Trần Phùng Dũng Tiến*, Võ Tấn Long*, Nguyễn Minh Hải*,
Nguyễn Văn Thông*, Hoàng Đình Tuy*, Nguyễn Thị Minh Huệ*, Võ Nguyên Trung*
Đặt vấn đề: Chẩn đoán
ung thư thực quản ở Việt
Mục tiêu: Khảo sát hình ảnh
chụp cắt lớp vi tính trong việc xác định
độ xâm lấn của ung thư thực quản.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: hồi cứu, mô tả, cắt
ngang. Chúng tôi hồi cứu 66 trường hợp ung
thư thực quản có chụp cắt lớp điện toán trước
mổ và được phẫu thuật tại khoa Ngoại
tiêu hoá bệnh viện Chợ Rẫy, từ 01/2006-09/2009.
Kết quả: có 66 TH được
chụp cắt lớp điện toán trước mổ. Trên phim
chụp cắt lớp điện toán xác định u ở giai
đoạn T2-T4, có di căn hạch hoặc không xác định
được. Tất cả 66 BN đều được
phẫu thuật và xác định giai đoạn sau phẫu
thuật. Có 54 TH mổ cắt thực quản, 05 TH nội
soi ngực đánh
giá giai đoạn sau đó mở hỗng tràng nuôi ăn, 07 TH nội soi bụng
đánh giá sau đó mỡ hỗng tràng nuôi ăn. Trong 54 TH mổ cắt thực quản
có 01 TH u T4. 35 u T3, 18 u T2. Không có TH nào T1. Trong 05 TH nội soi
ngực đánh giá và mở hỗng tràng nuôi ăn, u đều ở giai đoạn T4, nằm ở
1/3 giữa và xâm lấn vào phế quản và tĩnh mạch Azygos. Trong
07 TH nội soi bụng đánh giá và mở hỗng tràng nuôi ăn, u nằm ở
1/3 dưới thực quản, u T4, có nhiều hạch vùng
thân tạng. 5 TH này trên phim chụp cắt lớp vi tính có
nghi ngờ u to, dày thành dạ dày vùng tâm vị và di căn hạch thân tạng
Kết luận: chụp cắt lớp
vi tính trong ung thư
thực quản giúp đánh giá giai đoạn ung thư chính xác hơn, giúp tránh được
phẫu thuật không cần thiết và nguy hiểm. Giúp việc
chọn lựa phương pháp điều trị chính xác. Khi phối hợp
với nội soi ngực, nội soi bụng đánh giá sẽ giúp việc
xác định giai đoạn tốt hơn, tránh được tình trạng mở
ngực hay mở bụng thám sát không cần thiết.
Từ khóa: chụp cắt lớp vi tính, ung thư thực quản.
COMPUTED-
TOMOGRAPHY SCAN IMAGES IN THE ESOPHAGEAL CANCER
Tran Phung Dung Tien, Vo Tan Long, Nguyen Minh Hai, Nguyen Van Thong,
Hoang Dinh Tuy, Nguyen Thi Minh Hue, Vo Nguyen Trung * Y Hoc Tp. Ho Chi Minh *
Vol. 14 – Supplement of No 1 – 2010: 81 -
85
Background: In
Aims: Evaluate CT scan
images in staging of the esophageal cancer.
Methods: We studied 66
esophgeal cancer cases that have preoperative CTscan images and are operated in
Digestive deparment in Cho Ray hospital from January 2006 to September 2009.
Results: 66 cases are
taken operative CT scan images. In these CT scan images, esophageal tumos are
in T2-T4, have lymphatic node or not.All
of them are operated and staged after operation. There are 54 cases with esophagectomy, 5 cases
thoracoscpic evaluation and then
jejunostomy,7 cases laparoscopic evaluation
and jejunostomy. In 54 esophagectomy cases, there are 1 of T4, 35 of T3,
18 of T2. and no T1. And 05 thoracoscopic evaluation and jejunostomy cases are
T4 in which the tumor located on one the middle third of esophagus and invade bronchus and Azygos
vein. In 07 laparoscpic evaluation and jejunostomy cases, the tumors of T4 in the
lower third of esophagus that had many celiac lymphatic nodes. Besides, 5 of
all these cases, CT scan images show us
big tumors, gastric wall thicker in cardiac region and invade celiac
lymphatic nodes.
Conclusions: Computed- tomography scan helps us evaluate cancer stages more exactly,
avoids unnecessary and dangerous operations and choose the method
for treatment. When combined with thoracoscopy and laparoscopy will
stage better and avoid unnecessary thoracotomy or laparotomy.
Keywords: CT scan,
esophageal cancer.
Ung thư
thực quản 2/3 dưới gồm
các ung thư thực quản từ tâm vị lên trên 16 cm. Phẫu
thuật là phương pháp điều
trị được ưu tiên chọn
lựa, tỉ lệ sống 5 năm ở những bệnh
nhân được phẫu thuật
triệt để lên đến 30%(3) rất khả quan khi so sánh với
kết quả điều trị đơn hóa trị(1,2). Tuy nhiên đa số bệnh
nhân ở giai đoạn tiến triển khi phát hiện bệnh,
phẫu thuật triệt để
chỉ thực hiện được
ở một số ít trường
hợp. Việc tiên lượng bệnh
và chọn lựa phương pháp điều trị phụ
thuộc rất nhiều vào giai đoạn bệnh(5,7). Cc phương tiện chẩn
đoán hình ảnh như siêu âm qua nội soi thực quản
(EUS), CCLVT đóng vai trị quan trọng để đánh giá giai đoạn bệnh
trước mổ. Không như EUS,
CCLVT được triển khai rộng
ri ở cc trung tm y tế nước ta, chúng tôi thực hiện nghiên
cứu nhằm xác định vai
trị của CCLVT trong đánh giá giai đoạn ung thư thực
quản trước mổ.
Khảo sát hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong ung thư thực quản 2/3 dưới.
Xác định mức độ xâm lấn của u, di căn hạch, di căn xa trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính. Từ đó xác lập chỉ định phẫu thuật và phương pháp phẫu thuật.
Hồi cứu, mô tả, cắt ngang.
Những bệnh nhân ung
thư thực quản
2/3 dưới có chụp vi tính cắt lớp trước
mổ và được phẫu thuật.
Chúng tôi hồi cứu 66 TH ung thư thực quản 2/3 dưới được phẫu thuật tại khoa ngoại tiêu hoá bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2006 đến 10/2009, tất cả các TH đều có chụp cắt lớp vi tính đánh giá trước mổ.
Trong giai đoạn từ 1/2006 đến 10/2009 có 66 TH ung thư thực quản 2/3 dưới được phẫu thuật và có chụp cắt lớp vi tính trước mổ.
Trên phim chụp cắt lớp điện toán xác định u ở giai đoạn T2-T4, có di căn hạch hoặc không xác định được. Tất cả 66 BN đều được phẫu thuật và xác định giai đoạn sau phẫu thuật. Có 54 TH mổ cắt thực quản, 05 TH nội soi ngực đánh giá giai đoạn sau đó mở hỗng tràng nuôi ăn, 07 TH nội soi bụng đánh giá sau đó mỡ hỗng tràng nuôi ăn.
Trong 54 TH mổ cắt thực quản có 01 TH u T4. 35 u T3, 18 u T2. Không có TH nào T1.
Trong 05 TH nội soi ngực đánh giá và mở hỗng tràng nuôi ăn, u đều ở giai đoạn T4, nằm ở 1/3 giữa và xâm lấn vào phế quản và tĩnh mạch Azygos.
Trong 07 TH nội soi bụng đánh giá và mở hỗng tràng nuôi ăn, u nằm ở 1/3 dưới thực quản, u T4, có nhiều hạch vùng thân tạng. 5 TH này trên phim chụp cắt lớp vi tính có nghi ngờ u to, dày thành dạ dày vùng tâm vị và di căn hạch thân tạng.
|
Hình ảnh |
Số bệnh nhân |
|
|
CCLVT |
PHẨU THUẬT |
|
|
Dày thành thực quản |
59 |
66 |
|
Hẹp lòng thực quản |
3 |
5 |
|
Xâm lấn phế quản |
3 |
5 |
|
Xâm lấn ống ngực |
0 |
1 |
|
Dày thành dạ dày |
12 |
18 |
|
Xâm lấn tuỵ |
4 |
6 |
|
Hạch trung that |
4 |
38 |
|
Hạch thân tạng |
22 |
28 |
|
Di căn phúc mạc |
0 |
3 |
|
Số ca mổ |
66 |
|
|
56 |
|
Nữ |
10 |
|
Tuổi trung bình |
59,03 |
|
Tuổi nhỏ nhất |
43 |
|
Tuổi lớn nhất |
77 |
|
K thực quản 1/3
giữa |
27 |
|
K thực quản 1/3
dưới |
39 |
|
T2 |
18 |
|
T3 |
35 |
|
T4 |
14 |
|
N0 |
21 |
|
N1 |
45 |
|
Số TH cắt thực
quản nội soi |
54 |
|
Số TH nội soi ngực
thám sát |
05 |
|
Số TH nội soi bụng
thám sát |
07 |
|
Số Hạch cạnh
dạ dày trung bình |
7 |
|
Số Hạch trung thất trung bình |
5 |
|
Lượng máu mất
trung bình |
20ml |
|
Thời gian mổ
trung bình (phút) |
336,86 |
|
Tổn thương ống
ngực |
02 |
|
Rách khí quản |
02 |
|
Xì miệng nối |
4 (điều trị
bảo tồn) |
|
Nhiễm trùng vết mổ |
0 |
|
Viêm phổi sau mổ |
3 |
|
Tắc ruột sau mổ
|
0 |
|
Khàn tiếng |
03 |
Mổ lại: Không có ca nào.
Tử vong: 01
Ung thư thực quản ở Việt nam thường được phát hiện trong giai đoạn trễ, khi khối u đã xâm lấn xung quanh hoặc đã di căn. Phẫu thuật thường mang tính tạm thời, giảm đau, trường hợp phẫu thuật triệt để không nhiều. Do đó ung thư thực quản có tiên lượng xấu.
Những phương tiện chẩn đoán giai đoạn ung thư thường dùng nhất là siêu âm qua nội soi (endoscopic ultrasonography) và chụp cắt lớp điện toán (CT). Kỹ thuật PET CT (Fluorodeoxyglucose-position emission tomography) là phương tiện chẩn đoán giai đoạn, theo dõi đáp ứng với hoá xạ trị trước mổ, theo dõi sau điều trị triệt để tốt nhất hiện nay, Tuy nhiên tại Việt Nam kỹ thuật này rất tốn kém và không phổ biến. Kỹ thuật này kết hợp với chụp cắt lớp điện toán sẽ tốt hơn nữa trong xác định chẩn đoán.
Siêu âm nội soi thực quản
dạ dày giúp xác định độ xâm lấn tại chỗ
của u. Khi phối hợp với sinh thiết bằng kim
nhỏ sẽ giúp đánh
giá hạch vùng. Giới hạn của siêu âm nội
soi là không đánh giá chính
xác di căn xa, và
trong trường hợp u gay tắc thực quản,
đầu đèn nội
soi không thể đi qua được
khối u, nên không đánh
giá chính xác độ xâm lấn của u được.
Hơn nữa, tại
Việt
Chụp cắt lớp vi tính ngoài việc đánh giá độ xâm lấn tại chỗ của u, còn giúp xác định hạch di căn và di căn xa(4,8).
|
Hình ảnh |
Số bệnh nhân |
|
|
CCLVT |
PHẨU THUẬT |
|
|
Dày thành thực quản |
59 |
66 |
|
Hẹp lòng thực quản |
3 |
5 |
|
Xâm lấn phế quản |
3 |
5 |
|
Xâm lấn ống ngực |
0 |
1 |
|
Dày thành dạ dày |
12 |
18 |
|
Xâm lấn tuỵ |
4 |
6 |
|
Hạch trung that |
4 |
38 |
|
Hạch thân tạng |
22 |
28 |
|
Di căn phúc mạc |
0 |
3 |
Đánh giá độ
xâm lấn tại chỗ của u: trong nghiên cứu có 66
TH phẫu thuật, trong đó
|
|
T3 |
T4 |
|
CCLVT |
38 |
08 |
|
Phẫu thuật |
34 |
13 |
Trong 14 TH u T4, CCLVT trước mổ ghi nhận có 08 TH, trong 08 TH này có 02 TH u thực quản 1/3 giữa được nội soi ngực phải đánh giá thấy u xâm lấn phế quản và tĩnh mạch Azygos, và 06 TH u 1/3 dưới khi nội soi bụng thám sát thấy u xâm lấn dạ dày và mô xung quanh. Cả 08 TH này đều có nghĩ đến khả năng không phẫu thuật triệt để được qua hình ảnh chụp CLVT trước mổ, nên chỉ làm nội soi đánh giá lại sau đó mở hỗng tràng nuôi ăn. Điều này giúp tránh được một sự mở ngực hay mở bụng lớn không cần thiết.
01 TH u xâm lấn ông ngực nhưng không đánh giá qua CCLVT được, khi phẫu thuật có tổn thương ống ngực phải khâu ống ngực trong mổ (1/14).
02 TH u 1/3 giữa T4 không đánh giá được qua CCLVT, khi nội soi ngực phải thấy xâm lấn phế quản, nên chỉ mở hỗng tràng nuôi ăn (2/14).
02 TH u thực quản 1/3 dưới T4 nhưng trên CCLVT không đánh giá được, khi nội soi bụng thấy u xâm lấn dạ dày và tuỵ, cũng chỉ mở hỗng tràng nuôi ăn (2/14).
Theo tác giảAmpi FL(1), chụp cắt lớp vi tính là phương pháp bước đầu trong đánh giá giai đoạn ung thư thực quản. Nếu CCLVT không thấy hình ảnh di căn ngực và bụng, nên thực hiện siêu âm nội soi, sẽ giúp đánh giá độ sâu của xâm lấn tại chỗ và phát hiện di căn hạch vùng. Trong nghiên cứu của chúng tôi không có hình ảnh về siêu âm nội soi do chưa thực hiện được.
Một số điểm trong nhóm phẫu thuật cắt thực quản nội soi:
- 54 bệnh nhân, nam 50, nữ 04
- Lượng máu mất trong mổ không đáng kể.
- Tai biến: 2 trường hợp tổn thương ống ngực, 02 trường hợp rách khí quản. Hai TH tổn thương ông ngực được xử trí khâu qua nội soi, không có biến chứng rò bạch huyết. Hai TH rách khí quản, chúng tôi khâu lai khí quản qua nội soi ngực, một trường hợp ổn định, một trường hợp bị viêm phổi hít vào ngày hậu phẫu 10 và BN tử vong sau đó 01 ngày.
- Không có trường hợp nào tử vong trong mổ.
- Viêm phổi sau mổ: đây là biến chứng đáng ngại trong phẫu thuật cắt thực quản mổ mở. Tuy nhiên với phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng, biến chứng này giảm đáng kể. Chúng tôi có 03 TH viêm phổi sau mổ, 02 TH ổn xuất viện sau 03 tuần, 01 TH viêm phổi hít vào ngày hậu phẫu 10 và BN tử vong sau đó 01 ngày.
Chụp cắt
lớp vi tính trong ung thư thực quản giúp đánh giá giai đoạn ung thư chính xác hơn, giúp tránh được phẫu thuật không cần thiết và
nguy hiểm. Giúp việc chọn lựa phương pháp điều trị chính xác. Khi phối
hợp với nội soi ngực, nội soi bụng đánh giá sẽ giúp việc xác định
giai đoạn
tốt hơn, tránh được tình trạng mở ngực hay mở bụng
thám sát không cần thiết.
1.
6.
Ohtsu A, Boku N, Muro K, et al (1999). Definitive chemoradiotherapy for T4 and/or M1
lymph node squamous cell carcinoma of the esophagus. J lin Oncol; 17:2915–2921
7.
Siewert
JR, Feith M, Werner M, et al (2000). Adenocarcinoma of the esophagogastric junction:
results of surgical therapy based on anatomical/topographic classification in
1002 consecutive patients. Ann
Surg.;232:353–361.
9.
Van Vliet EP,
Heijenbrok-Kal MH, Hunink MG, Kuipers EJ, Siersema PD. Staging investigations
for oesophageal cancer: a meta-analysis. Br J Cancer. 2008 Feb 12;98(3):547-57.
Epub 2008 Jan 22.
* Bệnh viện Chợ Rẫy
Địa chỉ liên hệ: BS. Trần Phùng Dũng Tiến ĐT:
0907576099 Email: tranphung_dungtien@yahoo.com