Đỗ Ngọc Xuân Trang*, Nguyễn
Duy Tài*
Mở
đầu: Xuất huyết
tử cung hậu mãn kinh là một chỉ định bắt
buộc của nạo sinh thiết từng phần, nhằm
xác định nguyên nhân gây xuất huyết. Tuy nhiên những
bất lợi của nạo sinh thiết đòi hỏi cần
phải phát triển một phương pháp không xâm lấn khác. Trong những năm gần đây, siêu âm ngã âm đạo
đã cải thiện đáng kể độ chính xác của
việc khảo sát hình thái nội mạc tử cung. Nhiều
nghiên cứu nhận thấy thông số bề dày nội mạc
tử cung qua siêu âm có ích trong tiên đoán những bất
thường của nội mạc tử cung.
Phương pháp nghiên cứu: Một thử nghiệm chẩn đoán với 292 phụ
nữ xuất huyết tử cung hậu mãn kinh được
thực hiện nhằm khảo sát mô học NMTC và xác định
điểm cắt đoạn bề dày NMTC có độ nhạy
thích hợp nhất để loại trừ bệnh lý
NMTC.
Kết quả: 74,66% trường hợp nội mạc tử cung
bình thường, không cần nạo sinh thiết, 12,67%
trường hợp nội mạc tử cung có tổn
thương lành tính
(viêm nội mạc tử cung, tăng sinh điển hình, polyp) và 12,67% trường hợp ác tính
Kết luận: Bề dày nội mạc tử cung qua siêu âm ngã âm
đạo có giá trị giới hạn trong tiên đoán bệnh
lý nội mạc tử cung. Vì thế, việc nạo sinh
thiết từng phần vẫn được khuyến
cáo cho tất cả các đối tượng ra huyết hậu
mãn kinh.
Từ khóa: Siêu âm ngã âm đạo, xuất huyết tử cung hậu mãn kinh, nội mạc tử cung, nội mạc tử cung bệnh lý, nội mạc tử cung bình thường, bề dày nội mạc tử cung.
THE VALUE OF ENDOMETRIAL THICKNESS BY TRANSVAGINAL SONOGRAPHY FOR PREDICTING PATHOLOGICAL ENDOMETRIUM IN WOMEN WITH POSTMENOPAUSAL UTERINE BLEEDING
Do Ngoc Xuan Trang, Nguyen Duy T ài
* Y Hoc TP. Ho
Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 303 - 310

Introduction: Uterine bleeding
is an absolute indication of the fractional curettage for identifying the
causes. However, the disadvantages of the curettage implie the necessity of
developing other non-invasive method. In recent years, transvaginal sonography
has greatly improved the accuracy of evaluating endometrial morphology. Studies
have shown the usefulness of measuring endometrial thickness using transvaginal
sonography in predicting endometrial abnormalities.
Methods: A diagnostic test with 292 women with
postmenopausal bleeding was made in order to investigate the endometrial
histopathology and to determine the most sensitive cut-off value of endometrial
thickness for the exclusion of endometrial lesions.
Results: 74.66% normal endometrium, do not require
the curettage, 12.67% benign lesions
Conclusions: The endometrial
thickness by transvaginal sonography has a limited validity in predicting
pathological endometrium. So, we recommend that all of the women with
postmenopausal vaginal bleeding should be partially curettaged
Keywords: Transvaginal sonography, postmenopausal bleeing, endometrium, pathological endometrium, normal endometrium, endometrial thickness.
Xuất huyết
tử cung hậu mãn kinh là tình trạng ra huyết âm đạo
trở lại sau 12 tháng vô kinh liên tiếp(1). Trong những trường
hợp này, nạo sinh thiết từng phần luôn là lựa
chọn hàng đầu để chẩn đoán nguyên nhân
xuất huyết(11). Tuy nhiên, nạo sinh thiết
lại là một phương pháp xâm lấn, gây đau(10), chi phí thủ thuật cao
và không phải không có nguy cơ như thủng tử cung, nhiễm trùng và chảy
máu(12). Đặc biệt, ở
các phụ nữ đã mãn kinh, cổ tử cung thường
bị teo hẹp và cứng chắc, gây khó khăn cho
việc nong- nạo
buồng tử cung, cũng như tăng nguy cơ tai biến do thủ thuật cho người bệnh(2). Tiếp đó, các bệnh
lý nội khoa như cao huyết áp, đái tháo đường, thiếu
máu cơ tim hay đi kèm ở người cao tuổi có thể trở
nặng thêm do thủ thuật hoặc cản trở việc
thực hiện thủ thuật.
Nhiều phương
pháp sinh thiết nội mạc tử cung khác lần lượt được ra đời nhằm thay thế nạo sinh thiết từng phần, trong
đó sinh thiết qua nội soi buồng tử cung được
tin tưởng với độ nhạy cao 96,5% và độ đặc hiệu 93,6%(8), nhưng dù sao, đây
cũng là một phương
pháp xâm lấn và đặc biệt chi phí thủ
thuật lại quá cao so với thu nhập bình quân của một người dân
ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, một điều quan trọng mà các bác sĩ phụ khoa nhận ra rằng giải phẫu bệnh của các trường hợp xuất huyết hậu mãn kinh hầu hết là bình thường hay lành tính với 60-80% teo nội mạc tử cung
Từ năm 1987, siêu âm ngã âm đạo với đầu dò tần số cao cho phép khảo sát rõ hình ảnh tử cung, đặc biệt nội mạc tử cung đã mở ra cho các nhà lâm sàng nhiều bước nghiên cứu mới. Người ta nhận thấy việc khảo sát bề dày nội mạc tử cung
Hiện nay, tại bệnh viện Hùng Vương, chúng tôi chưa có một nghiên cứu nào đánh giá vai trò của BDNMTC trong chẩn đoán bệnh lý NMTC. Do đó, phác
đồ nạo sinh thiết từng phần luôn được đặt ra cho tất cả các trường hợp xuất huyết tử cung hậu mãn kinh, dù NMTC dày hay mỏng. Tuy nhiên, nếu thực sự có thể sử dụng BDNMTC
để phân biệt nội mạc tử cung bình thường hay bệnh lý trước khi nạo sinh thiết thì gần 70% các trường hợp xuất huyết hậu mãn kinh tránh được thủ thuật này(10,11,15). Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Khảo sát giá trị của bề dày nội mạc tử cung qua siêu âm ngã âm đạo trong tiên đoán bệnh lý NMTC ở phụ nữ ra huyết hậu mãn kinh”
Xác định giá trị của bề dày
nội mạc tử cung qua siêu âm ngã âm đạo trong tiên
đoán bệnh lý NMTC ở phụ nữ ra huyết hậu
mãn kinh.
-
Xác
định tỷ lệ các bệnh lý NMTC thường gặp
ở phụ nữ xuất huyết hậu mãn kinh
-
Xác
định độ nhạy, độ đặc hiệu,
giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của
BDNMTC để tiên đoán bệnh lý NMTC ở từng
điểm cắt đoạn BDNMTC. Từ đó chọn
điểm cắt đoạn BDNMTC có độ nhạy
thích hợp nhất.
Thử nghiệm chẩn đoán
Tại
khoa Nội tiết bệnh viện Hùng Vương từ
01/06/2006 đến 30/06/2008
phụ nữ mãn kinh bị
xuất huyết âm đạo đến
khám tại bệnh viện Hùng Vương
Phụ nữ mãn kinh ≥ 12 tháng bị
xuất huyết tử cung nhập vào khoa Nội tiết của
bệnh viện Hùng Vương.
Xuất huyết tử cung sau mãn kinh liên
tiếp ≥ 12 tháng, không sử dụng nội tiết tố
hoặc Tamoxifen trong 6 tháng gần nhất, có siêu âm ngã âm
đạo khảo sát NMTC (độ phản âm, bờ NMTC,
BDNMTC), có nạo sinh thiết từng phần trong vòng 24 giờ
sau siêu âm và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Không đồng
ý tham gia nghiên cứu, mắc bệnh lý nội khoa nặng
không thể tham gia nghiên cứu hoặc không thỏa một
trong các tiêu chuẩn chọn mẫu.
Tiêu chuẩn loại trừ
khi phân tích số liệu: thiếu các dữ kiện cơ bản
trong hồ sơ nghiên cứu, nạo sinh thiết
không thực hiện được hoặc không cho kết quả đạt
yêu cầu.
Được tính để
thực hiện mục tiêu khảo sát tính giá trị của
BDNMTC để tiên đoán bệnh lý NMTC

z =1,96 ở độ tin cậy 95% (α=0,05)
d=0,05
p=độ nhạy ở
các điểm cắt đoạn BDNMTC khác nhau trong nghiên cứu
của Conoscenti và cộng sự năm 1995(4)
Bảng
1:
Tính cỡ mẫu ở từng điểm cắt đoạn
BDNMTC
|
Điểm cắt đoạn BDNMTC |
Độ nhạy |
Cỡ mẫu |
|
3mm |
100 |
- |
|
4mm |
95,2 |
71 |
|
5mm |
83,9 |
208 |
|
6mm |
79 |
255 |
|
7mm |
77,4 |
269 |
Vậy cỡ mẫu cho
nghiên cứu được tính ở điểm cắt
đoạn BDNMTC 7mm (cộng với tỷ lệ mất dấu
cho phép 8%) là 269 + 8% x 269 # 291 bệnh nhân
Chúng tôi đã thực hiện
nghiên cứu này trên 308 đối tượng xuất huyết
hậu mãn kinh, nhưng chỉ có 292 trường
hợp thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được
đưa
vào phân tích.
Tất cả
các đối tượng nghiên cứu được hỏi
bệnh sử, khám phụ khoa, siêu âm ngã âm đạo có khảo
sát NMTC: độ phản âm NMTC, bờ NMTC, đo BDNMTC
Tất cả các thông tin của
bệnh nhân được thu thập trong phiếu thu thập
số liệu. Sau đó được nhập và phân tích bằng
phần mềm Stata 10.0. Bảng 2x2 được sử dụng
để xác định tính giá trị của test nhanh
(độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị
tiên đoán dương và giá trị tiên
đoán âm), vẽ đường cong ROC để xem độ
mạnh của chẩn đoán phù hợp.
Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu vì nghiên cứu thực hiện theo phác đồ điều trị bệnh của bệnh viện Hùng Vương. Mọi thông tin của bệnh nhân đều được giữ bí mật. Kết quả nghiên cứu sẽ phục vụ cho hướng điều trị xuất huyết hậu mãn kinh về sau.
Qua 292 trường hợp, nghiên cứu rút ra
một số đặc điểm sau: tuổi trung bình của
nghiên cứu 59,4±9,3 tuổi
Bảng 2: Mô học NMTC của
292 phụ nữ ra huyết hậu mãn kinh
|
Mô học NMTC |
Số trường hợp |
% |
|
Nội mạc
tử cung bình thường |
218 |
74,66 |
|
Nội mạc
tử cung bệnh lý |
74 |
25,34 |
|
Bệnh lý lành tính |
|
|
|
Viêm NMTC |
13 |
4,45 |
|
Polyp NMTC |
4 |
1,37 |
|
Tăng
sinh đơn
giản điển
hình |
16 |
5,48 |
|
Tăng
sinh phức tạp
điển hình |
4 |
1,37 |
|
Bệnh lý tiền ung thư-ung thư NMTC |
|
|
|
Tăng
sinh đơn
giản không
điển hình |
1 |
0,34 |
|
Tăng
sinh phức tạp
không điển hình |
11 |
3,77 |
|
Ung thư
NMTC |
25 |
8,56 |
Siêu âm ngã âm đạo các
đối tượng nghiên cứu cũng ghi nhận một số đặc điểm
chung sau: đường kính trước sau của tử
cung trung bình 41,9±10,9mm
Khi đo BDNMTC, chúng tôi ghi nhận NMTC bình
thường trung bình dày 4,0±1,7mm, mỏng hơn nhiều so với NMTC bệnh
lý 10,7±5,0mm và sự khác biệt này có ý nghĩa về phương diện thống kê với
p=0,0000
Bảng 3: Tương quan giữa mô học và bề dày nội mạc tử cung
qua siêu âm ngã âm đạo
|
Mô học |
N |
Bề dày nội mạc tử cung |
|||
|
Trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Sai số chuẩn |
KTC 95% |
||
|
NMTC bình thường |
218 |
4,0 |
1,7 |
0,1 |
3,8-4,3 |
|
NMTC bất thường |
74 |
10,7 |
5,0 |
0,5 |
9,5-11,8 |
Phân tích tính
giá trị của BDNMTC trong tiên đoán NMTC bệnh lý ở
các phụ nữ ra huyết hậu mãn kinh ở nhiều
điểm cắt đoạn BDNMTC khác nhau, chúng tôi nhận
thấy điểm cắt đoạn BDNMTC 5 mm là phù hợp
nhất với độ nhạy, độ đặc hiệu
khá cao 91% và 63%. Giá trị tiên đoán dương và
âm tương ứng là 46% và 95%. Với
ngưỡng giá trị này, chúng tôi bỏ sót 7 trường
hợp bệnh lý NMTC: 5 trường hợp viêm NMTC, 1
trường hợp tăng sinh đơn giản điển hình và 1 trường hợp
ung thư NMTC
Bảng 4: Tính giá trị của
BDNMTC để tiên đoán NMTC bệnh lý
|
Điểm cắt đoạn
ĐDNMTC |
Độ nhạy % |
Độ đặc hiệu % |
GTTĐ % |
GTTĐ % |
Bệnh lý bị sót |
Tiền
ung-ung thư bị
sót |
|
≥ 4mm |
95 |
43 |
36 |
96 |
3 |
1 |
|
≥ 5mm |
91 |
63 |
46 |
95 |
7 |
1 |
|
≥ 6mm |
81 |
79 |
57 |
92 |
14 |
1 |
|
≥ 7mm |
74 |
90 |
72 |
91 |
19 |
4 |
|
≥ 8mm |
65 |
96 |
85 |
89 |
26 |
6 |
|
≥ 9mm |
59 |
99 |
97 |
87 |
30 |
8 |
Đường
cong ROC thể hiện độ nhạy và tỷ lệ
dương
tính giả (1- độ đặc
hiệu) thay đổi với các ngưỡng chẩn
đoán khác nhau và diện tích dưới đường
cong ROC: 0,89±0,02

Hình 1 Phân bố đường cong ROC về độ nhạy và dương giả của test tiên đoán NMTC bệnh lý
Xuất
huyết tử cung hậu mãn kinh là một chỉ định
của nạo sinh thiết từng phần tại bệnh
viện Hùng Vương. Do đó, 292 đối
tượng được tuyển chọn trong nghiên cứu
này đều đã được nạo sinh thiết và
có kết quả đạt yêu cầu. Chúng tôi ghi nhận
74,66% trường hợp xuất huyết có mô học NMTC
hoàn toàn bình thường
Trong y văn, BDNMTC trong độ tuổi sinh đẻ, ở giai đoạn
phát triển, từ 4-8mm, còn ở giai đoạn chế tiết,
từ 7-11 mm. Nhưng khi bước qua tuổi
mãn kinh, NMTC teo dần. Trong nghiên cứu của chúng tôi,
BDNMTC của nhóm mô học bình thường
Phân tích sự phân bố bệnh
lý NMTC ở mỗi điểm cắt đoạn BDNMTC
Nếu chọn
điểm cắt đoạn ĐDNMTC 5mm, độ đặc hiệu
tăng lên 63%, độ nhạy ở mức 91%, có thể chấp
nhận được nhưng ngoài 1 trường hợp ung thư NMTC
có BDNMTC bằng 2
thì nghiên cứu ghi nhận thêm 6 trường hợp bệnh
lý NMTC bị bỏ sót nữa, trong đó gồm 5 trường
hợp viêm NMTC và 1 trường hợp tăng sinh NMTC đơn giản điển hình. Thực
sự viêm NMTC là một tổn thương hoàn
toàn lành tính, không bắt
buộc phải nạo sinh thiết và đáp ứng rất
tốt với kháng sinh điều trị nên việc bỏ
sót tổn thương này không gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong khi đó, mặc dù tăng sinh NMTC đơn giản điển hình
được các nhà giải phẫu bệnh lý xếp vào
nhóm NMTC lành tính, nhưng thực sự có từ 1%-3% trường hợp
này sẽ tiến triển thành ung thư NMTC
trong vòng 10 năm(16). Do đó việc bỏ sót
thương tổn
NMTC này cũng khó được chấp nhận. So sánh với các nghiên cứu
trong y văn
Nâng điểm cắt đoạn BDNMTC lên 6 mm
thì độ nhạy chỉ còn 81% và 14 trường hợp
bệnh lý NMTC có BDNMTC < 5mm, trong đó có 1 trường hợp
ung thư NMTC, 1 trường
hợp tăng sinh phức
tạp không điển hình
Giả sử chúng tôi hạ
ngưỡng chẩn đoán xuống thấp hơn 3mm
hoặc 2mm, chấp
nhận tỷ lệ dương giả cao như đã nói ở trên thì chúng tôi cũng
không thể loại
bỏ được trường hợp ung thư NMTC với BDNMTC = 2mm. Tương tự trong nghiên cứu của
Sadoon năm 2007(18), tác giả này cũng
đã cố gắng
hạ ngưỡng chẩn đoán của BDNMTC từ 5mm
xuống 3mm, chấp nhận tỷ lệ dương giả rất cao nhưng tác
giả cũng
không thể nào loại
trừ được 2 trường hợp ung thư NMTC. Do đó, việc hạ thấp
ngưỡng chẩn đoán không có ý nghĩa.
Thực sự, BDNMTC qua siêu âm ngã âm đạo
có giá trị trong chẩn đoán bệnh lý NMTC ở nhiều
nghiên cứu trong y văn và trong nghiên cứu của
chúng tôi. Nếu chọn điểm cắt đoạn 5mm
làm giá trị ngưỡng chọn bệnh nạo sinh thiết
thì chúng tôi có thể giảm được 50% các trường
hợp nạo sinh thiết, tương tự trong nghiên cứu của Granberg và cộng
sự là 70%(10). Thêm vào đó, diện tích dưới đường
cong ROC
Tuy nhiên trở
lại với thực tế, test chẩn đoán này thực
sự không đem lại cho các bác sĩ phụ khoa cũng như bệnh
nhân sự an tâm vì nguy cơ bỏ sót ung thư NMTC đến 4%
tổng số trường hợp ung thư NMTC được phát hiện qua nạo sinh thiết
từng phần.
Do đó, chúng tôi vẫn khuyến cáo nên nạo
sinh thiết từng phần cho tất cả các trường
hợp xuất huyết hậu mãn kinh. Việc siêu âm ngã âm
đạo khảo sát tử cung và hai phần phụ
trước khi nạo sinh thiết vẫn cần thiết.
Một là thông số BDNMTC giúp chúng ta tiên đoán trước
nạo sinh thiết NMTC đó có khả năng bệnh lý không. Hai là
phát hiện những trường hợp u xơ tử cung to (17,1%) hoặc
u buồng trứng
Siêu âm ngã âm đạo khảo sát tử cung và hai phần phụ trước nạo sinh thiết là cần thiết.. Tuy nhiên thông số BDNMTC chỉ có một giá trị nhất định trong tiên đoán NMTC bệnh lý. Do đó, các phụ nữ xuất huyết tử cung hậu mãn kinh vẫn được khuyến cáo nên được nạo sinh thiết từng phần, dù NMTC là bao nhiêu.
1. Bộ môn phụ sản Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. (2006). Mãn kinh. Sách Sản phụ khoa, 2: 689-697.
2.
Brölmann H, Dijkhuizen F & B, M. (2004). The clinical importance of the microcurettage.
Reviews in Gynaecological Practice, 4: 58-64.
3.
Cacciatore B, Tamsay T, Lehtovirta P & Ylöstalo P.
(1994). Transvaginal sonography and
hysteroscopy in postmenopausal bleeding. Acta Obstet Gynecol Scand, 73: 413-416.
4.
Conoscenti G, Meir YJ, Fischer-Tamaro L, Maieron A,
Natale R, D'Ottavio G, et al. (1995).
Endometrial assessment by transvaginal sonography and histological findings
after D & C in women with postmenopausal bleeding. Ultrasound Obstet
Gynecol, 6: 108-115.
5.
Dörum A, Kristensen B, Lanebrekke A, T, S. & O, S.
(1993). Evaluation of endometrial
thickness measured by endovaginal ultrasound in women with post-menopausal
bleeding. Acta Obstet Gynecol Scand, 72: 116-119.
6.
Ferrazzi E, Torri V, Zannoni E, Filiberto S & D, D.
(1996). Sonographic endometrial
thickness: a useful test to predict atrophy in patients with postmenopausal
bleeding, An Italian multicenter study. Ultrasound Obstet Gynecol, 7: 315-321.
7.
Fortier KJ.
(1986). Postmenopausal bleeding and endometrim. Clin Obstet Gynecol, 29:
440-450.
8.
Garuti G, Sambruni I, Cellani F, Garzia D, Alleva P &
M, L. (1999). Hysteroscopy and
transvaginal ultrasonography in postmenopausal women with uterine bleeding.
International Journal of Gynecology and Obstetrics 65: 25-33.
9.
Giusa-Chiferi MG, Gonçalves WJ, Baracat EC, Cavalcanti de
Albuquerque L, Bortoletto CCR & G, R. d. L. (1996). Transvaginal ultrasound, uterine biopsy and
hysteroscopy for postmenopausal bleeding. International Journal of Gynecology
and Obstetrics, 55: 39-44.
10.
Granberg S,
Wikland M, Karlsson B & L-G, F. (1991). Endometrial thickness as measured
by endovaginal ultrasonography for identifying endometrial abnormality. Am J
Obstet Gynecol, 164: 47-52.
11.
Grigoriou O, Kalovidouros A, Papadias C, Antoniou G,
Antonaki V & L, G. (1996). Transvaginal
sonography of the endometrium in women with postmenopausal bleeding. Maturitas,
23: 9-14.
12.
Grimes D.
(1982). Diagnostic dilatation and curettage: a reappraisal. Am J Obstet
Gynecol, 142: 1-6.
13.
Haller H,
Matejčié N, Rukavina B, Kraševié M, Rupčié S & Mozetič.
(1996). Transvaginal sonography and hysteroscopy in women with postmenopausal
bleeding. International Journal of Gynecology and Obstetrics, 54: 155-159.
14.
Karlsson B,
Granberg S & Ridell B and Wikland M. (1994). Endometrial thickness as
measured by transvaginal sonography: interobserver variation. Ultrasound Obstet
Gynecol, 4: 320-325.
15.
Karlsson B,
Granberg S, Wikland M, Ylöstalo P, Torvid K, Marsal K, et al. (1995).
Transvaginal ultrasound of the endometrium in women with postmenopausal
bleeding - A Nordic multicenter study. Am J Obstet Gynecol, 172: 1488-1494.
16.
Kurman RJ, Kaminski PF & HJ, N. (1985). The behavior of endometrial hyperplasia. A
longterm study of "untreated" hyperplasia in 170 patients. Cancer 56:
403-412.
17.
Malinova M
& B, P. (1995). Transvaginal sonography and endometrial thickness in
patients with postmenopausal uterine bleeding. European Journal of Obstetrics
and Gynecology and Reproductive Biology, 58: 161-165.
18.
Sadoon S,
Salman G, Smith G, Henson C & McCullough. (2007). Ultrasonographic
endometrial thickness for diagnosing endometrial pathology in postmenopausal
bleeding. J.Obstet Gynecol, 27(4): 406-408.