Nghiêm Phương Thảo*, Bùi Quốc
Thắng*
Tại khoa cấp cứu bệnh viện
Nhi Đồng I thành phố Hồ Chí
Minh từ
Mục tiêu : Xác định đặc điểm dịch tễ,
lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều
trị ngộ độc paracetamol tại khoa cấp cứu
bệnh viện Nhi đồng 1 từ
Phương pháp: mô tả loạt ca
Kết quả : Trong đó, 2 nhóm tuổi thường gặp nhất
là 1-5 tuổi (41,3%) và 10-15 tuổi (43,5%), tỉ lệ nam/nữ
là 1/1,3, nguyên nhân thường gặp nhất là tự tử
(41,3%) và ṭ ṃ (30,4%). Phần lớn các trường hợp
đến từ thành phố Hồ Chí Minh (82,6%).
Triệu chứng tiêu hoá thường gặp nhất (32,6%), các thay đổi sinh hóa quan trọng là:
giảm TP(26,1%), kéo dài TCK (13%), giảm fibrinogen (4,3%),
tăng SGOT (5,3%), tăng
Kết luận: Ngộ độc paracetamol có thể gây tổn
thương gan cấp do đó cần được xử
trí nhanh chóng ngay lúc nhập viện.
Từ
khóa: ngộ độc, Paracetamol
CHARACTERISTICS OF EPIDEMIOLOGY OF PARACETAMOL POISONING AT EMERGENCY DEPARTMENT, CHILDREN’S HOSPITAL 1 FROM 01/01/2003 TO 31/05/2009
Nghiem
Phuong Thao, Bui Quoc Thang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1-2010: 341 - 347
At emergency department, Children’s Hospital 1,
Objective: To determine the
characteristics of epidemiology, clinical and laboratory features and treatment
results of paracetamol poisoning in Emergency Department, Children’s Hospital
1.
Method: case series study

Results: there were two
age groups of 1 – 5 years old (41.3%) and 10 – 15 years old (43.5%), which were
noted to have the most number of cases. The boy and girl ratio was 1/1.3; the
most common cause was suicidal intentions (41.3%). The majority of hospitalized
children lived in
Conclusion: Paracetamol
poisoning is known to cause acute liver damage that demands emergency management
right after admission.
Key word: poisoning, paracetamol
Paracetamol (Acétaminophène) trở
thành thuốc không cần kê toa rất phổ biến tại
hầu hết các quốc gia từ những năm cuối
thập niên 50. Đây là loại thuốc
hạ sốt, giảm đau nhẹ được ưa
chuộng ở trẻ em. Ở nhiều quốc gia,
paracetamol được xếp hàng cao nhất trong những
nguyên nhân liên quan đến ngộ độc chủ ư
hay vô ư. Tỉ lệ tử vong do ngộ độc
paracetamol ở Mỹ là 0,2-0,4%. Ở Anh
và xứ Wales, ước tính mỗi năm có 100 – 150 người tử vong do
ngộ độc paracetamol.
Ở Việt
Tất cả các trẻ
em nhập
khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng I từ
01/01/2003 đến 31/05/2009 được chuẩn đoán
là ngộ độc paracetamol.
Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu,
mô tả hàng loạt ca.
Thu thập dữ liệu : bằng mẫu
thu thập số liệu soạn sẵn.
Xử lí số liệu :
bằng chương tŕnh
|
Tuổi |
Số ca |
(%) |
|
< 1 tuổi |
5 |
10,9 |
|
1 - <5 tuổi |
19 |
41,3 |
|
5 - <10 tuổi |
2 |
4,3 |
|
10 - 15 tuổi |
20 |
43,5 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét : Đa số các trường hợp ngộ độc nằm trong lứa tuổi 10-15 tuổi (43,5%) và nhóm 1-5 tuổi (41,3%).
|
Giới |
Số ca |
(%) |
|
|
20 |
43,5 |
|
Nữ |
26 |
56,5 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét: Ngộ độc xảy ra ở giới nam và nữ là như nhau với tỉ lệ nam/nữ = 1/1,3.
|
Ḥan cảnh ngộ độc |
Số ca |
(%) |
|
Tự tử |
19 |
41,3 |
|
Sai chỉ định |
2 |
4,3 |
|
Sai liều |
5 |
10,9 |
|
Ṭ ṃ |
14 |
30,4 |
|
Bắt chước |
3 |
6,5 |
|
Uống lầm |
3 |
6,5 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét: Phần lớn các trường hợp ngộ độc là do tự tử : 19 (41,3%) và do ṭ ṃ: 14 (30,4%).
|
Liều thuốc đă uống |
Số ca |
(%) |
|
<140mg/kg |
23 |
50,0 |
|
140-280mg/kg |
12 |
26,1 |
|
>280mg/kg |
10 |
21,7 |
|
Không rơ |
1 |
2,2 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét :Phần lớn các trường hợp uống
liều <140mg/kg: 23 trường hợp , chiếm 50%. Liều
thấp nhất là 20mg/kg, cao nhất là 816,33mg/kg., trung b́nh là 139,99 ±20,86
mg/kg.
|
Thời gian |
Số ca |
(%) |
|
Ngay |
7 |
15,2 |
|
< 1h |
13 |
28,3 |
|
1 - < 6h |
21 |
45,7 |
|
6 – 12h |
3 |
6,5 |
|
Không rơ |
2 |
4,3 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét: đa số trẻ được phát hiện ngộ độc trước 6 giờ chiếm 41 trường hợp (89,2%) và có 20 trường hợp phát hiện trước 1 giờ.
|
Thời gian |
Số ca |
(%) |
|
Ngay |
0 |
0 |
|
< 1h |
13 |
28,3 |
|
1- < 6h |
26 |
56,5 |
|
6 h - <12h |
4 |
8,7 |
|
12-24h |
1 |
2,2 |
|
> 1 ngày |
1 |
2,2 |
|
Không rơ |
1 |
2,2 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận xét:
Trẻ được nhập viện ngay trong ṿng 1 giờ
chiếm 28,3% (13 trường hợp), trong ṿng 1-6 giờ chiếm 56,5% (26 trường hợp).
|
Cơ quan |
Triệu chứng |
Số ca |
(%) |
|
Tri giác |
*Lơ mơ |
3 |
6,5 |
|
*Hôn mê |
0 |
0 |
|
|
Tiêu hóa |
*Buồn nôn,nôn |
15 |
32,6 |
|
*Buồn nôn, nôn và
đau bụng |
3 |
6,5 |
|
|
Gan mật |
*Vàng da |
0 |
0 |
|
*Gan to đau |
6 |
13 |
|
|
Tiết niệu |
* Thiểu niệu |
0 |
0 |
|
* Vô niệu |
0 |
0 |
|
|
* Tiểu máu |
0 |
0 |
|
|
Da niêm |
* xuất huyêt da niêm |
8 |
17,4 |
Nhận xét: triệu chứng tiêu hoá (buồn nôn, nôn) thường gặp nhất, chiếm 32,6% (15 trường hợp).
Cận lâm sàng: được ghi nhận lúc bệnh nhân nhập viện.
Xét nghiệm chức năng đông máu: TP giảm (26,1%),
TCK kéo dài (13%), giảm Fibrinogen máu (4%).
Xét nghiệm sinh hóa máu: Giảm Kali máu (42,1%), tăng NH3 máu (77,8%), giảm
đường huyết (36,8%), tăng đường huyết
(18,4%), tăng SGOT(7,9%), tăng SGPT(5,3%).
Nồng độ paracetamol máu biểu diễn trên toán đồ Rumack-Mathew
|
Xử trí |
Số ca |
(%) |
|
Móc họng nôn |
8 |
17,4 |
|
Uống nước
chanh |
1 |
2,2 |
|
Uống nước muối |
1 |
2,2 |
|
Uống nước
đậu xanh |
1 |
2,2 |
|
Uống exomuc ( NAC) |
1 |
2,2 |
|
Không |
34 |
73,9 |
|
Tổng cộng |
46 |
100,0 |
Nhận
xét: có đến 73,9% trẻ không
được xử trí tại ǵ sau ngộ độc.
|
Xử trí |
Số ca |
(%) |
|
Rửa dạ dày |
8 |
17,4 |
|
Than họat |
4 |
8,7 |
|
N-acétylcystéine uống |
4 |
8,7 |
|
Điều trị khác |
1 |
2,2 |
Nhận xét: chỉ có 17,4%
trẻ ngộ độc được rửa dạ dày
và 8,7% trẻ được điều trị đặc
hiệu bằng NAC uống tại tuyến trước.
Các biện pháp điều trị tại bệnh
viện Nhi Đồng I: Rửa dạ dày (78,3%),
tỉ lệ rửa dạ dày <3h chiếm tỉ lệ
cao (46%), uống than hoạt (54,3%), NAC uống (54,3%), NAC
tĩnh mạch (2,2%).
Kết quả điều trị: 82,3% trẻ nằm viện ≤ 96 giờ, thời gian nằm
viện trung b́nh là 69,96±35,9 giờ, ngắn nhất là 2 giờ,
dài nhất là 168 giờ (7ngày). Trong lô nghiên cứu
này, không có trường hợp nào tử vong, không có trường
hợp nào suy gan bùng phát cần phải ghép gan, tất cả
các trường hợp sống khoẻ mạnh/xuất viện.
V́ không theo dơi sau xuất viện nên chúng
tôi không ghi nhận di chứng trên các bệnh nhân này.
Phân bố theo tuổi, giới, hoàn cảnh ngộ
độc: ngộ độc paracetamol có tỉ lệ
cao ở 2 nhóm tuổi 1-5 tuổi và 10-15 tuổi. Những
trẻ <5 tuổi luôn muốn t́m ṭi, khám phá sự vật,
trong nhóm tuổi tuổi này chúng tôi nhận thấy trẻ
nam chiếm ưu thế và nguyên nhân ngộ độc
thường do ṭ ṃ v́ trẻ nam thường hiếu động
hơn trẻ nữ. Ngược lại, trong nhóm tuổi
từ 10-15 tuổi nguyên nhân chủ yếu là do tự tử
và trẻ nữ chiếm ưu thế ( nữ/nam
= 5/1). Đây là lứa tuổi thiếu
niên, tâm lí trẻ trong giai đọan này rất phức tạp,
c̣n nhiều xáo trộn, nhu cầu chia sẻ rất lớn(12). Đối với trẻ,
tự tử được xem là 1 cách phản kháng lầm
lỗi hay là một h́nh thức đe dọa người lớn
hay là 1 cách để người lớn quan tâm tới trẻ
nhiều hơn. Do đó người lớn trong gia đ́nh hăy là
chỗ dựa tinh thần, gần gũi,
để từ đó sớm nắm bắt những biến
đổi tâm lí của trẻ, an ủi cũng như
động viên trẻ có những suy nghĩ tích cực, tự
giác sữa chữa lỗi lầm của ḿnh. Không nên la mắng
hay đánh đập trẻ, v́ như vậy sẽ hướng
trẻ đến những suy nghĩ tiêu cực và nhiều
hành động nông nổi, trong đó có hành vi tự tử.
Phân bố địa chỉ: đa số
các trường hợp ngộ độc paracetamol đến
từ thành phố Hồ Chí Minh, tính chất địa
phương lân cận và niềm tin của cha mẹ đối
với bệnh viện Nhi Đồng I
đóng vai tṛ quan trọng trong vấn đề này. Mặt
khác, do sự khác nhau về điều kiện kinh tế,
tập quán sản xuất nông nghiệp của từng vùng
miền mà trẻ ở thành phố có xu hướng tự
tử bằng thuốc tây nhiều hơn, trong khi đó trẻ
ở các vùng nông thôn có xu hướng tự tử bằng
thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu.
Yếu tố thời
gian:
Phần lớn các trường hợp được phát hiện sớm và nhập viện
sớm, ngay trong 1 giờ hay trong 6 giờ đầu sau ngộ
độc, điều này giống như nhận định
của tác giả Bùi Quốc Thắng(5). Có thể
do sự lo lắng của cha mẹ hay tính chất địa
phương đóng vai tṛ quan trọng trong điều này. Thật vậy, những trường hợp
đến trễ là những trường hợp đến
từ các tỉnh khá xa thành phố Hồ Chí Minh (Gia Lai, B́nh
Thuận).
Thời gian từ lúc ngộ độc đến lúc
nhập viện rất quan trọng, v́ nó sẽ ảnh
hưởng đến kết quả điều trị. V́ rửa dạ dày và uống
than họat sẽ có tác dụng tốt nhất nếu bệnh
nhân bắt đầu trong ṿng 1-2h sau ngộ độc(9,16,8) và NAC chỉ phát huy hiệu quả
ḥan ṭan nếu bắt đầu điều trị trong
ṿng 8-10h sau ngộ độc(1,2,6,8,13).
Liều paracetamol đă
uống: Trong lô nghiên
cứu này liều paracétamol trung b́nh là 139,99
±20,86 mg/kg. Liều paracétamol uống giả định này
có thể nói là ở mức gây độc theo nhiều tác
giả (150mg/kg), tuy nhiên theo nhiều tác giả khác liều
150mg/kg c̣n quá an toàn để nói là độc, ngay cả liều
200mg/kg có thể cũng sẽ không gây độc(1). Tuy nhiên liều
paracétamol uống giả định này chỉ có tính chất
tham khảo, ít giá trị nhất trong tiên lượng v́ có
nhiều yếu tố làm liều hấp thu thực sự
ít hơn liều uống giả định: móc họng-nôn, nôn ói, rửa dạ
dày sớm sau ngộ độc.
Thuốc kết hợp: Thuốc kháng histamin thường
được uống kết hợp nhiều nhất
trong các trường hợp ngộ độc paracetamol do
trên thị trường có những dạng paracétamol kết hợp với
diphen-hydramin hay với thuốc khác (Tylenol, Decolgen liquid).
Hơn nữa, paracetamol là thuốc hạ sốt, giảm
đau nên thường hay được dùng kết hợp
với các thuốc khác trong việc điều trị bệnh
cảm cúm, ho….Mặt khác, thói quen lưu trữ thuốc
cùng một nơi, cũng là yếu tố góp phần quyết
định trong sự kết hợp thuốc này. Tuy nhiên
thuốc kết hợp thay đổi tùy theo
hoàn cảnh ngộ độc. Trong các trường hợp
tự tử, thuốc hay được kết hợp nhất
là thuốc an thần, điều này cũng giống
như nhận định của các tác giả tại trung
tâm chống độc Paris(7).
Cần
lưu y thuốc an thần, kháng histamin
là những thuốc trong nhóm cảm ứng men làm tăng
nguy cơ độc gan do paracetamol. Hơn nữa, những
thuốc này làm chậm sự hấp thu
paracetamol, do đó, nguy cơ độc gan có thể cao
hơn nếu chúng ta chỉ đơn thuần dựa trên
toán đồ của Rumack-Matthew.
Có 3 trường hợp
có rối loạn tri giác (lơ mơ), không có trường
hợp nào tăng men gan và NH3 máu, trong đó
có 1 trường hợp uống thuốc an thần kèm theo,
có 2 trường hợp hạ đường huyết, do
đó t́nh trạng lơ mơ này không phải nằm trong bệnh
cảnh năo gan do suy gan bùng phát mà có thể do thuốc an thần
và t́nh trạng hạ
đường huyết.
Trong ngộ độc paracetamol triệu chứng rất
nghèo nàn, trong đó triệu chứng tiêu hoá (buồn nôn, nôn)
là thường gặp nhất(8,8). Hơn nữa, trong lô nghiên cứu này trẻ <5 tuổi
chiếm tỉ lệ khá cao (24 trường hợp), đối
với trẻ <6 tuổi, thường biểu hiện
triệu chứng buồn nôn – nôn sớm dù nồng độ
paracetamol máu có thể ở mức không gây độc(3).
Trong lô nghiên cứu này,
không có trường hợp nào biểu hiện bất
thường nước tiểu trên lâm sàng (vô niệu, thiểu
niệu, tiểu máu), điều này có thể được
giải thích như sau: paracétamol được chuyển
hóa chủ yếu qua gan, chỉ 1 tỉ lệ nhỏ (2- 5%)(2,3) được thải
qua thận dưới dạng không biến đổi nên
khả năng gây độc cho thận là rất ít. Kết
quả này giống với nhận định của các
tác giả tại trung tâm chống độc
Có 8 trường hợp xuất
hiện chấm pétéchie trên mặt. Cả 8 trường
hợp này đều đang nhiễm siêu vi,
không có trường hợp
nào có rối loạn đông máu trên xét nghiệm, do đó,
triệu chứng xuất huyết da niêm này không liên quan
đến rối loạn đông máu do ngộ độc
paracetamol.
Như vậy, triệu chứng trong ngộ độc paracétamol rất nghèo nàn, không đặc hiệu và cũng không có giá trị tiên lượng. Triệu chứng tiêu hóa (buồn nôn-nôn) là triệu chứng thường gặp nhất. Ng̣ai ra có thể gặp triệu chứng đau bụng, gan to đau, lơ mơ.
Trong lô nghiên cứu
này có 12 bệnh nhân được định lượng
nồng độ paracetamol huyết tương. Có 4 bệnh nhân có thể có nguy cơ độc
gan do paracetamol nếu không được điều trị
đặc hiệu bằng NAC, cả 4 trường hợp
này đều uống paracetamol liều cao, trong đó có 2
trường hợp uống liều >280 mg/kg, tuy nhiên
không có trường hợp nào tiến triển thành suy gan
bùng phát do đă được rửa dạ dày và điều
trị NAC sớm.
Có sự rối lọan
các xét nghiệm đông máu là v́ có t́nh trạng họai tử
tế bào gan và suy chức năng gan, do đó sẽ giảm
các yếu tố đông máu do gan sản xuất : I,II,V,VII,VIII,IX,X,XI,XII,
XIII(14). Từ đó sẽ ảnh hưởng
đến con đường đông máu nội sinh
(được khảo sát bởi TCK) và đường
đông máu ngọai sinh
(khảo sát bởi TP).
TP giảm có thể là do suy tế bào
gan, tuy nhiên TP không phải là yếu tố tiên lượng t́nh trạng
suy tế bào gan. Trong 6 trường hợp giảm TP
được ghi nhận, có 5 trường hợp giảm
TP đơn thuần không kèm theo tăng
men gan. Điều này có thể được giải thích
như sau: có thể là do sự tương tác của NAC với
yếu tố đông máu chứa cầu nối disulfide, hoặc
cũng có thể là do tác động của paracetamol trong việc
ức chế quá tŕnh cacboxyl hoá yếu tố Gamma trong sản
yếu tố đông máu phụ thuộc vào vitamin K làm suy giảm
chức năng yếu tố VII(4).
Ion đồ:
Trong nghiên cứu này có 16
trường hợp giảm K+ máu, có thể là do bệnh
nhi nôn ói nhiều v́ trong ngộ độc Paracetamol, triệu
chứng nôn ói là thường gặp nhất (32,6%).
NH3 máu: số 7 trường hợp
mà chúng tôi ghi nhận có tăng NH3 máu không có trường hợp
nào có rối loạn tri giác (lơ mơ hay
hôn mê). Do vậy, NH3 máu tăng đơn thuần chỉ là
do suy chức năng gan và phù hợp với nồng độ
urê máu trong giới hạn b́nh thường (v́ giảm tổng
hợp urê từ NH3).
Urê và
Créatinine: Tất cả các trường hợp
đều có Urê và Créatinin nằm trong giới hạn b́nh
thường. Điều này giải thích tại sao trên lâm
sàng không có trường hợp nào biểu hiện bất thường nước
tiểu (vô niệu, thiểu niệu).
SGOT, SGPT: đa số các trường
hợp có transaminase trong giới hạn b́nh thường, có
rất ít trường hợp tăng transaminase v́ trong ngộ
độc paracetamol, transaminase bắt đầu tăng giữa
giờ thứ 12-24, mà trong lô nghiên cứu này, đa số
các trường hợp đến sớm trước 6 giờ
(84,4%) và được lấy máu xét nghiệm
men gan ngay tại thời điểm nhập viện nên
chưa đủ thời gian để men gan tăng.
Đường huyết: Trong ngộ độc
paracétamol, hạ đường huyết đă được
mô tả bởi nhiều tác giả, nhưng chưa có tác giả
nào đề cập đến tăng đường huyết. Hạ
đường huyết hay tăng đường huyết
đều là biểu hiện của suy chức năng gan
v́ gan là bộ máy điều ḥa, dự trữ và cung cấp
glucose cho toàn cơ thể. Kết quả này c̣n phụ thuộc
vào thời gian giữa bữa ăn
trước đó với thời điểm nhập viện.
Xử
trí tại nhà: Tại nhà hầu như không có
phương tiện để xử trí ngộ độc
cấp nên đa số trẻ không được xử
trí tại nhà. Trong ngộ độc
paracétamol, triệu chứng rất nghèo nàn nên cha mẹ
thường không quá lo lắng, mặt khác
cha mẹ thiếu thông tin y tế, không biết xử trí
trước 1 trường hợp ngộ độc cấp. Hơn nữa, cũng có thể là quá lo lắng
cho con nên các
bậc cha mẹ đă đưa con đến cơ sơ
y tế gần nhất mà chưa xử trí ǵ ở nhà. Điều này
được thể hiện
qua thời gian từ lúc ngộ độc đến lúc nhập
viện rất sớm.
Xử trí tại tuyến truớc: Đa số các trường hợp không được xử trí 1 cách đúng đắn và đầy đủ. Điều trị ngộ độc paracétamol không phải là vượt quá khả năng của các bệnh viện tuyến trước v́ ở đó có thể thực hiện rửa dạ dày ngay lập tức, NAC uống là thuốc rất dễ t́m thấy ở bất kỳ nhà thuốc và bệnh viện nào. Kết quả này chứng tỏ kiến thức và tŕnh độ chuyên môn nhân viên y tế của tuyến trước c̣n hạn chế, chưa được đào tạo một cách đầy đủ. Nếu như mọi trường hợp đều được xử trí sớm và đầy đủ ở tuyến trước sẽ góp phần đáng kể cho kết quả điều trị sau này.
Rửa dạ dày: những
trường hợp không được rửa dạ dày tại
bệnh viện Nhi Đồng I là những
trường hợp đă được rửa dạ dày
tại tuyến trước, hay liều paracetamol uống
vào thấp, hay nhập viện trễ. Đa
số các trường hợp được rửa dạ
dày sớm, trong ṿng 3 giờ
kể từ lúc ngộ độc, chính v́ vậy hiệu
quả điều trị rất tốt.
Than hoạt: Những trường hợp dùng than họat và NAC uống là không hợp lí v́ theo lí thuyết, than họat có thể hấp phụ NAC mặc dù ở liều điều trị thông thường sự hấp phụ NAC là không đáng kể(6) và than họat không làm giảm hiệu quả điều trị của NAC(1). Tuy nhiên chúng tôi ghi nhận rằng cả 5 trường hợp này chỉ được sử dụng lúc mới vào viện, sau đó không được tiếp tục khi khởi động điều trị NAC uống. Như vậy theo chúng tôi, việc uống than họat trong những trường hợp này sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị của NAC.
NAC: NAC là chất đối
kháng hiệu quả trước 1 t́nh trạng ngộ độc
paracetamol. NAC có thể được sử dụng
đường uống hay đường tĩnh mạch
(nếu bệnh nhân nôn ói nhiều) và hiệu quả điều
trị là như nhau(1,2).
Trong lô nghiên cứu này, mặc dù triệu chứng buồn
nôn, nôn thường gặp nhất nhưng đa số các
trường hợp lại được điều trị
bằng NAC đường uống v́ những lí do sau
đây: trẻ ngừng ói khi nhập viện, mặt khác
nôn ói không phải là chống chỉ định sử dụng
NAC uống, nếu nôn ói xảy ra trong ṿng 1h sau uống NAC,
có thể lặp lại liều NAC(1,8,9) hoặc sử
dụng thuốc chống nôn như metoclopramide hay ondansetron(11). NAC đường uống
dễ t́m và có sẵn hơn NAC đường tĩnh mạch.
NAC đường tĩnh mạch có những phản ứng ứng
phụ không mong muốn, chiếm 10-14%(2,9). Bên cạnh
đó, NAC tĩnh mạch làm tăng nguy cơ tai
biến rối loạn đông máu (biểu hiện trên cận
lâm sàng).
Tuy nhiên, NAC đường tĩnh mạch được ưa chuộng hơn đường uống v́ khi truyền tĩnh mạch sẽ cung cấp ngay lượng gluthation đang cạn kiệt, đặc biệt cần thiết với những trường hợp suy gan bùng phát. Hơn nữa, những tác dụng phụ của NAC có thể được điều trị một cách dễ dàng và hầu như không lặp lại nếu được điều trị kháng histamin hay corticoid và kéo dài thời gian truyền tĩnh mạch NAC(9,16).
Trong lô nghiên cứu
này, phần lớn các trường hợp có thời gian nằm
viện tương đối ngắn (82,3% nằm viện≤
4 ngày), 100% bệnh nhân khoẻ mạnh và xuất viện, kết
quả của chúng tôi có vẻ khả quan hơn các tác giả khác, có thể
giải thích như sau: đa số các trường hợp
được phát hiện sớm và nhập viện sớm,
liều paracetamol đă uống vào không cao, những trường
hợp uống liều cao đă được móc họng-ói
tại nhà, hiệu quả của việc rửa dạ dày
và điều trị đặc hiệu bằng NAC sớm.
Chúng tôi không theo dơi sau khi xuất viện nên không ghi nhận di chứng trên những trường hợp này. Tuy nhiên một vài nghiên cứu đă chỉ ra rằng đa số các trường hợp tử vong do suy gan bùng phát sẽ diễn ra trong ṿng tuần lễ đầu tiên sau ngộ độc, các trường hợp hồi phục sẽ không tiến triển thành suy chức năng mạn tính sau đó(1).
Qua nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy hầu hết trẻ ngộ độc
paracetamol nằm trong 2 nhóm tuổi 1-5 tuổi và 10-15 tuổi.
Đối với nhóm 1-5 tuổi nguyên nhân chủ yếu là
do ṭ ṃ, do sự phát triển tâm thần
vận động. Đối với nhóm 10-15 tuổi,
nguyên nhân chủ yếu là do tự tử và trẻ nữ
thường tự tử nhiều hơn trẻ nam do sự
phát triển tâm sinh ly. Các trẻ đến từ
thành phố Hồ Chí Minh chiếm đa số. Đa số các trường hợp được
phát hiện sớm và nhập viện sớm. Triệu
chứng lâm sàng rất nghèo nàn, không đặc hiệu. Các
xét nghiệm cận lâm sàng đều cho thấy t́nh trạng
độc gan do paracetamol (giảm TP, TCK kéo dài, giảm
Fibrinogen máu, tăng SGOT và SGPT, hạ đường huyết).
Phần lớn trẻ không được xử
trí tại nhà và không được xử trí đúng đắn
và hiệu quả tại tuyến trước. Tại
bệnh viện Nhi Đồng I, hiệu
quả điều trị khá khả quan, 100% khoẻ mạnh/xuất viện,
không có trường hợp nào tử vong.
Từ kết quả nghiên cứu
trên, chúng tôi nhận thấy rằng cần phải trông nom
trẻ nhỏ cẩn thận, thuốc nên được
bảo quản cẩn thận và hợp lí. Lứa tuổi dậy th́ có diễn biến tâm lí
rất phức tạp, cần được sự chia sẻ
và chỗ dựa tinh thần từ phía gia đ́nh, nhà
trường và xă hội. Cần phải luôn bồi dưỡng và nâng cao kiến
thức điều trị ngộ độc cấp nói chung, ngộ độc paracétamol nói riêng cho
cán bộ y tế địa phương để các
trường hợp ngộ độc paracétamol có thể
điều trị sớm, đúng và tích cực hơn.
2. Baud F, (1998), "Réanimation des intoxications aigues," Masson: pp77-107.
6.
Ford M.D., (2001), "Clinical
toxicology,"
8.
Henry.J. , Wiseman H., (1997),
"Management of poisoning, a handbook for health care workers," WHO:
Geneva: pp260-263.
11. Olson .K.R., (2004), "Poisoning and drug
overdose,"
13.
Renaud Viellevoye, (2008), "Quelques urgences pédiatriques,"
CHU de Liège: pp87-89.
14.
SAMAMA M..M. et collaborateurs, (2004), "Hémorragies
et thromboses: du diagnostic au traitement," II, Masson,Paris: pp3-28.
15. Vincent Danel , Philippe Saviuc, (30 avril 2008), "Intoxication
aigue par le paracétamol," La revue du praticien, 58:pp861-865