Đặt vấn đề: Mảnh ghép tự thân gân cơ chân ngỗng được sử
dụng rộng răi trong tái tạo dây chằng vùng gối.
Tuy vậy, việc lấy gân cơ này không phải là không
có biến chứng bao gồm: tổn thương các phân
nhánh thần kinh, dây chằng bên trong, đứt gân giữa
chừng…
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu giải phẫu gân cơ bán gân và gân
cơ thon, mô tả mối liên quan và những nguy cơ có thể
gặp khi lấy gân, từ đó đề ra kỹ thuật
lấy gân tương đối an toàn.
Số liệu và phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Từ
tháng 04/2007-04/2008, chúng tôi nghiên cứu phẫu tích trên 21 gối
trên xác, ghi nhận các cấu trúc giải phẫu của gân
cơ chân ngỗng như : chiều dài,
đường kính, vị trí nơi bám tận, các dăy bám phụ…Sau
đó ứng dụng các kết quả này vào việc lấy
gân trên 10 gối tươi của chi bị cắt cụt.
Sau cùng ứng dụng trên lâm sàng ở 15 bệnh nhân
được tái tạo dây chằng có sử dụng gân
cơ chân ngỗng làm mảnh ghép.
Kết quả: Chiều dài trung b́nh tương ứng của gân
cơ bán gân và gân cơ thon là 21,8cm và 18,7
cm. 1/10 trường hợp ứng dụng thực nghiệm
trên gối tươi bị đứt gân giữa chừng
trong khi lấy. Tuy nhiên, trên lâm sàng, thời gian theo dơi trung
b́nh là 5,7 tháng, không ghi nhận biến chứng
thần kinh, tổn thương dây chằng bên trong hoặc
đứt gân giữa chừng.
Từ khóa: lấy mảnh ghép, gân chân ngỗng, gân cơ
thon, gân cơ bán gân,dây chằng chéo
trước.
ANATOMIC
CONSIDERATION THE SEMITENDINOSUS AND GRACILIS TENDONS IN HARVESTING
Cao Ba Huong, Do Phuoc Hung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 –Supplement of No 1-2010: 179 -184
Background: Autologous
hamstring grafts are commonly used for knee ligaments recontructions. However,
harvesting of the semitendinosus and gracilis tendon is not without
complications including injuries to nerve branches, medial collateral ligament
injury, premature graft amputation…
Purpose: We examined the
anatomy of the semitendinosus and gracilis tendon, describled potential
morbidities of tendon harvesting, and discussed techniques that may minimize
these complications.
Method and materials: Descriptive study. From 04/2007-04/2008, 21 knees of adult cadavers
were examined anatomically to investigate of the length, diameter, insertion
position, accessories of hamstring tendons. After detailed investigation, we
applied that results to harvest hamstring tendons in 10 fresh knees of the
amputated limbs and then applied this technique to harvest semitendinosus and
gracilis tendon for grafting in 15 patients.

Results: The average
length of the semitendinosus and gracilis were 21.8cm and 18.7cm, respectively. 1/10 case was
premature graft amputation during harvest semitendiosus tendon. The average of
follow-up was 5.7 months, there was no any complications of nerve branches,
medial collateral ligament injury, premature graft amputation.
Conclusions: Preliminary confirmation of technique harvesting based on the anatomy
of hamstring tendons is rather safe and effective, avoids common complications.
Key word: harvesting, hamstring tendons, gracilis tendon, semitendinosus tendon
Chấn thương do thể dục thể
thao và tai nạn giao thông hiện nay đang là mối quan tâm
hàng đầu, trong đó tổn thương dây chằng
chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt
mà việc điều trị không phải lúc nào cũng phục
hồi được giải phẫu và chức năng bằng
chính bản thân các dây chằng đó. Trong nhiều
trường hợp, sử dụng các mảnh ghép gân là
điều không tránh khỏi. Một trong các loại mảnh
ghép tự thân hiện nay ngày càng có nhiều tác giả lựa
chọn cho phẫu thuật của ḿnh, là mảnh ghép gân
chân ngỗng(1,2,3,5). Tuy nhiên, việc lấy gân ghép này
sao cho bảo đảm chất lượng, giảm thiểu
tai biến trong và sau phẫu thuật liên quan đến việc
lấy gân ghép, góp phần thành công trong công tác điều trị,
lại chưa được nghiên cứu đúng mức ở
nước ta. Đa phần các tác giả đều nhấn mạnh quá tŕnh lấy
mảnh ghép này thật sự là một thử thách và tai biến
lấy gân vẫn c̣n là mối quan ngại đáng kể khi
lựa chọn phương pháp này(3,4).
Mục đích thực hiện đề tài này nhằm thông qua kết quả nghiên cứu về giải phẫu gân chân ngỗng, từ đó có thể đưa ra những ứng dụng trong lâm sàng cho việc lấy được gân chất lượng và an toàn.
Giải phẫu
mặt trong 17 gối trên xác tại Bộ Môn Giải Phẫu
Đại học Y Dược TP.HCM và 4 gối trên đoạn
chi bị cắt cụt ở 1/3 giữa đùi.
Tổn thương giải phẫu (gân, dây chằng,
thần kinh) trên 10 đùi tươi bị cắt cụt
sau khi áp dụng kỹ thuật lấy gân cơ, trên nền
tảng từ các đặc điểm giải phẫu
nghiên cứu được.
Mảnh ghép và tổn thương giải phẫu
(gân, dây chằng, thần kinh) sau lấy ghép trên 15 bệnh
nhân tái tạo DCCT bằng gân chân ngỗng tại BV Chợ
Rẫy.
Nghiên cứu tiền cứu: mô tả cắt ngang, kết quả quan sát được phân tích bằng cách so sánh với một số kết quả trong y văn. Số liệu được xử lư bằng toán thống kê SPSS 15.0.
Bước 1: Phẫu tích mặt trong gối trên xác tại
Bộ môn giải phẫu và phần gối ở chi cắt
cụt 1/3 giữa đùi trở lên, ghi nhận các thông số
giải phẫu.
Bước 2: Thực hiện kỹ thuật lấy
gân trên xác tươi, dựa trên các đặc điểm
giải phẫu ở giai đoạn 1, ghi nhận t́nh trạng
mảnh ghép và thần kinh liên quan.
Bước 3: Thực hiện phẫu thuật lấy
gân trên bệnh nhân được tái tạo DCCT qua nội
soi có sử dụng thủ thuật lấy mảnh ghép gân
chân ngỗng. Đánh giá mảnh ghép và biến chứng do lấy
mảnh ghép.
H́nh 1: Vị trí bám tận của gân cơ thon và bán gân
so với đỉnh LCC (A:giới hạn trên nơi
bám;B:giới hạn dưới;C:nơi hợp lại của
2 gân)

H́nh 2: Nơi bám của
các dăy bám phụ (*:dăy bám phụ của
gân cơ thon;**:dăy bám phụ của gân cơ bán gân)

|
|
|
Trung b́nh (cm) |
Nhỏ nhất (cm) |
Lớn nhất (cm) |
|
Giới hạn trên
nơi bám so với đỉnh LCC |
Xuống dưới |
0,7 |
0 |
2 |
|
Vào trong |
1,5 |
0,8 |
2,2 |
|
|
Nơi 2 gân hợp lại |
2,7 |
2 |
3,5 |
|
|
|
Trung b́nh (cm) |
Ngắn nhất (cm) |
Dài nhất (cm) |
|
Lg1 |
12,9 |
10 |
15 |
|
Lg2 |
18,7 |
15 |
23 |
|
Ls1 |
13,4 |
9,6 |
18 |
|
Ls2 |
21,8 |
16 |
24 |
- Lg1, Ls1: lần lượt là chiều dài gân cơ thon và gân cơ bán gân tính từ nơi bám tận đến nơi cơ chuyển hoàn toàn thành gân.
- Lg2, Ls2: lần lượt là chiều dài gân cơ thon và gân cơ bán gân tính từ nơi bám tận đến nơi gân chuyển hoàn toàn thành cơ.

|
|
Trung b́nh (mm) |
Nhỏ nhất (mm) |
Lớn nhất (mm) |
|
dg1 |
2,6 |
2,2 |
3,5 |
|
dg2 |
2,4 |
1,3 |
3,2 |
|
ds1 |
3,3 |
2,6 |
4,1 |
|
ds2 |
3,4 |
1,9 |
4,1 |
- dg1, ds1: lần lượt là đường kính gân cơ thon và gân cơ bán gân đo ở vị trí cách nơi bám tận 5cm.
- dg2,ds2: lần lượt là đường kính gân cơ thon và bán gân đo ở vị trí cách nơi bám tận 10cm
Gân cơ thon
|
Số dăy |
Số trường hợp |
Tỉ lệ(%) |
|
0 |
11 |
52,4 |
|
1 |
9 |
42,8 |
|
2 |
1 |
4,8 |
Gân cơ
bán gân
|
Số dăy |
Số trường hợp |
Tỉ lệ (%) |
|
0 |
0 |
0 |
|
1 |
17 |
81 |
|
2 |
4 |
19 |
Nơi bám tận
của dăy bám phụ gân cơ thon
|
Nơi bám tận của
dăy bám phụ |
Sốtrường hợp |
Tỉ lệ (%) |
|
Mạc cơ sinh
đôi trong |
9 |
42,9 |
|
Cơ may |
1 |
4,8 |
|
Tổng số |
21 |
100 |
Nơi bám tận của
dăy bám phụ gân cơ bán gân
|
Nơi bám tận của
dăy bám phụ |
Số trường hợp |
Tỉ lệ (%) |
|
Mạc cơ sinh
đôi trong |
19 |
90,4 |
|
Màng xương chày |
1 |
4,8 |
|
Mạc cơ sinh
đôi trong và màng xương chày |
1 |
4,8 |
|
Tổng số |
21 |
100 |
|
Vị trí dăy bám phụ |
Số dăy bám phụ |
Trung b́nh (cm) |
Gần nhất (cm) |
Xa nhất (cm) |
|
Pg1 |
10 |
6,2 |
4 |
8,2 |
|
Pg2 |
1 |
7,7 |
7,7 |
7,7 |
|
Ps1 |
21 |
5,2 |
3 |
9 |
|
Ps2 |
4 |
8 |
6,5 |
9,8 |
- Pg1, Pg2 : lần lượt là vị trí dăy bám phụ thứ 1 và thứ 2 của gân cơ thon.
- Ps1, Ps2 : lần lượt là vị trí dăy bám phụ thứ 1 và thứ 2 của gân cơ bán gân.
Ngoài
ra, ghi nhận 7/21 gối có 1 vùng dày lên của cân mạc (xuất
phát từ màng bao cơ bán màng), tạo thành “cổng ṿm”
để gân cơ bán gân chui qua. Cách nơi bám tận trung
b́nh 14,2cm (13 -16,5cm).

H́nh 3: Nhánh cơ may thần kinh hiển

H́nh 4: nhánh thần kinh cảm giác mặt ngoài vùng dưới bánh chè
Nhánh cơ may thần kinh hiển: Vị trí thoát ra giữa gân
cơ may và cơ thon (20/21 trường hợp): nằm lệch
vào trong trung b́nh 10,6cm (8,6-14cm) và xuống
dưới trung b́nh 0,4cm so với cực dưới bánh
chè.
Nhánh dưới bánh chè
và nhánh b́ đùi trong
|
|
Số trường hợp |
Tỉ lệ (%) |
|
Nhánh thần kinh b́
đùi trong |
9 |
42,9 |
|
Nhánh dưới bánh
chè |
4 |
19 |
|
Cả hai nhánh trên |
8 |
38,1 |
|
Tổng số |
21 |
100 |
|
Vị trí các phân nhánh |
Cách đỉnh LCC (cm) |
Cách cực trên nơi bám tận (cm) |
Cách cạnh trong bánh chè (cm) |
|
Giữa đỉnh
LCC và cực dưới bánh chè |
1,5 (0,4-4,3) |
2,6 (1,1-5,1) |
5,2(3-6,5) |
|
Ngang qua đỉnh LCC |
0 |
1,5 (1,3-1,6) |
6,8(6,5-7,1) |
|
Dưới LCC |
2,2 (1-3,9) |
1,2(0,4-3,5) |
8,7(7,4-9,3) |
Với các
thông số ghi nhận từ kết quả phẫu tích,chúng tôi áp dụng kết quả phẫu tích
như sau:
- Thực hiện đường mổ chéo từ giới hạn trên nơi bám tận theo hướng đi của gân cơ thon, dài khoảng 3cm. Sau khi rạch da, dùng kéo Metzenbaum tách dọc lớp mô dưới da theo đường mổ. Xác định bờ trên gân cơ may hơi nhô lên so với các mô xung quanh, tách bờ trên gân này ra khỏi màng xương.
- Kéo bờ trên gân cơ may xuống dưới để t́m gân cơ thon. Bộc lộ gân cơ thon ở nơi trước khi chúng hợp với gân cơ bán gân. Nâng gân cơ thon lên để làm nông hóa gân cơ bán gân. Bộc lộ gân cơ bán gân.
- Sau khi đă bộc lộ đầy đủ 2 gân ở vùng bám tận, lần lượt cắt chủ động các dăy bám phụ ở các vị trí thường gặp của gân cơ thon (cách nơi bám tận của gân trung b́nh 6,2cm). Cắt dọc theo gân cơ thon, tách khỏi gân kết hợp ngược về nơi bám tận để tận dụng phần chiều dài bám vào màng xương. Thực hiện 1 lực kéo nhẹ nhàng ở đầu gân đồng thời dùng tay ở bên ngoài da sờ để kiểm tra c̣n dăy bám phụ ở bờ dưới gân không. Khâu chỉ giữ ở đầu gân. Cắt nơi bám tận của gân cơ thon.
- Để tư thế gối gấp 90o, đặt dụng cụ lấy gân vào, đẩy theo hướng đi của gân. Chú ư cảm nhận kháng lực (nếu có).
- Thực hiện cách lấy tương tự đối với gân cơ bán gân.
- Đánh giá gân sau khi lấy.
- Phẫu tích mặt trong khớp gối để đánh giá tổn thương thần kinh sau khi lấy gân (dùng kính lúp phóng đại 2,5 lần hỗ trợ)
Qua 10 trường hợp thực nghiệm,
chúng tôi ghi nhận:
Đường mổ : 7/10 trường hợp
thực hiện đường mổ chéo, 3/10 trường
hợp mở rộng đường mổ do giới hạn
trên nơi bám xuống thấp hơn dự kiến.
- 4/10 trương hợp gân cơ thon ,10/10 trường hợp bán gân có dăy bám phụ.
- 2/10 trrường hợp phải luồn kéo để cắt dăy bám phụ ở xa.
- Không ghi nhận có cấu trúc “cổng ṿm” .
- 2/10 trường hợp phân nhánh thần kinh đi ngay dưới lồi củ chày gần cực trên nơi bám tận, nên chúng xuất hiện trong trường mổ.
- Không có trường hợp nào tổn thương nhánh cơ may thần kinh hiển.
- Không có tổn thương dây chằng bên trong
- Đánh giá mảnh ghép: 9/10 trường hợp tốt.
Ứng dụng cách lấy gân trên 15 bệnh
nhân, độ tuổi trung b́nh 28,7 (21- 46 tuổi), với
8/15 gối trái và 7/15 gối phải, chúng tôi ghi nhận:
- Đường mổ : 11/15 trường hợp đường mổ chéo, 4/15 trường hợp mở rộng đường mổ xuống dưới 1cm (không vượt quá đường của phân nhánh dưới lồi củ chày).
- Dăy bám phụ: gân cơ thon: 6/15 trường hợp, gân cơ bán gân: 15/15 trường hợp.
- Có 5/15 trường hợp phải luồn kéo để cắt dăy bám phụ ở xa.
- Không ghi nhận các phân nhánh thần kinh trong trường mổ.
-
Không tổn thương
dây chằng bên trong .
Chiều dài và đường kính gân cơ
thon và bán gân tương đối phù hợp và đủ
điều kiện cho mảnh ghép tái tạo DCCT, tuy nhiên 2
đầu gân thường có đường kính nhỏ
hơn phần giữa gân, do đó khi cố định
đầu mảnh ghép ở đầu có đường
kính nhỏ hơn này (ở đường hầm
xương chày) cần phải có thêm phương tiện
tăng cường.
- Nếu t́m gân ở gần nơi bám tận th́ đường mổ không cần phải vượt qua đỉnh LCC.
- Cần phải tách gân cơ may trước khi bộc lộ gân cơ thon và gân cơ bán gân
- Nếu t́m gân cơ chân ngỗng ở vị trí quá gần nơi bám (<2 cm) có thể gặp khó khăn do 2 gân hợp thành gân kết hợp (76,2% trường hợp).
- Dăy bám phụ của gân chân ngỗng luôn tồn tại. Thường gặp nhất :bám vào mạc cơ sinh đôi trong. Đều xuất phát từ bờ dưới của gân.
- Tập trung chủ yếu từ 3-10 cm tính từ nơi bám tận (qua 10cm, rất ít gặp).
-
Các dăy khác tỉ lệ
không nhỏ: 4/21 trường hợp có các dăy cân che phủ
phía trước gần nơi bám tận,33,3%
trường hợp có cấu trúc “cổng ṿm” cho gân cơ
bán gân chui qua và cách nơi bám tận của gân này trung b́nh
14,2±1,3cm (13–16,5cm). Do đó, gân
có thể bị “neo” bởi dăy bám phụ và “cổng ṿm”.
Hai cấu trúc này sẽ làm sai lệch
hướng đi của dụng cụ lấy gân và hậu
quả là có thể đứt gân giữa chừng.
Nhánh cơ may thần kinh hiển: Có nguy cơ bị
thương tổn khi lấy gân cơ thon bằng dụng
cụ do thoát ra giữa cơ may và cơ thon (95,2%).Chúng tôi
chưa có tài liệu nào báo cáo về vấn đề này.
Các nhánh thần kinh cảm giác mặt ngoài vùng dưới bánh chè
- Luôn có ít nhất 1 trong 2 nhánh thần kinh: nhánh dưới bánh chè và nhánh b́ đùi trong.
- Phân nhánh đi giữa cực dưới bánh chè và đỉnh LCC phần lớn là của nhánh b́ đùi trong, c̣n phân nhánh đi dưới LCC chủ yếu là của nhánh dưới bánh chè.
Đề nghị kỹ thuật lấy
gân trên kết quả phẫu tích
- Các dăy bám gân ở vị trí khác nhau nhưng nằm dọc theo đường đi của gân cơ chân ngỗng.
- Hướng đi các phân nhánh thần kinh trùng với hướng đi gân. Do vậy, thực hiện đường mổ chéo từ giới hạn trên nơi bám tận theo hướng đi của gân cơ thon có thể là giải pháp trong việc tiếp cận dăy bám và giảm thiểu nguy cơ tổn thương thần kinh.
- Đường mổ kéo dài 3 cm từ vị trí giới hạn trên nơi bám tận: có thể tiếp cận nơi bám tận và nơi 2 gân tách xa nhau và tránh nguy cơ tổn thương gân do lấy cùng lúc 2 gân.
- Cần bộc lộ rơ 2 gân trước khi lấy gân cơ thon: do gân bán gân bị tuột xuống dưới do dăy bám phụ cơ sinh đôi khi tách rời khỏi gân kết hợp.
- Các dăy bám phụ cần phải được tách rời hoàn toàn khỏi gân chính. Cần chú ư kháng lực khi đẩy dụng cụ lấy gân.
- Xác định đặc tính giải phẫu của gân chân ngỗng và các thành phần lân cận liên quan đến kỹ thuật lấy gân
- Bước đầu xác định tính an toàn, hiệu quả của cách lấy gân dựa trên các đặc điểm giải phẫu của gân chân ngỗng.
Các
trường hợp ứng dụng kỹ thuật lấy
gân và theo dơi trên lâm sàng tuy đều đạt kết quả
khả quan nhưng do thực hiện với cỡ mẫu
nhỏ nên giá trị chưa cao cần phải được
nghiên cứu thêm.
5.
Trương
Trí Hữu (2006),“Đánh
giá kết quả tái tạo qua nội soi dây chằng chéo
trước bằng mảnh ghép bốn dăy cơ thon và bán
gân”, Kỷ yếu hội nghị Chấn Thương Chỉnh
H́nh thường niên lần thứ XIII, tr.65-71.