Lại Thị
Thanh Thảo*, Nguyễn Văn Trí*
Mục tiêu: Khảo sát sự tương
quan giữa hoạt
tính prôtêin C và bệnh viêm tắc tĩnh mạch.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
và phân tích, được thực hiện trên 50 bệnh
nhân có huyết khối tĩnh mạch nhập viện Chợ Rẫy
và 70 người thuộc nhóm chứng từ tháng 06/2006
đến tháng 03/2007.
Kết quả:. Hoạt tính prôtêin C ở bệnh
nhân viêm tắc tĩnh mạch có phân phối chuẩn với
trung bình cộng = 80,88%, độ lệch chuẩn = 31,41%.
Hoạt tính prôtêin C ở bệnh nhân viêm tắc tĩnh
mạch khác biệt
so với nhóm chứng, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001. Tỉ
lệ giảm hoạt tính prôtêin C ở bệnh nhân viêm tắc
tĩnh mạch = 34%; trong đó
10% / Bệnh nhân
< 50 tuổi, và 24%/ Bệnh nhân
≥ 50 tuổi. Hoạt tính prôtêin C ở bệnh nhân viêm tắc
tĩnh mạch trong nghiên cứu của chúng tôi không có mối
tương quan với độ tuổi, mức độ tắc mạch
máu, vị trí huyết khối tĩnh mạch.
Kết luận: Chúng tôi
nhận thấy ở nhóm bệnh nhân viêm tắc
tĩnh mạch trong nghiên cứu, hoạt tính prôtêin C giảm
so với nhóm chứng.
Từ khóa: huyết khối tĩnh
mạch (HKTM), viêm
tắc tĩnh mạch (VTTM), triệu chứng lâm sàng (TCLS), yếu tố
nguy cơ (YTNC)
PROTEIN
C ACTIVITY IN PATIENTS WITH THROMBOPHLEBITIS
Lai
Thi Thanh Thao, Nguyen Van Tri
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 394 -400
Objective: to evaluate correlation between activation of protein C and
thrombophlebitis.
Method: cross-sectional and analytical study, was carried out on 50 patients
with thrombophlebitis and 70 people in control at Cardiology Departement, Cho
Ray hospital from June 2006 to March 2007.
Results: Mean value (± SD) of activated protein C in patients with
thrombophlebitis was : 80.88% ± 31,41%. There
was statistically significant difference in mean value of activated protein C
between patients with thrombophlebitis and control (p < 0.0001). The
decreased prevalence of activated
protein C in patients with thrombophlebitis: 34%, the patients is under 50
years old: 10%. There was no correlation
between activated protein C and the age of patients, gravity of venous
thrombosis, location of venous thrombosis
in patients with thrombophlebitis in our study.
Conclusion: We have found that activation of protein C in patients with
thrombophlebitis in our study is lower than control.
Keywords: venous thrombosis, thrombophlebitis, sign and symtoms, risk factor.
Prôtêin C là một chất
có mặt trong huyết tương ở
dạng tiền men, khi được hoạt hóa sẽ trở
thành yếu tố chống đông máu sinh lý, được tổng hợp chủ yếu tại
gan, quá trình này phụ thuộc vào Vitamine K. Trong quá trình đông máu, Prôtêin C
có tác dụng ức chế
yếu tố Va, VIIIa; ngăn cản
sự tạo fibrin quá mức cần thiết, tạo nên
tình trạng tăng đông, cơ chế
này rất quan trọng giúp điều
hòa quá trình đông máu trong cơ thể. Khi
nồng độ và/ hoặc hoạt tính của
prôtêin C giảm do nguyên nhân di truyền và/ hoặc mắc phải sẽ gây ra tình trạng tăng đông có khuynh hướng tạo huyết khối tĩnh mạch. Tỉ lệ giảm prôtêin C
do di truyền trên bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch: 0.02-0.05. Đối với bệnh
nhân có huyết khối tĩnh mạch
mà không tìm thấy yếu tố nguy cơ nào, tỉ lệ giảm prôtêin C có thể
lên đến 15-30%. Giảm prôtêin C có thể do nguyên nhân mắc phải như: Huyết khối tĩnh mạch sâu, Thuyên tắc phổi, Thiếu
vitamin K, Bệnh gan nặng, Bệnh đông máu nội mạch lan tỏa, Giai đoạn hậu phẩu, Thời kỳ
hậu sản, Bệnh ung thư, Nhiễm
trùng, Hội chứng urê huyết cao, Hội chứng nguy ngập
hô hấp cấp, Sử dụng thuốc chống đông máu nhóm
antivitamin K: Warfarin, Hóa trị:
cyclophophamide, methotrexat…Ngoài ra, có thể có các nguyên nhân mắc
phải làm tăng prôtêin C như:
Đái
tháo đường, Hội
chứng thận hư, Thai kỳ giai đoạn trễ, Uống thuốc
ngừa thai…
Trong khi đó, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch là bệnh lý thường gặp
trên lâm sàng và nghiêm trọng vì các biến chứng: thuyên tắc
phổi, huyết khối tĩnh mạch
tái phát và hội chứng sau tắc mạch. Tần suất:
117 cas/ 100.000 người mỗi năm ở Hoa Kỳ và tăng lên một cách rõ rệt theo tuổi : 900
cas/ 100.000 người mỗi năm ở
người trên 85 tuổi. Việc truy tìm nguyên nhân, các yếu
tố nguy cơ của HKTM
ngày càng được quan tâm vì khả năng tái phát và biến chứng nguy hiểm của bệnh. Các xét nghiệm
giúp khảo sát các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng tăng đông ngày càng được trang bị tốt hơn như: định
lượng Antithrombin III, đo kháng thể kháng phospholipid, đo nồng
độ và hoạt tính prôtêin C, prôtêin S…
Đây là vấn đề rất mới trong lĩnh vực HKTM. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm
khảo sát mối tương quan này trên dân số người Việt Nam, bước
đầu đánh giá tình trạng
tăng
đông trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu, đặt nền tảng cho
việc tầm soát tình trạng tăng đông tiềm
ẩn ở các thành viên còn lại trong gia đình bệnh nhân.
Khảo sát sự
tương quan giữa hoạt
tính prôtêin C và bệnh viêm tắc tĩnh mạch.
- Khảo sát các đặc điểm của dân số nghiên cứu (
tuổi, giới, các yếu tố nguy cơ củaVTTM).
- Khảo sát các đặc điểm LS, CLS của bệnh nhân VTTM.
- Khảo sát hoạt tính prôtêin C
trên nhóm bệnh nhân VTTM và bệnh nhân không VTTM
- Khảo sát ý nghĩa tiên lượng của sự giảm hoạt
tính prôtêin C trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Thiết kế
nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân
tích.
Bệnh nhân được chẩn
đoán
viêm tắc tĩnh mạch dựa vào triệu chứng
lâm sàng và siêu âm mạch máu vào khoa tim mạch Bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng 06/2006 đến tháng 03/2007 và dân
số không có triệu chứng lâm sàng của viêm tắc
tĩnh
mạch cũng như các yếu
tố làm giảm prôtêin C tại phòng khám xuất cảnh Bệnh
viện Chợ Rẫy.
Tiêu
chuẩn chọn bệnh:
gồm 2 nhóm:
- Nhóm bệnh nhân
viêm tắc tĩnh mạch:
bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của viêm tắc
tĩnh
mạch và được
siêu âm mạch máu xác định có huyết khối tĩnh mạch.
- Nhóm chứng: là
người không có triệu chứng lâm sàng của viêm tắc
tĩnh
mạch đến khám sức
khỏe tổng quát ở phòng khám xuất cảnh, có các
đặc điểm
tương đồng với
nhóm bệnh.
Loại trừ khỏi mẫu
nghiên cứu những bệnh nhân sử dụng thuốc chống
đông
đường uống
(warfarin, sintrom) do
đây
là yếu tố có thể
can thiệp được.
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu bao gồm những bệnh
nhân viêm tắc tĩnh mạch
(nhóm bệnh) và dân số không
có viêm tắc tĩnh mạch
(nhóm chứng).
-Với nhóm bệnh:
chọn cỡ mẫu theo phương pháp liên tiếp từ 06/2006-03/2007.
-Với nhóm chứng:
chúng tôi chọn cỡ mẫu tương đương với
cỡ mẫu của nhóm bệnh, nhằm khảo sát giá trị
prôtein C trên dân số người Việt
Bảng
1:
Phân bố các yếu tố nguy cơ của VTTM
|
Yếu tố nguy
cơ |
Tỉ lệ (%) |
|
Tiền căn HKTM sâu |
8
(Medenox (12) : 18,6%) |
|
Dãn tĩnh mạch |
8 Siri 8 (Sirius(12), r= 4,45 với
p < 0,001) |
|
Bất động lâu
dài |
12 (Ida Martinelli (12) :
15-80%)) |
|
Ung thư |
16 (Ida Martinelli(12) : 10-20%) |
|
Phẩu thuật/ chấn
thương |
16 (Ida Martinelli là(12):
45-70%) |
|
Thai kỳ |
6 |
|
Hậu sản |
6 |
|
Nhiễm trùng |
4(Medenox (12) : 15,5%) |
|
Hội chứng thận
hư |
2 ( Oeth(12) , 1998) |
Nghiên cứu của
chúng tôi không ghi nhận các yếu tố nguy cơ khác như: suy tim, uống thuốc ngừa thai, bệnh lý thần kinh:
tai biến mạch não, bệnh lý tuỷ sống, tiền
căn
gia đình có TTHKTM…vì
nhóm bệnh nhân VTTM mà chúng
tôi nghiên cứu là bệnh nhân ngoại trú.
Tóm lại, nhìn chung
các yếu tố nguy cơ của
VTTM hiện diện trong nghiên cứu của chúng tôi khá
đầy đủ với tần suất cộng dồn:
78%. Như vậy hơn 2/3 tổng số bệnh nhân có hiện
diện các yếu tố nguy cơ của
HKTM trên lâm sàng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi
tương đối phù hợp
với các kết quả của các tác giả đã nêu.
Bảng
2:
Phân bố triệu chứng lâm sàng
|
TCLS |
Tỉ lệ (%) |
|
Sưng |
100 (Victor F Tapson MD et a(15) l:
35-97%). |
|
Đau |
68 68 (Victor F Tapson MD et al(15):
66-91%). |
|
Căng tức |
74( 74 (Victor F Tapson MD et
al(15): 56-82%). |
Như vậy, kết quả
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của nghiên cứu
của Victor F Tapson MD et al.
Bảng 3 :
Phân bố giới tính ở
nhóm bệnh và nhóm chứng
|
Giới tính |
Nhóm bệnh |
Nhóm chứng |
|
|
11 (22%) (Segal JB(9):25-62%) |
27 (38,6%) |
|
Nữ |
39 (78%) |
43 (61,4%) |
|
Tổng cộng |
50 (100%) |
70 (100%) |
Ở nhóm bệnh, tỉ
lệ Nữ /
Chúng tôi ghi nhận ở
nhóm bệnh có sự phân bố không đều nhau ở 2
giới. Theo Segal JB (9), tỉ lệ bệnh nhân
Bảng
4:
Phân bố tuổi ở nhóm bệnh và nhóm chứng
|
Tuổi |
Nhóm bệnh |
Nhóm chứng |
|
Nhỏ nhất |
21 |
34 |
|
Lớn nhất |
85 |
80 |
|
Trung bình |
58,06 ± 17,08
(Segal JB (9): 54-68 tuổi ) |
55,54 ± 12,7 |
Chúng tôi ghi nhận
độ tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu tương đương với
nghiên cứu của Segal JB (9) ( 54-68 tuổi ).
Bảng
5:
Phân bố BMI ở nhóm bệnh và nhóm chứng
|
BMI |
Nhóm bệnh |
Nhóm chứng |
|
Nhỏ nhất |
15,62 |
18,75 |
|
Lớn nhất |
34,24 |
31,25 |
|
Trung bình |
22,65 ± 3,91 |
23,07 ± 2,74 |
Bảng
6:
Phân bố về nhóm BMI ở nhóm bệnh
|
Nhóm BMI |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ (%) |
|
< 18 |
3 |
6 |
|
18_23 |
27 |
54 |
|
23,1_30 |
17 |
34 |
|
> 30 |
3 |
6 |
|
Tổng cộng |
50 |
100 |
Chúng tôi chia BMI thành 4 nhóm: nhẹ cân (BMI <18),
bình thường (BMI= 18-23), thừa cân (BMI >23-30), béo phì
(BMI >30). Tỉ lệ trong nhóm thừa cân: 34%, béo phì: 6%. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tình trạng thừa cân và
béo phì chiếm > 1/3 dân số nghiên cứu (40%), đây là một tỉ lệ khá cao, phù hợp
với các nghiên cứu khác về yếu tố nguy cơ béo phì đối với HKTM, theo Sirius (12)
béo phì có liên quan đến HKTM
gấp 2,39 lần hơn so với
người có cân nặng
bình thường.
Sử dụng phép
kiểm T-Test so sánh đặc điểm
về giới, tuổi, BMI giữa nhóm VTTM và nhóm chứng,
chúng tôi thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm dân số với
các giá trị p lần lượt là 0,49; 0,381 và 0,515.
Bảng
5:
Phân bố hoạt tính prôtêin C ở nhóm bệnh và nhóm chứng
|
Hoạt tính prôtêin C |
Nhóm Nhóm bệnh |
Nhóm Nhóm chứng |
|
nhỏ nhất |
15% |
77% |
|
lớn nhất |
156% |
174% |
|
trung bình |
80,88% ± 31,41% |
117,81% ± 23,34% |
Hoạt tính prôtêin C
trung bình ở nhóm VTTM : 80,88% ± 31,41%
Hoạt tính prôtêin C
trung bình ở nhóm chứng: 117,81%
± 23,34%
Chúng tôi ghi nhận
hoạt tính prôtêin C trung bình ở
nhóm chứng trong nghiên cứu của chúng tôi
tương đương với kết quả nghiên cứu của
Hà.T.Anh và cộng sự(8): 108.360 ± 19.767%.
Giá trị hoạt
tính prôtêin C bình thường: 70-135% (theo qui ước của
phòng xét nhiệm bệnh viện Chợ Rẫy). Hoạt
tính prôtêin C gọi là giảm khi < 70%. Khi đề cập
đến giảm prôtêin C, có 2 khái niệm là giảm nồng
độ và giảm hoạt tính, nhưng chính hoạt tính mới có vai trò trong
quá trình chống đông máu sinh lý, nồng độ prôtêin C bình thường nhưng giảm hoạt tính cũng gây nên tình trạng tăng đông. Do đó khi thực hiện đề tài nghiên cứu về prôtêin
C, chúng tôi khảo sát về hoạt tính prôtêin C.
Trong 50 bệnh nhân
viêm tắc tĩnh mạch
được đưa vào mẫu
nghiên cứu, tỉ lệ giảm hoạt tính prôtêin C là 34%
(17/50 bệnh nhân). Như vậy, có
khoảng 1/3 bệnh nhân VTTM
trong mẫu nghiên cứu có giảm hoạt tính prôtêin
C, đây là một tỉ lệ
khá cao. Trong đó, đối
với nhóm tuổi < 50, tỉ lệ giảm hoạt tính
prôtêin C là 10% (5/50 bệnh nhân) và trong nhóm tuổi ≥ 50 tuổi tỉ lệ này 24%. Như vậy, có thể thấy rằng tỉ
lệ giảm hoạt tính prôtêin C ở độ tuổi
< 50 trong nghiên cứu của chúng tôi giống y văn cũng như các nghiên cứu khác, theo Bjorn Dahlback(3),
tỉ lệ này là:10-15%, theo David Keeling tỉ lệ này là:
5-10%. Nguyên nhân của10% trường hợp giảm hoạt
tính prôtêin C trong nhóm bệnh
nhân < 50 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi được
nghĩ nhiều là do di truyền.
Như
vậy, đây là những bệnh nhân có nguy cơ cao tái phát HKTM
cũng như nguy cơ có sự giảm hoạt
tính prôtêin C ở các thành viên khác trong gia đình. Do đó cần phải khuyến cáo việc khảo
sát hoạt tính prôtêin C ở các thành viên trong gia đình bệnh nhân, nhất là thành viên trực
hệ.
Và 24% trường hợp
giảm hoạt tính prôtêin C trong nhóm bệnh nhân ≥ 50 tuổi, nguyên nhân mắc phải
được nghĩ đến
nhiều hơn. Trong nghiên cứu
của chúng tôi các nguyên nhân mắc phải gây giảm hoạt
tính prôtêin C có thể nhắc đến là: huyết khối
tĩnh
mạch, giai đoạn hậu phẩu, thời kỳ
hậu sản, ung thư, nhiễm
trùng, hội chứng urê huyết cao ( trong mẫu nghiên cứu
của chúng tôi có 1 trường
hợp suy thận cấp phải chạy thận nhân tạo,
với creatinin = 10,1mg%, clerance creatinin= 5,9 ml/phút ). Việc
điều trị các nguyên nhân nêu trên có thể
cải thiện tình trạng giảm prôtêin C.
Chúng tôi ghi nhận kết
quả khi sử dụng phép kiểm T-Test so sánh hoạt
tính prôtêin C trong 2 nhóm nghiên cứu như sau: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hoạt tính prôtêin C ở
nhóm bệnh nhân viêm tắc tĩnh mạch
và nhóm chứng với p < 0,0001. Kết quả này có độ
tin cậy rất cao, giúp chúng tôi có được một kết
luận quan trọng là có sự giảm hoạt tính prôtêin C
trong nhóm bệnh nhân viêm tắc tĩnh mạch
trong nghiên cứu của chúng tôi so với dân số nhóm chứng,
là những người không có VTTM. Đây là một kết quả rất
được mong đợi trong nghiên cứu của chúng
tôi, chứng tỏ có sự hiện diện của tình trạng
tăng
đông, một
trong những yếu tố nguy cơ ngày càng được quan tâm hiện nay khi đề cập
đến bệnh lý HKTM.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không
có sự tương quan giữa
hoạt tính prôtêin C và tuổi ở nhóm VTTM với hệ số
tương quan là 0,10 với p =
0,48. VTTM là bệnh lý có tần suất bệnh tăng theo độ tuổi, càng lớn tuổi
bệnh càng có khả năng xảy
ra cao. Theo sinh lý, hoạt tính prôtêin C không thay đổi theo
tuổi (trừ tuổi sơ sinh). Trường hợp giảm prôtêin C do di truyền
thường xảy ra ở độ tuổi 20-45 tuổi,
giảm prôtêin C do nguyên nhân mắc phải có thể xảy
ra ở mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nguyên nhân giảm hoạt tính prôtêin C có cả yếu
tố di truyền và mắc phải, do đó chúng tôi đã không ghi nhận sự tương quan giữa hoạt tính prôtêin C và tuổi ở
nhóm bệnh nhân VTTM.
Bảng
6:
Phân bố hoạt tính prôtêin C (HTPC) theo nhóm tuổi:
|
Nhóm HTPC Tuổi |
Giảm |
Bình thường |
Tổng cộng |
|
< 50 |
5 (10%) |
11(22%) |
16 (32%) |
|
³ 50 |
12 (24%) |
22 (44%) |
34 (68%) |
|
Tổng cộng |
17 (34%) |
33 (66%) |
50 (100%) |
Sự phân bố về nhóm tuổi của
nhóm bệnh nhân nghiên cứu như sau: tỉ
lệ bệnh nhân < 50tuổi là 32%, tỉ lệ bệnh
nhân ≥ 50tuổi là 68%. Chúng
tôi chia tuổi thành 2 nhóm nhằm khảo sát xem độ tuổi
có liên quan đến tần suất HKTM như các nghiên cứu trước đây không. Đồng thời tuổi 50 là ranh
giới tuổi phân biệt nguyên nhân giảm prôtêin C là do di
truyền hay mắc phải. Như vậy,
nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận tần suất bệnh VTTM lớn hơn (68% so với 32%) ở độ tuổi lớn
hơn,
phù hợp với kết luận
của y văn là tần
suất bệnh tăng theo độ
tuổi(5).
Bảng
7:
Phân bố về vị trí chi bị huyết khối tĩnh mạch
( HKTM )
|
Vị trí HKTM |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ (%) |
|
Chân trái |
35 |
70 |
|
Chân phải |
11 |
22 |
|
|
2 |
4 |
|
Cổ |
1 |
2 |
|
Hai chân |
1 |
2 |
|
Tổng cộng |
50 |
100 |
Như vậy HKTM chi dưới chiếm 92%,
kết quả này phù hợp với y văn (90%). Lý do giải thích sự khác nhau về tỉ
lệ giữa bên phải và trái là do sự khác nhau về
đặc điểm giải
phẩu học .
Trong
dân số 50 bệnh nhân VTTM, chúng tôi ghi nhận tĩnh mạch sâu chi dưới phần gần
thường bị huyết khối hơn cả, phân bố như sau:
Bảng
8:
Phân bố vị trí huyết khối tĩnh mạch trên siêu âm
|
Vị trí HKTM |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ (%) |
|
HKTM phần gần |
47 |
94 |
|
HKTM vị trí khác |
3 |
6 |
|
Tổng cộng |
50 |
100 |
HKTM chi dưới
được chia thành 2 nhóm:
- HKTM phần gần:
bao gồm HKTM đùi, khoeo. Gọi là phần gần vì gần tim.
- HKTM phần xa nói đến HKTM cẳng chân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, HKTM chi dưới phần
gần chiếm tỉ lệ rất cao: 94%, tỉ lệ
này cũng như các kết quả nghiên cứu khác, theo nghiên cứu của
Pezzullo và cộng sự(12) tỉ lệ này cũng là 94%. Như vậy, 94% bệnh nhân
trong nghiên cứu của chúng tôi sẽ có nguy cao thuyên tắc
phổi vì trên 70% trường hợp phát hiện thuyên tắc
phổi dù tử vong hay không đều cho thấy có huyết
khối tĩnh mạch sâu phần gần.
Các vị trí khác còn lại trong nghiên cứu: TM nách, TM chủ
trên, TM cảnh trong.
Chúng tôi đi tìm mối tương quan giữa hoạt tính prôtêin C và vị trí tắc mạch máu
nhằm đánh giá vai trò của yếu tố
tăng đông (giảm hoạt
tính prôtêin C) đối với vị trí huyết khối. Kết
quả khảo sát cho thấy không có sự tương quan giữa hoạt tính prôtêin C
và vị trí tắc mạch máu ở nhóm VTTM với hệ số
tương quan là -0,19 với p = 0,187.
Điều này có nghĩa là giảm hoạt tính prôtêin C không có tương quan với vị trí
huyết khối.
Bảng 9 :
Phân bố hoạt tính prôtêin C (HTPC) theo mức độ tắc
mạch máu (MĐTMM) ở nhóm VTTM
|
HTPC MĐTMM |
< 70 |
≥ 70 |
Tổng cộng |
|
Hoàn toàn |
9 (18%) |
16 (32%) |
25 (50%) |
|
Không hoàn toàn |
8 (16%) |
17 (34%) |
25 (50%) |
|
Tổng cộng |
17 (34%) |
33 (66%) |
50 (100%) |
Xác định mức
độ tắc mạch máu trên siêu âm có ý nghĩa tiên lượng khả năng hồi phục của bệnh. Chúng
tôi có được kết quả như sau: không có sự tương quan giữa hoạt tính prôtêin C và mức
độ tắc mạch máu ở nhóm VTTM với hệ số
tương quan là 0,042 với p =
0,77. Thật vậy, chúng tôi thấy
rằng mức độ tắc hoàn toàn hay không hoàn toàn chiếm
tỉ lệ như nhau ở 2
nhóm, cho dù hoạt tính prôtêin C giảm hay bình thường.
Điều này cho thấy rằng hoạt
tính prôtêin C không có ý nghĩa tiên lượng tình trạng HKTM mà phụ thuộc vào các yếu
tố nguy cơ khác của
HKTM.
|
|
VTTM (bệnh nhân) |
Nhóm chứng (người) |
Tổng cộng |
|
HTPC giảm |
17 |
1 |
18 |
|
HTPC bình thường |
33 |
69 |
112 |
|
Tổng cộng |
50 |
70 |
120 |
- Odds ratio (tỉ số
chênh): 35,54 (p < 0,0001), điều này có ý nghĩa rằng khi hoạt tính prôtêin C giảm thì xác xuất bị
HKTM gấp 35,54 lần so với người không giảm
hoạt tính prôtêin C có ý nghĩa thống
kê. Theo Hà.T.Anh và cộng sự(8), Odds ratio = 6,5 với p = 0,04 ở bệnh nhân Nhồi
máu não.
- Nguy cơ tương đối:
2,9. So với nghiên cứu của David Keeling, Dahlback (3)
thì nguy cơ tương đối: 7, sự khác nhau này có thể
do cở mẫu của chúng tôi tương đối nhỏ.
- Ở nhóm bệnh
nhân viêm tắc tĩnh mạch
trong nghiên cứu của chúng tôi, hoạt tính prôtêin C giảm
so với nhóm chứng, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p < 0,0001. Đây là một
kết quả rất được mong đợi trong
nghiên cứu của chúng tôi, chứng tỏ có sự hiện
diện của tình trạng tăng đông, một trong những yếu tố nguy
cơ
ngày càng được quan
tâm hiện nay khi đề cập đến bệnh lý
HKTM. Ngoài ra, chúng tôi không ghi nhận mối tương quan giữa hoạt tính prôtêin C ở bệnh
nhân viêm tắc tĩnh mạch
trong nhóm nghiên cứu với độ tuổi, mức
độ tắc mạch máu, vị trí huyết khối
tĩnh
mạch.
- Là một trong những
nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam khảo sát về
hoạt tính prôtêin C, chúng tôi hy vọng trong tương lai sẽ có các công trình nghiên cứu với
số lượng bệnh nhân lớn hơn nhằm khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố tăng đông như: prôtêin C, prôtêin S…và tình trạng viêm tắc
tĩnh
mạch ở người
Việt Nam.
1.
Bjošrn
Dahlback. Protein C, Prodcuct Monograph 1995. Chromogenix AB;1: 1-26.
2. Bjošrn Dahlback and Johan Stentlo. The Potein C Anticoagulant System.The molecular basic of blood disease, 2ed, W.B Saunders company 1994: 599-627.
3. Bjošrn Dahlback . The protein C anticoagulant system: Inherited defects as basis for venous thrombosis. Thromb Res. 1995; 77: 1-43.
4. Bucciarelli P, Rosendaal FR, Tripodi A, et al: Risk of venous thromboembolism and clinical manifestations in carriers of antithrombin, protein C, protein S deficiency, or activated protein C resistance: a multicenter collaborative family study. Arterioscler Thromb Vasc Biol 1999 Apr; 19(4): 1026-33.
5.
D
Arnoux. Thrombose veineus des membres. B Boutière. Manuel D’Hémostase. Elsevier
1995; 24: 459-470.
6. Đặng Vạn Phước. Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Bài giảng nội khoa. 2006:1-10.
7. FritS R.Rosendaal. The Role of Genes, Environment and Behavior. The American Society of Hematology 2005;1-12
8. Hà Thị Anh, Cung Thị Tý, Đỗ Trung Phấn. Nghiên cứu các yếu tố antithrombin III, protein C, protein S và mối liên quan với rối loạn lipid máu trên bệnh nhân nhồi máu não. Y học tp. hồ chí minh2005; 9, 4: 219-223.
9. Jodi B Segal, Eng J, JenckesMW et al. Diagnostic and treatment deep venous thrombosis and pulmonary embolism. Evidence report / Tecnology Assessment; 68: 1-169.
10.
11. Nguyễn Thị Nữ. Tăng đông và huyết khối. Bài giảng truyền máu huyết học. Nhà xuất bản Y Học Hà Nội 2004: 243-250.
12. Nguyễn Văn Trí. Đánh giá bệnh nhân nội khoa có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch và cách điều trị dự phòng huyết khối. Thời sự tim mạch học 2006; 99:17-20.
13. Trần Văn Bé. Lâm sàng huyết học. Nhà xuất bản Y học TPHCM 1998: 272-287.
14.
15. Victor F Tapson MD et al. The diagnostic Approach to Acute Venous Thromboembolism. American Journal of Respiratory and critical care Medline1999; 160: 043-10066.
* Bộ
Môn Nội Tổng Quát, khoa Y - Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh
Địa chỉ
liên hệ: BS. Lại Thị Thanh Thảo ĐT: 0919197263 Email: thienkim1712@yahoo.com.vn