Nguyễn Tấn Cường*, Hoàng
Đ́nh Tuy*
Đặt vấn đề: Chấn thương
vỡ tá tràng là thương tổn nặng,
khó chẩn đoán,
các phương tiện cận lâm sàng thường
quy không thể chẩn đoán xác định. Nghiên cứu
này đánh giá vai tṛ của
CCLVT trong chẩn đoán
chấn thương
vỡ tá tràng.
Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng tại bệnh viện
Chợ Rẫy với các bệnh nhân chấn thương bụng có CCLVT
trước mổ được chẩn đoán trong mổ là vỡ
tá tràng (nhóm bệnh); được chẩn đoán trong mổ không vỡ
tá tràng (nhóm chứng). Nghiên cứu từ tháng
01/2003 đến tháng 9/2009.
Kết quả: 37 bệnh nhân được đưa vào nhóm bệnh và 65 bệnh
nhân được đưa vào nhóm chứng. CCLVT trong chẩn đoán chấn
thương vỡ tá tràng có độ nhạy 78%, độ đặc
hiệu 100%, độ chính xác 92%, giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán
âm 89%. Vị trí vỡ tá tràng
được xác định trong 33% trường hợp.
Không xác định được mức
độ chấn thương
tá tràng.
Từ khóa: CCLVT, chấn thương tá tràng.
VALUE OF COMPUTERIZED TOMOGRAPHY IN THE DIAGNOSIS TRAUMATIC DUODENAL PERFORATION
Nguyen
Tan Cuong, Hoang Dinh Tuy
* Y Hoc TP. Ho
Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1 – 2010: 92 - 97
Background:Traumatic duodenal perforation requires urgent surgery, however conventional X
-ray or ultrasound can’t confirm exactly diagnosis. We assessed CT findings in
patients who have undergone duodenal injuries to determine its value.
Methods: A restrospective
analysis of abdominal CT-scan of 102 patients with (case) or without
(control) duodenal trauma in
Results: 37 patients in
case group compared with 65 patients in control group. We find CT-scan
sensitivity 78%, specificity 100%, accuracy 92% ,positive
predictive value 100%, negative predictive value 89%. The sites of duodenal
lesion can be exactly located in 33% . Severity grade of trauma
couldnot be confirmed.
Discussion:
Key words: CT scan, duodenal trauma.

Chấn thương tá tràng hiếm gặp, chiếm 0,2% chấn thương bụng phải nhập
viện(1). Ở Việt
Chẩn đoán vỡ tá tràng gặp nhiều khó khăn, do vỡ tá tràng thường kết hợp với các thương tổn khác, nên triệu chứng của vỡ tá tràng bị che lấp bởi t́nh trạng chảy máu trong ổ bụng, viêm phúc mạc và các chấn thương khác ngoài ổ bụng. V́ vậy vỡ tá tràng thường chỉ được phát hiện trong khi mổ. Y văn ghi nhận tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân phẫu thuật trong ṿng 24 giờ sau chấn thương là 5-11%, nhưng nếu sau 24 giờ tỉ lệ tử vong tăng lên 40-65%(5,6,8,13). Theo Toxopeus(14) chỉ có 33% chấn thương vỡ tá tràng sau phúc mạc được chẩn đoán trước mổ.
Theo Breen(2) và Brody(3), thương tổn vỡ tá tràng trên CCLVT gồm những dấu hiệu đặc hiệu như mất liên tục thành tá tràng, hơi tự do sau phúc mạc, thuốc cản quang thoát ra khỏi ḷng tá tràng; và những dấu hiệu không đặc hiệu như hơi tự do trong phúc mạc, dịch tự do trong phúc mạc, dịch tự do sau phúc mạc, hơi trong thành tá tràng, dày thành tá tràng, thành tá tràng bắt thuốc cản quang bất thường. Tuy nhiên chưa có tài liệu nào mô tả đầy đủ giá trị của từng dấu hiệu trên.
Ở Việt
Mục tiêu của nghiên cứu: xác định
giá trị của 2 dấu hiệu đặc hiệu là mất
liên tục thành tá tràng, hơi tự do sau phúc mạc và 5 dấu
hiệu không đặc hiệu là hơi tự do ổ bụng,
dịch tự do sau phúc mạc, dịch tự do trong phúc mạc,
dày thành tá tràng, hơi trong thành tá tràng; xác định khả
năng chẩn đoán của CCLVT về vị trí và mức
độ thương tổn tá tràng.
Nghiên cứu bệnh chứng tại bệnh viện Chợ Rẫy với các bệnh nhân chấn thương bụng có CCLVT trước mổ được chẩn đoán trong mổ là vỡ tá tràng (nhóm bệnh); được chẩn đoán trong mổ không vỡ tá tràng (nhóm chứng). Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2003 đến tháng 9/2009. Loại trừ những trường hợp đă phẫu thuật ổ bụng 2 tuần trước lần CCLVT.
Các phim sẽ
được đọc bởi bác sĩ chuyên khoa CCLVT,
ghi nhận 2 dấu hiệu đặc hiệu (mất liên
tục thành tá tràng, hơi tự do sau phúc mạc) và 5 dấu
hiệu không đặc hiệu (hơi tự do trong phúc mạc,
dịch tự do trong phúc mạc, dịch tự do sau phúc mạc,
dày thành tá tràng hơn 3mm, hơi trong thành tá tràng) của vỡ
tá tràng trên CCLVT. Kết luận có vỡ tá
tràng không? Vị trí
thương tổn, mức độ thương tổn, các thương tổn trong ổ bụng
kèm theo. Người đọc sẽ
không được cung cấp các thông tin về kết quả
phẫu thuật. Trong nghiên cứu này kết quả CCLVT
được đọc bởi cùng một bác sĩ chuyên
khoa CCLVT v́ vậy không có sự khác biệt về khả
năng phát hiện các dấu hiệu trên CCLVT được
quan tâm trong nghiên cứu.
Ở
nước ta việc thực hiện CCLVT với chất
tương phản đường uống để chẩn
đoán chấn thương bụng không phổ biến.
Đa số CCLVT trong cấp cứu chấn thương bụng
ít khảo sát th́ động mạch trừ khi thấy
thương tổn gan ở th́ không tiêm thuốc cản
quang. Hai dấu hiệu thoát thuốc cản quang đường
uống khỏi ḷng tá tràng và thành tá tràng bắt thuốc cản
quang bất thường khó ghi nhận được với
cách CCLVT cấp cứu. V́ vậy đề tài tập trung
ghi nhận và phân tích về 2 dấu hiệu đặc hiệu
và 5 dấu hiệu không đặc hiệu đă nêu trên
CCLVT để chẩn đoán chấn thương vỡ
tá tràng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán vỡ tá
tràng trên CCLVT: phát hiện một trong 2 dấu hiệu đặc
hiệu của vỡ tá tràng là dấu hiệu mất liên tục
thành tá tràng hay dấu hiệu hơi tự do sau phúc mạc.
Vị trí thương tổn
được xác định dựa vào vị trí mất
liên tục thành tá tràng. Mức độ thương tổn
theo Moore(7) được đánh giá dựa vào mức
độ mất liên tục thành tá tràng và các thương tổn
đi kèm như ống mật chủ, tụy.
Các kết quả sẽ được
đối chiếu với thương tổn trong mổ.
Từ đó tính độ nhạy, độ đặc hiệu,
độ chính xác, giá trị tiên đoán dương, giá trị
tiên đoán âm của CCLVT trong chẩn đoán chấn
thương vỡ tá tràng, khả năng chẩn đoán của
CCLVT về mức độ và vị trí thương tổn.
Từ tháng
01/2003 đến tháng 9/2009, tại Bệnh viện Chợ
Rẫy, có tổng cộng 37 bệnh nhân được
đưa vào nhóm bệnh và 65 bệnh nhân được
đưa vào nhóm chứng.
Bảng
1: Đặc điểm về giới
tính, tuổi của dân số mẫu nghiên cứu.
|
Đặc điểm |
Nhóm vỡ tá tràng n=37 |
Nhóm chứng n=65 |
|
|
Giới |
|
34 (92%) |
50 (77%) |
|
Nữ |
3 (8%) |
15 (23%) |
|
|
Tuổi |
33,22 |
33,15 |
|
Bảng
2:
Nguyên nhân chấn thương của nhóm vỡ tá tràng và
nhóm chứng
|
Nguyên nhân chấn
thương |
Nhóm vỡ tá tràng |
Nhóm chứng |
||
|
n |
% |
n |
% |
|
|
TNGT |
30 |
81 |
51 |
79 |
|
TNLĐ |
4 |
11 |
8 |
12 |
|
TNSH |
3 |
8 |
6 |
9 |
- Mất liên tục thành tá tràng: nhóm bệnh 32%, nhóm chứng 0%.
- Hơi tự do sau phúc mạc: nhóm bệnh 76%, nhóm chứng 0%.
- Hơi tự do trong phúc mạc: nhóm bệnh 62%, nhóm chứng 28%.
- Dịch tự do trong phúc mạc: nhóm bệnh 97%, nhóm chứng 97%.
- Dịch tự do sau phúc mạc: nhóm bệnh 92%, nhóm chứng 11%.
- Dày thành tá tràng: nhóm bệnh 65%, nhóm chứng 6%.
- Hơi trong thành tá tràng: nhóm bệnh 8%, nhóm chứng 0%.
Bảng 3: Giá trị chẩn đoán vỡ tá tràng của các
dấu hiệu trên CCLVT.
Dấu
hiệu |
Độ
nhạy (%) |
Độ
đặc hiệu (%) |
Giá trị
tiên đoán
dương (%) |
Giá trị
tiên đoán âm (%) |
Độ
chính xác (%) |
|
Hơi tự do sau phúc mạc |
75 |
100 |
100 |
87 |
91 |
|
Mất liên tục
thành tá tràng |
32 |
100 |
100 |
72 |
75 |
|
Hơi tự do trong phúc mạc |
62 |
72 |
56 |
77 |
68 |
|
Dịch tự do trong
phúc mạc |
97 |
3 |
36 |
66 |
63 |
|
Dịch tự do sau
phúc mạc |
91 |
89 |
82 |
95 |
90 |
|
Dày thành tá tràng >3mm |
64 |
93 |
85 |
82 |
83 |
|
Hơi trong thành tá
tràng |
8 |
100 |
100 |
65 |
66 |
Bảng 4: Kết luận của CCLVT trong nhóm vỡ tá tràng và nhóm chứng.
|
Kết luận |
Nhóm vỡ tá tràng |
Nhóm chứng |
||
|
n |
% |
n |
% |
|
|
Vỡ tá tràng |
29 |
78 |
0 |
0 |
|
Khác |
8(*) |
22 |
65 |
100 |
(*: gồm vỡ tạng rỗng 6 trường hợp, vỡ thận 1 trường hợp, tụ máu sau phúc mạc 1 trường hợp).
Kết quả CCLVT trước mổ chỉ xác định được 38% các trường hợp vỡ tá tràng.
- Độ nhạy của CCLVT trong chẩn đoán vỡ tá tràng: 78%.
- Độ đặc hiệu của CCLVT trong chẩn đoán vỡ tá tràng: 100%.
- Giá trị tiên đoán dương của CCLVT trong chẩn đoán vỡ tá tràng: 100%.
- Giá trị tiên đoán âm của CCLVT trong chẩn đoán vỡ tá tràng: 89%.
- Độ chính xác của CCLVT trong chẩn đoán vỡ tá tràng: 92%.
Bảng 5: Vị trí thương
tổn trên CCLVT và trong mổ của nhóm vỡ tá tràng.
Vị trí thương tổn tá tràng |
CCLVT |
Trong mổ |
||
|
n |
% |
n |
% |
|
|
D1 |
1 |
3 |
3 |
8 |
|
D2 |
8 |
22 |
18 |
49 |
|
D3 |
3 |
8 |
10 |
27 |
|
D4 |
0 |
0 |
6 |
16 |
|
Không xác định |
25 |
67 |
0 |
0 |
Trong mổ xác định có 9 trường hợp (24%) vỡ tá tràng trong phúc mạc và 28 trường hợp (76%) vỡ tá tràng sau phúc mạc. Đa số (43%) trường hợp là vỡ độ 2.
- Vị trí vỡ tá tràng: 12 trường hợp(33%).
- Đường kính chỗ vỡ: Không xác định được.
- Tổn thương đầu tụy: Xác định có 4 trường hợp nhưng không đánh giá được mức độ thương tổn.
- Tổn thương ống mật chủ: Xác định được 1 trường hợp.
Không xác định
được mức độ thương tổn chấn
thương tá tràng trên CCLVT.
Nhóm bệnh và nhóm chứng không khác biệt về giới,
tuổi, nguyên nhân chấn thương. Các dấu hiệu của
vỡ tá tràng trên CCLVT được định nghĩa rơ
ràng. Chẩn đoán vỡ tá tràng trên CCLVT khi có 1 trong 2 dấu
hiệu đặc hiệu. Người đọc phim là
BS chuyên khoa về h́nh ảnh CCLVT, hoàn toàn độc lập,
không được cung cấp thông tin sau mổ.
Độ đặc hiệu và giá trị
tiên đoán dương đạt 100% chứng tỏ
đây là dấu hiệu giúp chẩn đoán xác định
vỡ tá tràng.
Mất liên tục thành tá tràng là dấu
hiệu ít gặp với độ nhạy là 32% v́ đa số
(43%) vỡ tá tràng trong nhóm nghiên cứu là vỡ độ
2, chỗ vỡ nhỏ hơn 50% khẩu kính tá tràng, có thể
chỗ vỡ nhỏ, khó phát hiện ngay cả khi thám sát
trong mổ, chỗ vỡ nằm giữa hai lát cắt của
CCLVT.
Đa số dấu hiệu này được
phát hiện ở đoạn D2 tá tràng. Trên CCLVT h́nh ảnh
D2 tá tràng là h́nh tṛn, dễ nhận thấy dấu hiệu mất
liên tục hơn trên các đoạn ngang như D1, D3, D4, và
tỉ lệ vỡ ở D2 trong nhóm nghiên cứu là cao nhất
(49%).
Độ đặc hiệu và giá trị
tiên đoán dương đạt 100%, chứng tỏ
đây là dấu hiệu giúp chẩn đoán xác định
vỡ tá tràng.
Trong nghiên cứu hơn ¾ các trường hợp
(76%) vỡ tá tràng chúng tôi phát hiện dấu hiệu hơi
sau phúc mạc, cao hơn hẳn so với độ nhạy
của dấu hiệu mất liên tục thành tá tràng nên
đây là dấu hiệu quan trọng nhất trong chẩn
đoán xác định vỡ tá tràng trên CCLVT.
Dấu hiệu này được nhận
thấy nhiều nhất và rơ ràng nhất ở khoang quanh thận
phải.
Độ nhạy đạt 62% trong khi vỡ tá tràng trong phúc mạc (đoạn đầu D1 và D4) của nhóm nghiên cứu là 9 trường hợp chiếm 24%, chứng tỏ vỡ tá tràng sau phúc mạc cũng gây nên dấu hiệu hơi tự do trong ổ bụng. Điều này được kiểm chứng trong mổ là có những trường hợp vỡ tá tràng sau phúc mạc kèm rách phúc mạc thành sau, hơi trong ḷng tá tràng thoát qua chỗ vỡ có thể vào trong ổ bụng tạo thành hơi tự do trong ổ bụng.
Độ nhạy của hơi tự do trong ổ bụng thấp hơn so với hơi tự do sau phúc mạc, có thể do nhiều nguyên nhân. Tỉ lệ vỡ tá tràng trong phúc mạc thấp hơn so với sau phúc mạc, hơi sau phúc mạc dễ phát hiện hơn v́ thường tập trung ở các khoang cận thận phải c̣n hơi tự do trong ổ bụng có thể nằm bất cứ vị trí nào trong ổ bụng và ngay cả trong tĩnh mạch mạc treo, tĩnh mạch cửa. Như trong nghiên cứu chúng tôi phát hiện có 1 trường hợp có hơi trong tĩnh mạch cửa.
Đây là dấu hiệu gặp nhiều nhất trong nghiên cứu, độ nhạy lên đến 97%, tuy nhiên độ đặc hiệu chỉ đạt 3%. V́ vậy sự xuất hiện dấu hiệu dịch ổ bụng trên CCLVT có giá trị rất kém trong chẩn đoán chấn thương vỡ tá tràng, khi không có dịch trong ổ bụng cũng không loại trừ được khả năng bệnh nhân bị vỡ tá tràng.
Trong vỡ tá tràng, dịch ổ bụng có thể thoát từ tá tràng khi chỗ vỡ trong phúc mạc, hay thấm từ phúc mạc thành sau khi chỗ vỡ ngoài phúc mạc, hoặc do các thương tổn đi kèm với vỡ tá tràng.
Đây là dấu hiệu gặp nhiều thứ hai sau dấu hiệu dịch tự do trong phúc mạc, độ nhạy đạt 92%, đa số trường hợp dấu hiệu này phát hiện ở quanh tá tràng, các khoang cận thận phải.
Không như dấu hiệu dịch tự do trong ổ bụng, dấu hiệu dịch tự do sau phúc mạc có độ nhạy, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm rất cao. Trong nhóm chứng chúng tôi cũng phát hiện 7 trường hợp chiếm 11% có dịch tự do sau phúc mạc, nhưng tất cả đều nằm ở vùng đuôi tụy hay lan rộng từ vùng này đến hố chậu trái, thương tổn trong mổ đều là máu tụ sau phúc mạc do vỡ lách kèm dập đuôi tụy hay chấn thương thận trái. Như vậy dịch tự do sau phúc mạc là dấu hiệu có giá trị cao trong chẩn đoán chấn thương vỡ tá tràng nhất là khi khu trú ở quanh tá tràng và khoang cận thận phải.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn tiêu chuẩn xác định dày thành tá tràng là hơn 3mm. Với tiêu chuẩn này chúng tôi phát hiện dấu hiệu này trong 65% các trường hợp của nhóm vỡ tá tràng, và độ đặc hiệu là 94%.
Trong nhóm chứng chúng tôi cũng phát hiện có 4 trường hợp (6%) có dấu hiệu dày thành tá tràng. Những trường hợp dương tính giả này có thể do tiêu chuẩn xác định dày thành tá tràng của chúng tôi không xét đến mức độ căng của ḷng tá tràng và v́ không như ở ruột non có thể t́m một đoạn ruột có mức căng tương ứng để so sánh với nhau.
Hiếm gặp nhưng độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương đạt 100%, chứng tỏ đây là dấu hiệu giúp chẩn đoán xác định vỡ tá tràng.
Với tiêu chuẩn chẩn đoán vỡ tá tràng trên CCLVT được chọn trong nghiên cứu là khi có ít nhất một trong hai dấu hiệu là mất liên tục thành tá tràng hoặc hơi tự do sau phúc mạc, tỉ lệ chẩn đoán vỡ tá tràng trên CCLVT trong nghiên cứu của chúng tôi (78%) cao hơn so với kết luận của CCLVT trước mổ (38%). Điều này có thể giải thích do chúng tôi tập trung chú ư đến các dấu hiệu vỡ tá tràng trên CCLVT, kết quả được đọc bởi cùng một bác sĩ chuyên về CCLVT, khả năng phát hiện các dấu hiệu vỡ tá tràng trên CCLVT của các bác sĩ trong cấp cứu khác nhau.
Việc chẩn đoán vị trí thương tổn tá tràng trên CCLVT phụ thuộc hoàn toàn vào vị trí mất liên tục thành tá tràng, v́ vậy trong nghiên cứu có đến 67% trường hợp trong nhóm vỡ tá tràng không xác định được vị trí thương tổn trên CCLVT.
Trong nghiên cứu h́nh ảnh tá tràng trên CCLVT được khảo sát bằng những lát cắt trên mặt phẳng ngang nên h́nh ảnh đoạn D2 tá tràng là dễ quan sát nhất, tỉ lệ phát hiện thương tổn D2 tá tràng là cao nhất 8 trong 18 trường hợp, đoạn D4 khó khảo sát nhất, không có trường hợp nào phát hiện được thương tổn trong 6 trường hợp vỡ D4 tá tràng.
Để
xác định mức độ thương tổn theo
phân độ chấn thương tá tràng của
Như vậy CCLVT phát hiện được 32,4% vị trí vỡ tá tràng nhưng không đánh giá được mức độ thương tổn trừ khi thấy tổn thương ống mật chủ.
Qua nghiên cứu h́nh ảnh CCLVT của 37 bệnh nhân trong nhóm vỡ tá tràng và 65 bệnh nhân trong nhóm chứng, chúng tôi rút ra các kết luận sau:
1. Dấu hiệu mất liên tục thành tá tràng và hơi tự do sau phúc mạc giúp chẩn đoán xác định chấn thương vỡ tá tràng. Trong đó dấu hiệu hơi tự do sau phúc mạc là quan trọng nhất để chẩn đoán vỡ tá tràng trên CCLVT.
2. Trong 5 dấu hiệu không đặc hiệu trên CCLVT của vỡ tá tràng, dấu hiệu dịch tự do sau phúc mạc có giá trị nhất, dấu hiệu dịch tự do trong phúc mạc hầu như không có giá trị để chẩn đoán chấn thương vỡ tá tràng.
3. CCLVT có thể xác định được vị trí vỡ tá tràng nhưng độ nhạy không cao. CCLVT không đánh giá được mức độ chấn thương tá tràng trừ khi phát hiện có dấu hiệu tổn thương ống mật chủ.
Như vậy với 2 dấu hiệu đặc hiệu và 5 dấu hiệu không đặc hiệu được dùng trong nghiên cứu, CCLVT giúp ích cho chẩn đoán chấn thương vỡ tá tràng.
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1. Allen GS., Moore FA., Cox CS. Jr., et al. (1998). "Delayed diagnosis of blunt duodenal injury: an avoidable complication". J Am Coll Surg, 187, pp. 393-9.
2.
Breen DJ., Janzen DL. , Zwirewich CV., et al (1997). "Blunt bowel ,
mesenteric injury: diagnostic performance of CT signs". J Comput Assist
Tomogr, 21, pp. 706-712.
3. Brody JM., Leighton DB., Murphy BL. , et al. (2000). "CT of blunt trauma bowel , mesenteric injury: typical findings , pitfalls in diagnosis". RadioGraphics 20 pp. 1525–1537.
4.
Đoàn Thành Công, Đỗ
Văn Sơn, Trần Hồng Vũ
(2002). "Nhân 126 trường hợp tổn
thương tạng rỗng do chấn
thương và vết thương
thấu bụng". Kỷ yếu toàn văn
các đề tài khoa học - Hội nghị ngoại
khoa toàn quốc Việt
5.
Glazer GM.,
Buy JN., Moss AA., et al.
(1981). "CT detection of duodenal perforation". AJR, 137, pp.
333-336.
6.
Lucas C. , Ledgerwood A. (1975). "Factors influencing
outcome after blunt duodenal injury". J trauma, 15, pp. 839-846.
7.
8.
Rizzo MJ., Federle MP. ,
9.
Nguyễn
Bá Sơn và cs (2000).
"Một số nhận
xét về chẩn đoán, tổn thương và xử
trí chấn thương bụng kín thời b́nh". Y học
quân sự, Số chuyên đề kỷ niệm 25 năm ngày truyền
thống bệnh viện 175, tr. 75-79.
10.
Nguyễn
Khánh Dư và cs (1992).
"Nhân 17 trường hợp
vỡ tá tràng". Kỷ yếu công tŕnh nghiên cứu khoa học
17 năm bệnh viện Chợ Rẫy
(1975-1992), tr. 256-258.
11.
Nguyễn
Tấn Cường, Bùi Văn
Ninh, Nguyễn Bá Nhuận, và
cs (2004). "Tổng kết kinh nghiệm xử trí 169 chấn
thương và vết thương tá tràng trong 25 năm tại Bệnh Viện Chợ Rẫy".
Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, 8 (3), tr. 15-32.
12.
Phạm
Đức Huấn, Nguyễn Tuấn Anh, Trịnh Văn Tuấn,và cs (1995). "Một số nhận xét về
lâm sàng và điều trị vỡ tá tràng". Ngoại
Khoa, Số chuyên đề hội nghị ngoại khoa về
cấp cứu bụng và cơ
quan vận động, Số
tháng 9/1995, tr. 157-163.
13.
Roman E., Silva Y. , Lucas C. (1971). "Management of blunt duodenal injury". Surg Gynecol Obstet
1(32), pp. 7-14.
14.