Đỗ Anh Toàn[**], Đặng
Đ́nh Hoan**, Nguyễn Tuấn Vinh***,
Vĩnh
Tuấn***, Nguyễn Văn Ân***, Hoàng Thiên
Phúc***,Vũ Lê Chuyên***
Mục đích: Đánh giá kết quả bước đầu ứng
dụng phương pháp can thiệp nội mạch trong chẩn
đoán và điều trị một số bệnh lư niệu
khoa, thực hiện tại Bệnh viện B́nh Dân từ
5/2008 đến 9/2009.
Đối tượng và phương
pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân
được tiến hành theo một tŕnh tự nhất
định: Nằm ngữa, tiền mê nhẹ, đặt
catheter qua động mạch đùi phải theo
phương pháp Seldinger khảo sát DSA (X quang mạch máu kỹ
thuật số xóa nền). Nếu có chỉ định can
thiệp chúng tôi dùng vật liệu thuyên tắc là ethanol tuyệt
đối, spongel tán nhuyễn, keo sinh học hoặc stent
tùy vào thương tổn cần điều trị. Chúng
tôi sử dụng thường quy kháng sinh và corticoid (
Hydrocortison 100mg IV) trước mổ và loại trừ nhiễm
trùng niệu trước thủ thuật. Các biến số
quan tâm bao gồm: Trong nhóm chẩn đoán: Thời gian tiến
hành thủ thuật, tai biến – biến chứng trong và
sau can thiệp. Kết quả chẩn đoán dựa vào
h́nh ảnh DSA.. Trong nhóm can thiệp: Thời gian tiến
hành thủ thuật, thành công- thất bại, tai biến –
biến chứng trong và sau thủ thuật, kết quả
theo dơi.
Kết quả: Nhóm chẩn đoán: 02 trường hợp (TH) tiểu
máu từng đợt, có tiền căn chấn
thương thận, trên MSCT chúng tôi phát hiện có t́nh trạng
giả ph́nh động mạch thận, khi khảo sát DSA
phát hiện 01 (TH) túi giả
ph́nh lấp đầy khối máu đông, trường hợp
c̣n lại không phát hiện thương tổn, cả 02(TH)
này được xuất viện sau 1-2 tuần nằm viện.
Sau 1 tháng, chúng tôi liên hệ qua điện thoại không ghi
nhận t́nh trạng tiểu máu tái phát. 01 bệnh nhân 65 tuổi
bị cao huyết áp, khi siêu âm Doppler phát hiện động
mạch thận (T) hẹp tại gốc 42%, khảo sát
trên DSA chúng tôi ghi nhận h́nh ảnh
động mạch b́nh thường.
Nhóm can thiệp: 03 bệnh nhân có chỉ
định cắt bỏ thận v́ thận giảm/mất
chức năng, trong đó 2 (TH) có chuyển lưu nước
tiểu (01 bệnh nhân mở thận ra da và 01 bệnh nhân
mở niệu quản ra da) và 01 (TH)được đặt
JJ niệu quản lưu. Sau thuyên tắc hoàn toàn động
mạch thận bằng ethanol tuyệt đối (10-15ml)
và spongel tán nhuyễn: chúng tôi kiểm tra trên DSA không c̣n hành ảnh
tưới máu thận, không biến chứng trong thủ
thuật, hội chứng sau thuyên tắc (PES) xuất hiện
trên cả 03 TH, chúng tôi sử dụng Corticoids trước
thủ thuật 1 ngày và kéo dài 3-5 ngày sau thủ thuật, ghi
nhận bệnh nhân hết đau sau 5-7 ngày. Lượng
nước tiểu từ thận thuyên tắc giảm dần
và ngưng bài tiết hoàn toàn vào ngày 7 và 10. Ở bệnh
nhân đặt JJ, chúng tôi không theo dơi được t́nh trạng
bài xuất nước tiểu sau thuyên tắc, thông JJ
được chúng tôi đă rút sau 5 ngày, và theo dơi 3,6 tháng:
Thận teo nhỏ và không phổ mạch máu / Siêu âm Doppler,
không nhiễm trùng tiểu. 03(TH) chảy máu sau phẫu thuật
mổ sỏi thận đă được thuyên tắc
động mạch thận chọn lọc 4 lần bằng
spongel và keo sinh học thời gian thủ thuật 30-45 phút,
không tai biến trong thủ thuật, PES xảy ra trong ṿng 3
ngày đầu, t́nh trạng tiểu máu được kiểm
soát và bệnh nhân xuất viện sau 7-10 ngày. Chúng tôi
chưa có số liệu theo dơi tái khám các trường hợp
này. 01(TH) tiểu máu do dị dạng nhánh cực dưới
động mạch thận phải, đă được
đặt stent graft qua nội mạch, stent không lấp hoàn
toàn cổ túi dị dạng nên chỉ làm giảm kích
thước tổn thương một phần, tuy nhiên
theo dơi lâm sàng 6 tháng không thấy tiểu máu tái phát, chúng tôi
theo dơi tiếp trường hợp này để can thiệp
nếu xuất hiện triệu chứng tiểu máu tái
phát. 01(TH) vết thương
thận, điều trị nội khoa bảo tồn không
hiệu quả, sau thuyên tắc ngày 1 bệnh nhân hết tiểu
máu, hội chứng sau thuyên tắc xảy ra nhẹ, bệnh
nhân xuất viện vào ngày 10. 03 bệnh nhân lớn tuổi,
bị ung thư giai đọan cuối (02 bệnh nhân
bướu thận, 01 bệnh nhân ung thư tuyến tiền
liệt xâm lấn trực tràng, gây xuất huyết tiêu hóa
nặng) v́ thể trạng kém, không c̣n khả năng phẫu
thuật, nhờ thuyên tắc mạch chọn lọc động
mạch nuôi bướu thận/lấp động mạch
chậu trong 2 bên đă giúp khống chế hiệu quả
t́nh trạng chảy máu.
Kết luận: Can thiệp nội mạch có thể giúp chẩn
đoán một số trường hợp bệnh lư liên
quan mạch máu thận khá chính xác, góp phần điều trị
hiệu quả một số bệnh lư của thận.
Đặc biệt, phương pháp này có thể được
xem xét như một phương pháp có thể lọai bỏ
thận mà không phải phẫu thuật. Tuy nhiên, nên nghiên cứu
trên số lượng bệnh lớn hơn và thời gian
theo dơi lâu hơn để giúp nhận định trên
được tin cậy hơn.
Từ khóa: Thuyên tắc động mạch thận, loại bỏ chức năng thận,cắt thận tại chỗ, can thiệp nội mạch, X quang mạch máu xóa nền.
TRANSCATHETER ARTERIAL
INTERVENTION IN UROLOGY:
INNITIAL RESULTS FROM 14 CASES
AT BINH DAN HOSPITAL
Do
Anh Toan, Dang dinh Hoan, Nguyen Tuan Vinh, Vinh Tuan, Nguyen Van An, Hoang
ThienPhuc, Vu Le Chuyen * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 14 – 21
Objectives: To evaluate initial results of transcatheter
arterial intervention in diagnosing and treating some urologic diseases at
Patients and methods: To apply for all patients: supine position, intravenous sedation, DSA
done by Seldinger technique through right femoral artery. Embolic agents:
Absolute ethanol, spongel, stent if needed. Antibiotics and hydrocortison used
prior to the procedure, cases with UTI excluded. Parameters concerned: Time of procedure, complications, results
and follow up
Results:For diagnosic: 02
ptns of persistent hematuria with renal trauma in their past medical history,
psuedoanerysm were fill up with clots, and 01 case with normal appearance on
DSA. 01 ptn with hypertension, this ptn has renal arterial stenosis at the
ostium (42%) seen on Color Doppler Ultrasound. On DSA showed normal renal
artery.
For treatment: 03 ptns with poorly or
non-functioning kidney had indications for surgical nephrectomy: 01 ptn with
nephrostomy, 01 ptn with uterostomy and 01 ptn with JJ placement. All were
embolized with 10-15ml absolute ethanol, and spongel. On DSA showed no blood
infusion, no complication occurred, PES (post embolization syndrome) occurred
in 03 cases during 5-7 days, in 02 cases with urinary diversion: urine
decreased and stopped in day 7, 10 after procedure. And JJ removed in day 5, up
to 6 months after procedure, and this patient has normal blood pressure, no
urinary infection. On Doppler ultrasound showed the kidney shrunk.4 times of
transcatheter renal arterial selective embolization done in 03 case hemorrhage
after renal surgery: procedure taken from 30-45 minutes, no complication, flank
pain stopped in day 3 days, and bleeding
controlled soon. And all ptns discharded after 7-10 days. 01 ptn with hematuria
due to AVM from lower pole artery, the stent graft placed partly, so the AVM
just reduced the size. After 6 months
follow up, showed no recurrence of hematuria. 01 penetrating renal injury
patient treated conservatively but failure, after selective embolization with
Spongel, hematuria stopped in first day, PES occurred slightly and self -
limited, patient discharged at day 10th. 03 terminal patients: severe hematuria in 02 ptns with unresectable
renal cancer, 01ptn with severe lower- GI hemorrhage due to end-stage prostate
cancer. After selective arterial embolization the arterial branch to renal
tumor and bilateral internal iliac artery:
bleeding controlled well, reduced the need for transfussion
significally.
Conclusions: Endovascular intervention is a safe and effective diagnostic and
therapeutic tool for many urological, renal and vascular conditions.
Especially, ethanol –induced ablation may be a valuable alternative to surgery
as in situ nephrectomy for cases who have indication of nephrectomy. Its use
has increased at our institution due to improved techniques, embolization
materials. We will study from bigger amount of patient and longer follow up to
confirm these conclusions!
Keywords: transcatheter renal arterial selective embolization, renal ablation, in situ nephrectomy, endovascular intervention, DSA (digital subtraction angiography).
Vào 08-11-1895 Roentgen (Wilhelm Conrad Rưntgen) khám phá ra tia X, bức h́nh X-Quang đầu tiên là bàn tay vợ ông, sau đó sự khám phá của ông lan rộng trên toàn thế giới. Thời gian đầu, chủ yếu được ứng dụng trong chuyên khoa Chấn thương – Chỉnh h́nh. Đến năm 1930, một bác sĩ người Hà Lan, des Plantes đưa ra ư tưởng h́nh ảnh xoá nền. Năm 1953 phương pháp Seldinger ra đời, từ đó phương pháp này là nền tảng cho các phương pháp chụp mạch máu sau này.
Đến năm 1980, với sự phát triển mạnh mẽ của điện toán cùng với việc chế tạo được những dụng cụ thích hợp hơn, h́nh ảnh có thể thu được dưới dạng số. Từ đó kỹ thuật can thiệp nội mạch mới thực sự phát triển và ứng dụng rộng răi.
Theo y văn, chỉ định
của can thiệp nội mạch trong Niệu khoa bao gồm:
chẩn đoán và điều trị các trường hợp
dị dạng mạch máu thận (AVM, AVF)(5), xử trí các trường hợp
chảy máu do chấn thương hay do y thuật, trong những
trường hợp chuẩn bị phẫu thuật cắt
bỏ bướu thận hoặc thuyên tắc thận chọn
lọc trong những trước phẫu thuật bảo tồn nhu mô thận(1). Thuyên
tắc chọn lọc bảo tồn nhu mô thận trong
trường hợp bướu lành thận xuất huyết (AML)(3). Phương
pháp này được chỉ định trong trường
hợp loại bỏ chức năng thận (ablation of
renal function)(2): một
số trường hợp bệnh thận giai đọan
cuối, cao huyết áp kháng trị, một số trường
hợp x́ ḍ nước tiểu hay thận ứ nước
không c̣n khả năng phẫu thuật..ngoài ra c̣n được
chỉ định trong điều trị dăn tĩnh mạch
tinh ,dăn tĩnh mạch buồng trứng, cương
đau dương vật lưu lượng cao (high flow
priapism), can thiệp nội mạch được ứng
dụng trong phẫu thuật tạo h́nh mạch máu (renal
artery angioplasty & stenting)(4). Ngoài
ra, can thiệp nội mạch c̣n được áp dụng
trong những trường hợp điều trị huyết
khối cấp tính (catheter-directed fibrinolysis)(6).
Trên thực tế, tại Bệnh viện B́nh Dân, chúng tôi đă được trang bị hệ thống Xquang C-arm có chức năng khảo sát DSA, với sự hổ trợ kỹ thuật từ đồng nghiệp chuyên khoa chẩn đoán h́nh ảnh, chúng tôi áp dụng kỹ thuật này trong các trường hợp:
- Chẩn đoán
nguyên nhân một số trường hợp tiểu máu, cao
huyết áp nghi do hẹp động mạch thận.
- Xử trí một
số trường hợp chảy máu sau mổ sỏi
thận, sau chấn thương thận, dị dạng
động tĩnh mạch thận, chảy máu do bướu
hệ niệu giai đọan cuối không c̣n khả
năng phẫu thuật. Ứng dụng xử trí một
số trường hợp có chỉ định cắt
bỏ thận (x́ ḍ nước tiểu không có khả
năng giải quyết nguyên nhân, thận ứ
nước kém chức năng..) bằng cách thuyên tắc
toàn bộ động mạch thận.
Tất cả bệnh nhân được tiến hành theo một tŕnh tự nhất định: Nằm ngữa, tiền mê nhẹ, đặt catheter qua động mạch đùi phải theo phương pháp Seldinger, khảo sát DSA. Nếu có chỉ định can thiệp chọn lọc chúng tôi dùng vật liệu thuyên tắc là spongel tán nhuyễn hoặc keo sinh học, nếu có chỉ định thuyên tắc ṭan bộ động mạch thận, chúng tôi dùng ethanol tuyệt đối (10-15ml), và nút mạch bằng spongel tán nhuyễn, trong một số trường hợp dị dạng động– tĩnh mạch thận chúng tôi dùng stent.
Chúng tôi sử dụng thường quy kháng sinh và corticoids (Hydrocortison 100mg IV) trước mổ và loại trừ nhiễm trùng niệu trước thủ thuật.

Các
biến số quan tâm bao gồm
- Trong nhóm chẩn
đoán: chúng tôi ghi nhận thời gian tiến hành thủ
thuật, tai biến – biến chứng trong và sau thủ
thuật. Kết quả chẩn đoán dựa vào h́nh ảnh
DSA.
- Trong nhóm can
thiệp: Thời gian tiến hành thủ thuật, thành công-
thất bại, tai biến – biến chứng trong và sau
thủ thuật, kết quả theo dơi.
- Phân bố theo
giới: 10 nam : 4 nữ.
- Tuổi trung b́nh:
45,5 ( 18-80 tuổi)
Nhóm chẩn đoán (03 trường hợp), nhóm can thiệp (11 trường hợp)
Đặc điểm
trong nhóm chẩn đoán
|
STT |
Tiền căn |
Chẩn đoán trước thủ thuật |
Thời gian thủ thuật (phút) |
Kết quả DSA |
Nhận xét |
|
01 |
Chấn thương
thận |
Tiểu máu do túi giả
ph́nh |
50 |
Túi giả ph́nh bị
lấp đầy khối máu đông |
Phù hợp |
|
02 |
Chấn thương
thận |
Tiểu máu do giả
ph́nh nhánh giữa động mạch thận (P) |
20 |
Không phát hiện h́nh ảnh
bất thường trên DSA |
Không phù hợp |
|
03 |
Cao huyết áp |
Hẹp gốc động
mạch thận (T) 42% |
20 |
Động mạch thận
(T) b́nh thường |
Không phù hợp |
Đặc điểm
trong nhóm can thiệp
Phân loại theo chỉ định can thiệp
Nhóm 1: Trong trường hợp chảy máu sau mổ sỏi thận (3TH) và do vết thương thận (1TH).
Nhóm 2: Trong trường hợp thay thế phẫu thuật cắt thận (3TH).
Nhóm 3: Trong trường hợp ung thư hệ niệu giai đọan cuối gây xuất huyết mà không c̣n khả năng phẫu thuật (3TH).
Nhóm 4: Trong trường hợp tiểu máu do dị dạng mạch máu thận (1TH).
Đặc điểm Nhóm 1:
|
Chỉ định |
Số TH |
Số lần thuyên tắc |
Thời gian thủ thuật (phút) |
Kết quả |
|
Chảy máu sau mổ sỏi
thận |
3 |
4 |
38,3 (30-45) |
Hết chảy máu |
|
Tiểu máu do vết
thương thận |
1 |
1 |
50 |
Hết tiểu máu |
Nhận xét: Trong 04 (TH) trên, sau thuyên tắc động mạch thận chọn lọc có 01 (TH) phải thực hiện lại lần hai, tuy nhiên t́nh trạch chảy máu đă được kiểm soát.

Đặc điểm Nhóm 2
|
STT |
Chỉ định |
Thời gian thủ thuật (phút) |
Kết quả |
|
01 |
Thận (T) mất chức
năng do hẹp niệu quản/ Thận (T) ra da |
30 |
Tắt ḥan ṭan động
mạch thận (T) |
|
02 |
Thận (T) mất chức
năng do hẹp niệu quản/JJ thận (T) |
20 |
Tắt ḥan ṭan động
mạch thận (T) |
|
03 |
Thận (P) kém chức
năng/ Niệu quản (P) ra da do tổn thương niệu
quản |
40 |
Tắt ḥan ṭan động
mạch thận (P) |
Nhận xét: Trong 3 TH lấp toàn bộ động mạch thận, tất cả đều cho thấy toàn bộ động mạch bên bệnh lư bị tắc hoàn toàn, 2 trường hợp chuyển lưu nước tiểu ra da cho thấy t́nh trạng ngưng bài tiết nước tiểu hoàn toàn vào ngày 7,10. Trường hợp đặt JJ niệu quản,chúng tôi rút JJ vào ngày 5 sau thủ thuật.

Đặc điểm Nhóm 3
|
STT |
Chỉ định |
Thời gian thủ thuật
(phút) |
Kết quả |
|
01 |
Tiểu máu do TCC thận (T) xâm lấn
tĩnh mạch chủ/Già yếu |
90 |
Tắt chọn lọc nhánh động
mạch xuất huyết |
|
02 |
Tiểu máu do TCC thận (T) di căn
gan, hạch rốn thận/Già yếu, suy kiệt |
60 |
Tắt chọn lọc nhánh động
mạch xuất huyết |
|
03 |
Xuất huyết tiêu hóa dưới
do K tiền liệt tuyến xâm lấn trực
tràng/colostomy, suy kiệt |
65 |
Tắt hoàn toàn động mạch
chậu trong 2 bên. |
Nhận xét: Trong 3 trường hợp ung thư giai đọan cuối gây xuất huyết cần truyền máu kéo dài, với phương pháp can thiệp này giúp khống chế tạm thời t́nh trạng chảy máu.
Trong nhóm này, chúng tôi có 01 TH là bệnh nhân nam 28 tuổi, nhập viện v́ tiểu máu kéo dài, chẩn đóan dựa trên MS-CT mạch máu phát hiện AVM nhóm đài trên thận (P), chúng tôi dùng stent đặt qua vùng cổ túi dị dạng, stent chỉ che lấp một phần lổ dị dạng, tuy nhiên t́nh trạng tiểu máu không xảy ra cho đến 6 tháng sau thủ thuật.
Phân bố biến chứng
trong nhóm can thiệp
|
Biến chứng |
Thuyên tắc sai đích |
Hội chứng sau thuyên tắc
(PES: Đau lưng. Nôn – buồn nôn, sốt..) |
Cao huyết áp |
|
Thuyên tắc động mạch thận
chọn lọc |
- |
+ |
- |
|
Thuyên tắc ṭan bộ động mạch
thận |
- |
+++ |
- |
Nhận xét: Chúng tôi ghi nhận không có trường hợp nào có biến chứng do thuyên tắc sai đích, những trường hợp thuyên tắc toàn bộ động mạch thận, có biến chứng PES (hội chứng sau thuyên tắc) nhiều hơn đáng kể so với nhóm bệnh nhân được thuyên tắc động mạch thận chọn lọc.
Trong khoảng thời gian từ 5/2008 đến 9/2009, bước đầu chúng tôi áp dụng kỹ thuật này trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh lư niệu khoa, qua đó chúng tôi có một số bàn luận sau:
Qua 3 trường hợp chẩn đoán, với những trường hợp tiểu máu trên lâm sàng có nguyên nhân từ thận, khảo sát DSA th́ động mạch và tĩnh mạch thận cho h́nh ảnh rất trung thực, tuy nhiên 1 trường hợp phát hiện túi giả ph́nh trên siêu âm màu và MS-CT mạch máu thận, nhưng không phát hiện bất thường trên DSA có thể chúng tôi bỏ sót 1 nhánh động mạch bị tổn thương, nguyên nhân này mới giải thích được sự khác biệt trên. Một trường hợp bệnh nhân bị cao huyết áp, phát hiện hẹp tại gốc động mạch thận (T) 42% trên MSCT mạch máu thận. Tuy nhiên, trên DSA nhận thấy h́nh ảnh động mạch thận (T) hoàn toàn b́nh thường. Qua đây, có thể chúng ta thiếu sót trong chẩn đóan lâm sàng trước can thiệp v́ đă không làm xét nghiệm sinh hóa truy t́m nguyên nhân cao huyết áp do hẹp động mạch thận như làm xét nghiệm định lượng Renin trong máu có thể b́nh thường, với hy vọng có thể nhận ra t́nh trạng cao huyết áp này không phải do hẹp động mạch thận. Tuy nhiên, ngoài vai tṛ là một phương tiện chẩn đoán, phương pháp này rất tiện lợi trong trường hợp thương tổn cân điều trị có thể can thiệp đồng thời.
Trong 3 trường hợp mổ sỏi thận có xẻ chủ mô bị chảy máu hậu phẫu, phải điều trị hậu phẫu kéo dài, cần phải truyền máu, trong đó có 1 trường hợp phải can thiệp 2 lần, sau can thiệp chọn lọc cho kết quả đáng khích lệ. Bệnh nhân xuất viện với kết quả tốt, bệnh nhân không bị cao huyết áp, không chảy máu thứ phát. Theo Velmahos và cs(7), can thiệp nội mạch thuyên tắc chọn lọc giúp điều trị hiệu quả những trường hợp xuất huyết nặng, đe dọa tính mạng với biến chứng rất thấp.
Trong nhóm này, chúng tôi có 1 trường hợp bệnh nhân vào viện với triệu chứng tiểu máu ngày thứ 2 sau chấn thương, t́nh trạng sinh hiệu ổn định, không có bất thương về t́nh trạng ổ bụng, chúng tôi quyết định nội soi đặt JJ niệu quản phải, nhằm hạn chế sự gia tăng kích thước khối máu tụ quanh thận, tuy nhiên thời gian nằm viện kéo dài do tiểu máu từng đợt. Chúng tôi quyết định can thiệp thuyên tắc chọn lọc động mạch thận cầm máu, cho kết quả tốt, hết tiểu máu vào ngày đầu tiên sau thủ thuật, xuất viện vào ngày thứ 7.

Theo De Baere và cs(2), việc áp dụng kỹ thuật thuyên tắc toàn bộ động mạch thận trong điều trị những trường hợp x́ ḍ nước tiểu mà có chỉ định cắt thận cho kết quả tốt, theo nghiên cứu trên 20 trường hợp x́ ḍ nước tiểu được thuyên tắc,18 trường hợp hết ḍ nước tiểu vào ngày thứ 2 và ống dẫn lưu được rút bỏ. Chúng tôi tiến hành lấp toàn bộ động mạch thận cho 3 trường hợp có chỉ định cắt thận,trong đó 02 trường hợp tổn thương niệu quản (01 TH: mở niệu quản ra da do, 01TH: x́ nước tiểu qua vết mổ cũ hông lưng) và 01 trường hợp đặt JJ niệu quản lưu. Sau thuyên tắc hoàn toàn động mạch thận bằng ethanol tuyệt đối (10-15ml) và spongel tán nhuyễn: trên DSA không c̣n hành ảnh tưới máu thận, không biến chứng trong thủ thuật, hội chứng sau thuyên tắc (PES -untargeted embolization) xuất hiện trên cả 3 TH, có thể v́ chúng tôi sử dụng corticoids trước thủ thuật 01 ngày và kéo dài 3-5 ngày sau thủ thuật, ghi nhận bệnh nhân không đau sau 5-7 ngày. Lượng nước tiểu từ thận thuyên tắc giảm dần và ngưng bài tiết vào ngày 7 và 10. Bệnh nhân đặt JJ, chúng tôi không theo dơi được t́nh trạng bài xuất nước tiểu sau thuyên tắc, sau 2 ngày bệnh nhân hết đau, thông JJ được rút vào ngày thứ 5, và theo dơi 3,6 tháng: Thận teo nhỏ và không phổ mạch máu /Doppler, không nhiễm trùng tiểu.
Các bệnh nhân già-yếu
không c̣n khả năng phẫu thuật, ung thư giai đọan
cuối (02 bệnh nhân bướu thận, 01 bệnh nhân
ung thư tuyến tiền liệt xâm lấn trực tràng,
gây xuất huyết tiêu hóa nặng) nhờ thuyên tắc mạch
chọn lọc động mạch nuôi bướu thận/ lấp động mạch chậu
trong 2 bên đă giúp khống chế hiệu quả t́nh trạng chảy máu.V́ t́nh trạng
bệnh nhân kém nên chúng tôi chỉ thuyên tắc chọn lọc
vị trí chảy máu, tuy nhiên khối bướu to làm thay
đổi các mốc giải phẫu nên kỹ thuật có
phần khó khăn, làm thời gian thủ thuật kéo dài, có
01 TH chúng tôi phải tiến hành thuyên tắc lần 2 mới
khống chế được t́nh trạng chảy máu.
01 trường hợp tiểu máu do dị dạng nhánh cực dưới động mạch thận phải, đă được đặt stent graft qua nội mạch, stent không lấp hoàn toàn cổ túi dị dạng nên chỉ làm giảm kích thước tổn thương một phần, tuy nhiên theo dơi lâm sàng 6 tháng không thấy tiểu máu tái phát, chúng tôi theo dơi tiếp trường hợp này để can thiệp nếu xuất hiện triệu chứng tiểu máu tái phát. Theo Lovaria và cs(5) những thương tổn dị dạng mạch máu thận với biểu hiện lâm sàng như: tiểu máu, cao huyết áp, chảy máu sau phúc mạc, bệnh tim ph́ đại (cardiomegaly) hoặc suy tim sung huyết sẽ có kết quả tốt khi điều trị bằng thuyên tắc mạch.
Qua 11 trường hợp can thiệp nội
mạch, chúng tôi ghi nhận không có trường hợp nào
có biến chứng do thuyên tắc sai đích, những
trường hợp thuyên tắc toàn bộ động mạch
có biến chứng PES nhiều hơn đáng kể so với
nhóm bệnh nhân được thuyên tắc động mạch
thận chọn lọc. Có thể do chúng tôi có dùng catheter có
bóng (balloon catheter) nên hạn chế được biến
chứng dội ngược chất thuyên tắc gây thuyên tắc
sai đích. Đồng thời, chúng tôi dùng kháng sinh và
corticoids trước mổ nên có thể biết chứng
PES (hội chứng sau thuyên tắc) xảy ra không đáng kể
và hầu như tự giới hạn.
Can thiệp nội mạch có thể giúp chẩn
đoán một số trường hợp bệnh lư liên
quan mạch máu thận khá chính xác, góp phần điều trị
hiệu quả một số bệnh lư của thận.
Đặc biệt, phương pháp này có thể được
xem xét như một phương pháp có thể lọai bỏ
thận mà không phải phẫu thuật. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ
nghiên cứu trên số lượng bệnh lớn hơn
và thời gian theo dơi lâu hơn để có thể đánh
giá chính xác hơn vai tṛ của phương pháp này trong thực
hành lâm sàng.
5.
Lovaria A et al: Interventional radiology in the
treatment of urological vascular complications. Ann Urol (