đầu của phẫu thuật bắc cầu
động mạch vành tại Viện Tim. Thời sự tim mạch học 2003.
11.
Lâm BK,
Gillinov AM, Blackstone EH, Rajeswaran J , Yuh B,
12.
Mangano CM,
Diamondstone LS, Ramsay JG, et al. Renal dysfunction after
myocardial revascularization: risk factors, adverse outcomes, and hospital
resource utilization: the Multicenter Study of Perioperative Ischemia Research
Group. Ann Intern Med 1998; 128: 194-203.
13.
Mussa S , Choudhary BP, Taggart DP. Radial artery conduits
for coronary artery bypass grafting: Current perspective. J Thorac Cardiovasc
Surg 2005;129:250-3
14.
Nalysnyk L, Fahrbach K, Reynolds MV, et al. Adverse events in coronary artery bypass graft
trials: a systematic review and analysis. Heart 2003; 89: 767-772.
15.
Nathoe HM, van Dijk D, Jansen EWL, et al. A comparison of on-pump and off-pump coronary bypass surgery in low-risk
patients. N Engl J Med 2003;348: 394-402.
16.
Nguyễn
văn Khánh, Đặng Thị Thanh Trúc, Huỳnh Khiêm Huy, Tạ
Ngọc Long Phi, Nguyễn Đức
Viên, Lê Trung Hiếu, Chu Trọng Hiệp, Hồ Huỳnh
QuangTrí, Phan Kim Phương, Đào Hữu Trung, Phạm Nguyễn
Vinh. Kết quả bước đầu của phẫu
thuật bắc cầu nối động mạch vành tại
bệnh viện tim Tâm Đức. Thời sự Tim mạch
học 2009
18.
Roach GW, Kanchuger M, Mangano CM, et al. Adverse cerebral outcomes after coronary bypass
surgery: Multicenter Study of Perioperative Ischemia Research Group and the
Ischemia Research and Education Foundation Investigators. N Engl J Med 1996;
335: 1857-1863.
19.
Sun X,
Michael Lim R, Hill PC, Haile E, Corso PJ, Garcia JM.
Current Practice and Outcomes of Off-pump Multivessel Coronary Artery Bypass.
Asian Cardiovasc Thorac Ann 2009;17:362-367
20.
Sirivella S,
Gielchinsky I, Parsonnet V. Mannitol, furosemide and dopamine infusion in
post-operative renal failure complicating cardiac surgery. Ann Thorac Surg
2000; 69:501–6.
21.
Trehan N,
Mishra M,Kasliwal R, Mishra A. Reduced neurological
injury during CABG in patients with
mobile aortic atheromas: a five-year follow-up study. Ann Thorac Surg 2000;
70:1558-1564.
22.
Văn hùng
Dũng. Hở van hai lá và phẫu thuật bắc cầu chủ-vành.
Y học thành phố Hồ chí Minh 2008, tập 12, phụ bản
số 1.