Nguyễn Viết Đăng Quang*, Nguyễn
Hoài
Đặt vấn đề: Tràn dịch màng tim (TDMT) ác tính là tổn
thương về tim phổ biến nhất trong các bệnh
lư ác tính. Nguyên nhân thường do di căn từ ung thư phổi hay ung thư vú. TDMT lượng
nhiều và nhanh gây triệu chứng chèn ép tim
nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân. Chọc
hút màng tim là thủ thuật cấp cứu
giúp giải áp xoang màng ngoài. Ngày nay có nhiều phương
pháp phẫu thuật mở cửa sổ màng ngoài tim: dưới mũi ức, mở ngực
nhỏ, nội soi lồng ngực… với mục tiêu chính
cải thiện nhanh chóng lâm sàng, ngăn ngừa tái phát.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết
quả sớm của phẫu thuật mở cửa sổ
màng tim ở bệnh nhân bị tràn dịch
màng tim liên quan đến bệnh lư ác tính
Phương pháp nghiên cứu- Đối
tượng: Nghiên cứu hồi cứu mô tà
các trường hợp bệnh nhân bị TDMT ác tính điều
trị phẫu thuật tại Bệnh viện nhân dân Gia
Định từ tháng 1/2008 đến 6/2009.
Kết quả: Từ 1/2008 đến
6/2009, chúng tôi có 15 TH TDMT ác tính được phẫu thuật.
8 nam và 7 nữ có độ tuổi trung b́nh :
53,2 tuổi .Nguyên nhân chủ yếu là do ung thư phổi
và ung thư vú. Hầu hết bệnh nhân
đều nhập viện với triệu chứng khó thở.
15 TH có siêu âm tim tràn dịch màng tim lượng
trung b́nh đến nhiều, có 8/15 TH có dấu chèn ép tim. Có
3/15 TH mở cửa sổ màng tim qua mở
ngực nhỏ và 12/15 TH mở cửa sổ màng tim dưới
mũi ức. Kết quả tốt đạt được
11 TH, trung b́nh 1 TH xấu 3 TH. Thời gian sống trung b́nh 8,7 tuần và không nghi nhân TDMT tái phát.
Kết luận: Mở màng tim
dưới mũi ức có nhiều ưu điểm
, phương pháp phẫu thuật đơn giàn, kết
quả tốt và thời gian tái phát xa.
Từ khoá: Tràn dịch màng tim; mở cửa sổ màng tim
EARLY
RESULTS OF PARTIAL PERICARDIECTOMY FOR TREATMENT OF MALIGNANT PERICARDIAL
EFFUSION
Nguyen Viet Dang Quang, Nguyen Hoai
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 162 - 167
Introduction: Malignant pericardial effusion is the most cardiac problems in the
malignant disease. The common cause is the metastasis from lung cancer and
breast cancer. The large fluid in pericardial cavity is causing the cardiac
tamponade and dangerous for the patient. Pericardiocentesis is the first choose
in emergency decompression. Today, we have some method of pericardiectomy which
the goal is removal tamponade and prevention of recurrence
Objectives: Evaluate the
early results of partial pericardiectomy.
Method: Retropective description

Results: From 1/2008 to
6/2009, we have total 15 patients who were partial pericardiectomy. We have 8
men and 7 women, mean age: 53.2 age. The common cause
is the metastasis from lung cancer and breast cancer. All the patients had
dyspnea. In the cardiac echo, all the patients had the medium to large fluid
and 8 cases had sign of cardiac tamponade. In study, we have 3 cases of
transthoracic pericardial window and 12 cases of subxiphoid pericardial window.
The good result is 11 cases, 1 case of average results and 3 case of bad
result. The mean survival is 8.7 week anh we have not the case of recurrence.
Conclusion: Subxiphoid
pericardial window is the simple method, has a lot of advantages and good
result.
Keywords : pericardial effusion ; open pericardial window
Tràn dịch màng tim (TDMT) là
t́nh trạng tụ dịch bất thường ở khoang
màng tim gây nên hiện tượng chèn ép tim. TDMT có liên quan
đến bệnh lư ác tính chiếm khoảng 10% các trường
hợp, trong đó TDMT do bướu di căn từ nơi khác đến chiếm
75-85%. Bệnh nhân thường nhập viện với bệnh
cảnh chèn ép tim cấp biểu hiện
qua tam chứng Beck: tiếng tim mờ, tĩnh mạch cổ
nổi, huyết áp động mạch hạ. Trong TDMT liên
quan đến bệnh lư ác tính th́ lượng dịch
thường nhiều và diễn tiến nhanh, dễ gây chèn
ép tim và hay tái phát. Chọc hút dịch
khoang màng ngoài tim là biện pháp cấp cứu
đầu tiên. Tuy nhiên do tỉ lệ tái phát cao nên cần
có biện pháp ngoại khoa tiếp tục để mở
màng ngoài tim thoát dịch. Mục đích của
biện pháp ngoại khoa là tránh t́nh trạng
tái lập dịch xoang màng tim tái phát gây
chèn ép tim, cải thiện triệu chứng và chất
lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Hiện nay, có nhiều phương pháp mở cửa sổ màng tim: mở cửa sổ màng tim qua mở ngực nhỏ, qua nội soi lồng ngực, nong bằng bóng, dưới mũi xương ức… với mục tiêu là can thiệp tối thiểu, hạn chế tái phát và tăng thời gian dẫn lưu hiệu quả. Mỗi phương pháp có những lợi điểm và bất lợi khác nhau, việc áp dụng phương pháp phẫu thuật nào tùy thuộc vào t́nh trạng của bệnh nhân, phương tiện kỹ thuật và thói quen của phẫu thuật viên.
Đánh giá
kết quả sớm của phẫu thuật mở cửa
sổ màng tim ở bệnh nhân bị
tràn dịch màng tim liên quan đến bệnh lư ác tính.
Nghiên cứu
hồi cứu, mô tả các trường hợp
Tất cả
các bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim có
điều trị phẫu thuật mở cửa sổ
màng tim tại khoa Ngoại Lồng ngực- Mạch máu -
Bước cổ bệnh viện nhân dân Gia Định từ
1/2008 đến 6/2009.
Bệnh
nhân sẽ được thu thập các dữ liệu về
đặc điểm nhân trắc học, bệnh lư gốc,
triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp mổ,
thời gian phẫu thuật, thời gian hậu phẫu,
các biến chứng hậu phẫu, thời gian nằm viện
qua tham khảo hồ sơ bệnh án cũ.
Kết quả
gần: bao gồm kết quả ngay sau phẫu thuật,
thời gian hậu phẫu, biến chứng phẫu thuật
và thời gian nằm viện của bệnh nhân. Kết quả
được đánh giá như sau:
- Kết quả tốt : Bệnh nhân không có biến chứng nặng sau phẫu thuật. Bệnh nhân cải thiện rơ rệt các triệu chứng khó thở và nặng ngực.
- Kết quả trung b́nh: Bệnh nhân c̣n khó thở khi nằm đầu thấp.
- Kết quả xấu: BN tử vong sau phẫu thuật, có các biến chứng nặng do phẫu thuật hay do bệnh lư nền, không cải thiện triệu chứng khó thở.
Kết quả
lâu dài: sử dụng phương pháp phỏng vấn qua
điện thoại, thời gian sống c̣n của bệnh
nhân và t́nh trạng tràn dịch màng tim tái phát (phải điều
trị them về t́nh trạng tràn dịch màng tim)
Trong thời
gian từ 1/2008 đến 6/2009, chúng tôi thu nhận
được 15 trường hợp phẫu thuật
điều trị tràn dịch màng tim, ghi nhận được
kết quả như sau.
Nam: nữ = 8:7
Độ tuổi trung b́nh : 53,2 tuổi; nhỏ nhất
35 tuổi; lớn nhất 79 tuổi
|
Độ tuổi |
|
Nữ |
Tồng số |
|
≤ 50 tuổi |
5 |
4 |
9 |
|
> 50 tuổi |
3 |
3 |
6 |
|
|
8 |
7 |
15 |
|
Bệnh lư gốc |
Số BN |
|
K phổi |
11 |
|
K vú |
2 |
|
K cổ tử cung |
1 |
|
Lymphom |
1 |
Trong 11 trường hợp
bị K phổi, chúng tôi có 3 TH được
hoá trị đều ở giai đoạn IIIB, thời gian
trung b́nh trước TDMT là 3,6 tháng. 8 TH c̣n lại
đều là mới được phát hiện dưới
1 tháng và chưa được điều trị.
Có hai trường hợp K vú đều được mổ, hoá trị và xạ trị cách 3 và 5 năm. BN bị K cổ tử cung đă được phẫu và xạ cách 2 năm. BN phát hiện lymphom cách 3 tháng.
|
Triệu chứng lâm sàng |
Số trường hợp |
|
Khó thở |
15 |
|
Nặng |
8 |
|
Vừa |
3 |
|
Nhẹ |
4 |
|
Nhịp tim > 100l/p |
9 |
|
Hạ huyết áp |
3 |
|
Tĩnh mạch cổ
nổi |
8 |
|
Tiếng tim mờ |
11 |
|
Gan to phù chi |
6 |
|
Xét nghiệm |
Số TH |
|
H́nh ảnh X-quang ngực |
|
|
Bóng tim lớn |
15 |
|
Tràn dịch màng phổi 1
bên |
3 |
|
Tràn dịch màng phổi 2 bên |
5 |
|
Có h́nh ảnh tồn
thương phổi |
4 |
|
Bất thường
ECG (điện thế thấp) |
10 |
|
Siêu âm tim |
Lượng dịch nhiều |
Lượng dịch vừa |
|
|
Có dấu chèn ép |
6 |
2 |
8 |
|
Không dấu chèn ép |
2 |
5 |
7 |
|
|
8 |
7 |
|
|
Lượng dịch trung b́nh (mm) |
35,1 ± 12,5 |
17,3 ± 2.57 |
28,3±13,2 |
|
EF trung b́nh |
65% ± 10% |
||
Chọc
hút dịch màng tim : 11/ 15
Lượng dịch chọc hút trung b́nh :
482,7 ml ± 335,6ml
Chúng
tôi có tổng cộng 12 TH được mở màng tim bằng
phương pháp dưới mũi ức và 3 TH mở màng
tim qua mở ngực nhỏ.
|
|
Mở ngực nhỏ |
Dưới mũi ức |
|
Phương pháp vô cảm |
|
|
|
Gây mê |
3 |
0 |
|
Gây tê tại chỗ |
0 |
12 |
|
Lượng dịch
trung b́nh |
250 ± 70,7 |
595,8 ± 228,09 |
|
Thời gian phẫu
thuật |
75 ± 65,5 |
61,2 ± 17,2 |
|
Kết quả gần
sau phẫu thuật |
|
|
|
Tốt |
2 |
9 |
|
Trung b́nh |
0 |
1 |
|
Xấu |
1 |
2 |
|
Thời gian rút ODL màng
tim |
8 ± 1,4 |
3,6 ± 1,5 |
|
Thời gian nằm viện |
10 ± 1,4 |
6,5 ± 2,1 |
Chúng tôi theo
dơi bệnh nhân bằng phương pháp phỏng vấn qua
điện thoại, kết quả:
- Mở ngực nhỏ: 1 TH, thời gian sống của bệnh nhân sau xuất viện là 2 tuần, không ghi nhận t́nh trạng tràn dịch màng tim tái phát.
- Dưới mũi ức: 6 TH, thời gian sống của bệnh nhân sau xuất viện thấp nhất là 2 tuần và cao nhất là 10 tháng, thời gian sống trung b́nh là 8,7 ± 2,9 tuần và không ghi nhận trường hợp nào tràn dịch màng tim tái phát.
Qua thời gian nghiên cứu từ 1/2008
đến 6/2009, chúng tôi thu nhận được 15 TH tràn
dịch màng tim ác tính được điều trị mở
cửa sổ màng tim tại Bệnh viện nhân dân Gia Định.
Chúng tôi thu nhận được 8
nam và 7 nữ có độ tuổi trung b́nh: 53,2 tuổi; nhỏ
nhất 35 tuổi; lớn nhất 79 tuổi.
Tràn dịch màng tim ác tính có đặc
điểm là sự thành lập dịch nhanh, lượng
nhiều, gây triệu chứng chèn ép và đặc biệt tỉ
lệ tái phát cao. Hầu hết các tràn dịch màng tim do ung
thư vú hay phổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguyên
nhân tràn dịch màng tim ác tính chủ yếu là do ung thu phổi (11/15) và đa số mới phát hiện, kế
tiếp là ung thu vú (2/15) và ung thư cổ tử cung. Kết
quả này cũng tương tư kết quả của
Văn Tần, Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ, Văn Minh
Trí. Như vậy, tràn dịch màng tim ác tính có nguyên nhân hàng
đầu là do ung thư phổi và ung thư vú.
TDMT làm tăng áp lực xoang màng tim, cản trở th́ tâm
trương của tim. Khi lượng dịch màng ngoài tim
tăng dần dẫn đến triệu chứng chèn ép
tim với tam chứng cổ điển Beck. Trong nghiên cứu
chúng tôi, chỉ có 3/15 TH BN có tam chứng Beck. Hầu hết
bệnh nhân nhập viện với triệu chứng khó thở
(15/15) trong đó có 8 TH là khó thở mức độ nặng.
Tiếng tim mờ được phát hiện 11/15. Mạch
nhanh > 100l/p có 9/15 TH. So sánh với tác
giả Văn Minh Trí và Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ th́
triệu chứng khó thở, tiếng tim mờ và mạch
nhanh > 100l/p là thường gặp nhất.
Về biểu hiện cận
lâm sàng, có 15/15 TH bóng
tim to trên phim XQuang ngực thẳng. Có 3/15 tràn dịch màng phổi
(TDMP) 1 bên và 5/15 TH TDMP 2 bên. Siêu âm tim là phương tiện
chẩn đoán chính xác nhất, có độ nhạy và
độ đặc hiệu cao. Ngoài ra siêu âm tim c̣n cho phép
khảo sát t́nh trạng huyết
động, lượng dịch màng tim, dấu chèn ép tim,
định vị vị trí chọc ḍ màng tim giải áp.
Trong nghiên cứu, siêu âm tim phát hiện 8/15 TH có tràn dịch
màng tim lượng nhiều và 7/15 TH TDMT lượng trung
b́nh. Dấu chèn ép tim xuất hiện 8/15 TH. Trên ECG có sự
thay đổi không đặc hiệu QRS thấp 10/15 TH.
Điều trị tràn dịch màng tim có nhiều
phương pháp, có thể dùng riêng lẻ hay kết hợp
với nhau nhằm mục đích chính là làm mất dịch
khoang màng tim. T́nh trạng bệnh nhân, bệnh lư phối hợp,
giai đoạn của ung thư, tiên lượng
sống c̣n và đáp ứng điều trị làm ảnh
hưởng đến các lựa chọn này.
Chọc hút dịch màng ngoài tim được
đặt ra khi có dấu chèn ép tim hay chưa có dấu chèn
ép tim nhưng có tràn dịch màng tim lượng nhiều. Chọc
hút màng tim làm giảm triệu chứng chèn ép tim giúp cho bệnh
nhân qua khỏi t́nh trạng nguy hiểm và có khả năng
phẫu thuật mở cửa sổ màng tim. Thông thường
chỉ cần chọc hút khoảng 150-200 ml dịch là đủ
làm giảm triệu chứng chèn ép tim. Chọc ḍ màng tim là
thủ thuật đơn giản, có thể phối hợp
dưới hướng dẫn của siêu âm để
tăng tỉ lệ thành công. Qua chọc ḍ màng tim, người
ta có thể đặt catheter vào xong màng tim dẫn lưu dịch
và bơm thuốc làm dính màng ngoài tim ngừa tái phát. Tuy nhiên,
chọc ḍ màng tim gặp khó khăn trong các trường hợp
như tụ dịch thành sau khu trú, dịch mủ đặc,
hay gây các biến chứng như chọc thủng tim,
tĩnh mạch chủ dưới hay mạch vành. Trong
nghiên cứu chúng tôi có 11/15 trường hợp cần chọc
ḍ màng tim giải áp với lượng dịch trung b́nh khoảng
480ml. Chúng tôi không gặp trường hợp nào tai biến
do chọc ḍ màng tim.
Tuy nhiên trong TDMT ác tính có hiện
tượng tái lập dịch nhanh, chính v́ vậy ngoài chọc
hút màng tim cần có phẫu thuật mở cửa sổ
màng tim đê giải quyết triệt để hơn. Có
nhiều phương pháp phẫu thuật như: mở ngực
nhỏ, nội soi lồng ngực, dưới mũi ức…
với mục tiêu là can thiệp tối thiểu và thời
gian tái phát dài nhất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi có 3/15 TH
mở của sổ màng tim qua mở ngực nhỏ
đường liên sườn 4 cạnh ức trái và 12/15
TH mở cửa sổ màng tim dưới mũi ức.
Các trường hợp mở cửa sổ
màng tim qua mở ngực nhỏ đều được
gây mê khi phẫu thuật và có thời gian phẫu thuật
trung b́nh 75 phút, lượng dịch dẫn lưu trung b́nh
khoảng 250ml. Đánh giá về kết quả phẫu thuật
gần có 2/3 TH có kết quả tốt, BN hết các triệu chứng khó thở
và nặng ngực, nằm đầu thấp được.
Thời gian rút ống dẫn lưu màng phổi là 7 và 9
ngày. BN được xuất viện ngày hậu phẫu 9
và 11. Có 1/3 TH có kết quả xấu sau phẫu thuật,
BN này bị Lymphom cách 3 tháng, nhập viện với triệu
chứng khó thở nặng và có tam chứng Beck, siêu âm tim có
h́nh ảnh tim đu đưa, tràn dịch lương nhiều,
Xquang phổi có tràn dịch màng phổi 2 bên lượng vừa,
tổn thương phổi lan, trước phẫu thuật
BN được chọc hút dịch màng tim 1700ml, BN
được rút nội khí quản sau phẫu thuật
3giờ 30 phút, BN phải ngồi thở, ran ẩm ran rít khắp
2 phế trường. Sau 10 giờ, BN bị suy hô hấp,
người nhà xin về. Nguyên nhân chính khiến bệnh
nhân suy hô hấp là do bệnh lư nền có sẵn, có thể
kết hợp với 1 phần của việc gây mê khi mổ.
Chúng tôi theo dơi được 1 bệnh nhân khi xuất viện.
BN này tử vong sau 2 tuần tại nhà và không ghi nhận
tràn dịch màng tim tái phát.
Đối với các trường hợp mở màng
ngoài tim dưới mũi ức (12/15), tất cả các TH
đều được gây tê tại chỗ dưới
mũi ức khi phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật
trung b́nh 60 phút và lượng dịch dẫn lưu trung b́nh
là 600ml. Đánh giá kết quả phẫu thuật gần có
9/12 TH kết quả tốt, 1/12 TH kết quả trung b́nh
và 2/12 TH là kết quả xấu. Thời gian rút ống dẫn
lưu trung b́nh là 3,6 ngày và thời gian xuất viện trung
b́nh là 6,5 ngày. Bàn về kết quả trung b́nh, BN sau phẫu
thuật có sinh hiệu ổn định, nhưng vẩn
c̣n khó thở khi nằm đẩu thấp, nẳm tư thế
30 độ. BN xin về nhà sau 2 ngày hậu phẫu. V́ vậy
chúng tôi đánh giá kết quả là trung
b́nh. Bàn vể 2 TH kết quả xấu, trường hợp
1, BN bị K phổi khoảng 1 tháng ,
giai đoạn IIIB, đang được hoá trị, siêu
âm có tràn dịch màng tim lượng nhiều có dấu chèn
ép, BN được chọc ḍ màng tim nhưng thất bại
chỉ ra khoảng 10ml. Trong quá tŕnh soạn mổ, BN
được gây tê phối hợp với tiền mê, sau
đó BN ngưng tim, được tiến hành hồi sức
và đặt nội khí quản thở máy. Đến ngày hậu
phẫu 3 BN vẫn c̣n thở máy, truy tim mạch được
người nhà xin về. Ở bệnh nhân này, chúng tôi
nghĩ nguyên nhân chính gây tử vong cho bệnh nhân là truỵ
tim mạch sau sử dụng thuốc an thần tiền mê.
Trường hợp 2, BN bị K phổi 1 tháng giai đoạn
IV, siêu âm tràn dịch màng tim lượng nhiều có dấu
chèn ép tim, Xquang có h́nh ảnh tổn thương phổi và
xẹp phổi T. BN bị suy hô hấp sau mổ 16 giờ
nghĩ do viêm phổi và được người nhà xin về.
Về đánh giá kết quả lâu dài, chúng tôi theo dơi
được 6/12 TH, thời giai sống ngắn nhất
là 2 tuần và dài nhất là 10 tháng, trung b́nh là 8,7 tuần.
Không ghi nhận trường hợp nào tràn dịch màng tim
tái phát
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy
phương pháp mở màng tim dưới mũi ức có
nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại
chỗ khi phẫu thuật, thời gian phẫu thuật
không quá dài khoảng 1 giờ, lượng dịch dẫn
lưu tương đối nhiều, kết quả gần
khá tốt và kết quả xa khả quan. Tuy nhiên đây chỉ
là những kết quả sơ khởi, cần phải có
những nghiên cứu
tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn, thiết kế
tốt hơn để đưa ra những kết luận
chính xác.
Tràn dịch màng tim ác tính hiện nay đă có những
phương pháp điều trị khá tốt.
Nguyên nhân thường gặp
của TDMT ác tính là ung thư phổi và ung thư vú. Chẩn
đoán TDMT tương đối dễ dàng v́ bệnh cảnh
lâm sàng rơ. Siêu âm tim là phương tiện chẩn đoán
chính xác, rẻ tiền và nhanh chóng, có khả năng phối hợp với
điều trị. Chọc ḍ màng tim là phương pháp cấp
cứu trong trường hợp chèn ép tim. Phương pháp
mở cửa sổ màng ngoài tim dưới mũi ức có
nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại
chỗ, thời giai phẫu thuật ngắn, lượng
dịch dẫn lưu nhiều, kết quả gần tốt
và thời gian tràn dịch màng tim tái phát xa.
1. Carey A. Cullinane, MD; I. Benjamin Paz, MD; David Smith, PhD et al, (2004), “Prognostic Factors in the Surgical Management of Pericardial Effusion in the Patient With Concurrent Malignancy” , CHEST, 125, page : 1328-1334.
2. Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ và CS, (2006), “ Tràn dịch màng tim bệnh lư có chèn ép tim: chẩn đoán và kết quả điều trị mở cửa sổ màng tim”, luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú.
3. Patrick K. H. O’Brien, MD, John C. Kucharczuk, MD et al, (2005), “Comparative Study of Subxiphoid Versus Video-Thoracoscopic Pericardial “Window” “,Ann Thorac Surg, vol 80, page :2013–2019.
4. Todd L. Demmy and Chukwumere Nwogu, (2005), “ Malignant pleural and pericardial effusions”, Surgery of the chest. Sarbiton & Spencer, page : 447-469
5.
Văn Minh
Trí và CS, (2007), “ Kết quả điểu
trị ngoại khoa tràn dịch màng tim”, Tạp chí y học
TP.HCM, chuyên đề Ngoại Lồng ngực- Tim mạch.
6.
Văn Tần, Hoàng Danh Tấn,
(2002), “ Chỉ định, kỹ thuật
và kết quả cắt mở màng tim qua nội soi lồng
ngực”, Y học TP.HCM, tập 6, phụ bản số 2.