Phó Minh Tín*, Nguyễn Hoàng Đức*
Mục tiêu: đánh giá tính khả thi của phẫu thuật trong ngày lấy sỏi
niệu quản đoạn lưng
nội soi sau phúc mạc.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu 42 trường hợp
phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu
quản đoạn lưng
tại Khoa ngoại Bệnh viện
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ
tháng 01 năm 2009 đến tháng 10 năm 2009. Chúng tôi áp dụng những cải tiến:
đặt thông DJ 7Fr trước khi khâu kín niệu quản,
không dẫn lưu
vùng sau phúc mạc và tiêm giảm đau vết mổ bằng
10mL Bupivacain hydrochloride/Epinephrine. Sau mổ bệnh nhân
được xuất viện ngay trong ngày mổ hoặc
trong vòng 24 giờ sau mổ, tùy thuộc địa chỉ
cư trú và tình trạng toàn thân của bệnh nhân. Chúng tôi xác định
tỷ lệ bệnh nhân có thể xuất viện trong vòng
24 giờ sau mổ và tỷ lệ bệnh nhân phải trở
lại nhập viện cấp cứu trong vòng 7 ngày sau xuất
viện do những tai biến, biến chứng liên quan
đến phẫu thuật.
Kết quả: chúng tôi có 26 bệnh nhân nam và 16 bệnh nhân nữ, tuổi
trung bình 48 ± 13 (nhỏ nhất 19 tuổi; lớn nhất 77
tuổi). Tỷ lệ sỏi bên phải nhiều
gấp đôi sỏi
bên trái. 81% sỏi nằm ở vị trí
mỏm ngang đốt sống L3; 19% sỏi ở vị
trí mỏm ngang đốt sống L4. Thận ứ
nước độ 1 chiếm 19%; độ 2 là 69% và ứ
nước độ 3 là 12%. Trung bình chiều dài viên sỏi
là 16 mm ± 4,1 (thay đổi từ 9 đến 25 mm) và trung
bình chiều ngang viên sỏi là 9,8 mm ± 2,2 (thay đổi từ
6 đến 16 mm). Trung bình thời gian phẫu thuật là
60 phút ± 16 (thay đổi từ 35 đến 110 phút) trong
đó trung bình thời gian đặt thông DJ là 5 phút ± 1,5 (thay đổi
từ 4 đến 8 phút). Về tình trạng đau lúc xuất viện:
33,3% bệnh nhân đau mức độ
1/10; 47,6% đau
mức độ 2/10; 14,3% bệnh nhân
đau mức độ 3/10; 2,4% đau mức độ 4/10 và 2,4% đau mức độ
5/10. Sau mổ 12 giờ, 57,1% (n=24) bệnh
nhân có thể xuất viện ngay; 23,8% (n=10) bệnh nhân do ở
xa nên nằm lại bệnh viện qua đêm và xuất viện
buổi sáng hôm sau. 19% (n=8) bệnh nhân xuất viện ở
thời điểm 36 giờ sau mổ. Các trường hợp xuất
viện muộn này đều do bệnh nhân còn đau (mức độ
đau từ 3/10 đến 5/10). Sau xuất viện
không có trường hợp nào bệnh nhân phải trở lại
nhập viện cấp cứu trong vòng 7 ngày sau mổ.
Chúng tôi có 1 trường hợp tụ dịch
sau phúc mạc được điều trị bảo tồn.
Kết luận: trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy
sỏi niệu quản đoạn lưng, nếu đặt thông DJ trước
khi khâu niệu quản, tiêm giảm đau vết mổ bằng
Bupivacain hydrochloride và không đặt dẫn lưu sau phúc mạc,
80,9% bệnh nhân có thể xuất viện trong 24 giờ sau
phẫu thuật.
Từ khóa: sỏi niệu quản, nội soi sau phúc mạc, phẫu thuật trong ngày.
THE
FEASIBILITY OF DAY-SURGERY RETROPERITONEOSCOPIC URETEROLITHOTOMY
Pho
Minh Tin, Nguyen Hoang Duc
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Suppl ement of No 1 – 2010: 104 - 107
Objectives: to assess the
safety and effectiveness of day surgery retroperitoneoscopic ureterolithotomy.

Patients and Methods: retroperitoneoscopic ureterolithotomy was undertaken in 26 male and 16
female patients from January 2009 to October 2009. The modified techniques of
surgery included (1) leaving a 7Fr double J ureteral stent before suturing the
ureter so that no retroperitoneal drainage was needed post operatively and (2)
trocar-site injection of 10mL of Bupivacain hydrochloride/Epinephrine at the
end of the procedure. Patients were discharged within 24 hours after the
surgery.
Results: the procedure
was successful in 100% of cases. Mean length of stones was 16 mm ± 4.1; mean
width of stones
was 9.8 mm ± 2.2. Mean operating time was 60 ± 16 minutes and mean
intraoperative time to put the DJ stent inside the ureter was 5 ± 1.5 minutes.
After surgery, 57.1% of patients were discharged by 12 hours post-operatively;
23.8% of patients were discharged by 24 hours post-operatively. There was not any
case of re-admission to hospital after operation.
Conclusions: in retroperitoneoscopic ureterolithotomy, with the application of some
modification in surgical techniques, 80.9% of patients are able to discharge
safely within 24 hours post-operatively
Keywords: ureteral calculi, retroperitoneoscopy, day surgery
Sỏi niệu quản là một bệnh thường gặp trong niệu khoa. Từ những thập niên cuối thế kỷ 20, với sự xuất hiện của nhiều phương pháp ít sang chấn như tán sỏi nội soi, phẫu thuật lấy sỏi nội soi sau phúc mạc hoặc trong phúc mạc, tán sỏi ngoài cơ thể… phẫu thuật viên đã có nhiều sự lựa chọn trong can thiệp lấy sỏi niệu quản.
Phẫu thuật lấy sỏi niệu quản
nội soi sau phúc mạc được chỉ định
khi sỏi niệu quản thất bại với tán sỏi
ngoài cơ thể, sỏi
kích thước lớn, sỏi rắn, sỏi khảm vào
thành niệu quản, hoặc sỏi kèm theo hẹp niệu
quản dưới sỏi(9). Ở các đơn vị điều trị chưa được trang bị
máy tán sỏi ngoài cơ thể
hoặc chưa có đầy
đủ các phương
tiện nội soi niệu, lấy sỏi niệu quản
nội soi sau phúc mạc là một phương tiện điều trị hiệu quả
và ít xâm hại nhất(2). Tại Việt
Hiện nay, hạn chế của phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng là thời gian nằm viện sau mổ còn dài. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá tính khả thi của phẫu thuật trong ngày lấy sỏi niệu quản đoạn lưng nội soi sau phúc mạc để chứng minh được tính ưu việt tuyệt đối của phẫu thuật nội soi sau phúc mạc so với phẫu thuật mở.
Nghiên cứu tiến cứu 42 trường hợp phẫu thuật lấy sỏi niệu quản đoạn lưng nội soi sau phúc mạc tại Bệnh viện Đại học Y Dược từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2009. Để rút ngắn thời gian nằm viện sau phẫu thuật chúng tôi áp dụng những cải tiến sau đây:
- Lưu thông DJ 7Fr/22 cm trong niệu quản trước khi khâu kín niệu quản.
- Không dẫn lưu vùng sau phúc mạc.
- Tiêm trong cơ 10mL Bupivacain hydrochloride/Epinephrine (Marcaine ® 0.5%) vào các lỗ trocar để giảm đau sau mổ.
Tất cả
bệnh nhân đều được phẫu thuật vào
8 giờ sáng. Đến 16 giờ, chúng tôi đánh giá lại mức độ đau của bệnh nhân (theo thang điểm 10), tình trạng tri giác,
sinh hiệu. Nếu bệnh nhân đau ít, tri giác tỉnh, sinh hiệu ổn
định, nước tiểu vàng và muốn xuất viện,
chúng tôi sẽ cho xuất viện vào lúc 20 giờ cùng ngày.
Hai tuần sau mổ, bệnh nhân sẽ tái khám để
rút thông DJ niệu quản. Trước khi rút thông DJ, chúng
tôi đánh giá lại độ ứ nước của thận bằng siêu âm bụng và vị trí của thông DJ bằng hình chụp KUB.
Chúng tôi đánh giá: mức độ đau của bệnh nhân sau mổ; tỷ
lệ bệnh nhân phải nhập viện trở lại
sau khi xuất viện và nguyên nhân bệnh nhân phải nhập
viện trở lại; tỷ lệ tụ dịch sau phúc
mạc do rò niệu quản; tỷ lệ thông DJ đặt
không đúng vị
trí. Thống kê mô tả với phần mềm SPSS 16.0.
Chúng tôi có 26 bệnh
nhân nam và 16 bệnh nhân nữ, tuổi trung bình 48 ± 13 (nhỏ
nhất 19 tuổi; lớn nhất 77 tuổi). Trung bình chỉ
số BMI của bệnh nhân là 21 ± 2,6 (thay đổi từ
17 đến 26). Tỷ lệ sỏi bên phải nhiều gấp
đôi sỏi bên trái.
Trên hình KUB, 81% sỏi nằm ở vị trí mỏm ngang
đốt sống L3; 19% sỏi ở vị trí mỏm
ngang đốt sống L4. Thận ứ nước độ
1 chiếm 19%; độ 2 là 69% và ứ nước độ
3 là 12%. Trung bình chiều dài viên sỏi là 16 mm ± 4,1 (thay đổi
từ 9 đến 25 mm) và trung bình chiều ngang viên sỏi
là 9,8 mm ± 2,2 (thay đổi từ 6 đến 16 mm).
Trung bình thời
gian phẫu thuật là 60 phút ± 16 (thay đổi từ 35
đến 110 phút) trong đó trung bình thời gian đặt thông DJ là 5 phút ±
1,5 (thay đổi từ 4 đến 8 phút). Chúng tôi sử
dụng 3 trocar trong 88,1% trường hợp và 4 trocar trong
11,9% trường hợp. Không có trường hợp nào
không đặt được thông DJ trong mổ. Niệu
quản được khâu kín bằng mũi rời với chỉ polyglactin
4-0. Chúng tôi dùng 2 mũi khâu trong 2,4% trường hợp; 3
mũi khâu trong 47,6%
trường hợp; 4 mũi khâu trong 42,9% trường hợp và 5 mũi khâu
trong 7,1% trường
hợp. Tất cả các trường hợp mổ đều
không đặt dẫn lưu vùng sau phúc mạc.
Đánh giá
trình trạng đau lúc xuất viện: 33,3% bệnh nhân
có mức độ đau 1/10; 47,6% đau mức
độ 2/10; 14,3% bệnh nhân đau mức độ 3/10; 2,4% đau mức độ 4/10 và 2,4% đau mức độ 5/10.
Sau mổ 12 giờ,
57,1% (n=24) bệnh nhân có thể xuất viện; 23,8% (n=10) bệnh
nhân do ở xa nên nằm lại bệnh viện qua đêm và xuất viện buổi sáng hôm
sau. 19% (n=8) bệnh nhân xuất viện ở thời điểm 36 giờ sau mổ. Các
trường hợp xuất viện muộn này đều
do bệnh nhân còn đau (mức độ đau từ 3/10 đến 5/10).
Sau xuất viện
không có trường hợp nào bệnh nhân phải trở lại
nhập viện cấp cứu trong vòng 7 ngày sau mổ. Có 1
trường hợp khi tái khám có khối tụ dịch sau
phúc mạc đường kính 5cm nhưng bệnh nhân không có triệu chứng
đau. Bệnh nhân
được điều trị bảo tồn. Tất cả các trường
hợp khi chụp KUB kiểm tra đều thấy sạch
sỏi hoàn toàn và thông DJ nằm đúng vị trí.
Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc
lấy sỏi niệu quản được Wickham thực
hiện lần đầu vào năm 1979(11). Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, phẫu thuật này được
triển khai ở Bệnh Viện Trưng Vương từ tháng 1/2002. Hiện nay nhiều bệnh
viện trong nước đã áp dụng phẫu thuật
nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản
đoạn
lưng. Hạn chế của phẫu
thuật là thời gian nằm viện sau mổ còn dài.
Đoàn Trí Dũng(1) thực hiện
phẫu thuật này trên 30 trường hợp với thời
gian nằm viện trung bình 5,2 ngày. Năm 2006, Nguyễn Hoàng Đức(4) ghi nhận thời
gian nằm viện sau mổ 3,5 ngày. Gần đây nhất, thời gian nằm viện
sau mổ của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng(6) là 7,6 ngày.
Để
tăng tính ưu việt của nội soi sau phúc
mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng, chúng tôi
nghiên cứu áp dụng
phẫu thuật trong ngày. Phẫu thuật niệu khoa trong
ngày đã được
áp dụng từ lâu tại các nước có nền kinh tế
phát triển(7). Tại Việt
Nam, cũng có nhiều nghiên cứu về phẫu thuật trong ngày đối
với các loại bệnh lý ngoại khoa khác nhau với kết
quả rất khả quan(7,10). Nhưng nội soi sau phúc
mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng bằng phẫu
thuật trong ngày chưa được tác giả nào đề cập đến.
Để có thể áp dụng phẫu thuật trong ngày
đối với nội soi sau phúc mạc lấy sỏi
niệu quản, chúng tôi áp dụng một số cải tiến
như: (1) không đặt dẫn lưu sau phúc mạc và (2) tiêm Bupivacain
hydrochloride vào các lỗ trocar khi kết thúc phẫu thuật.
Theo chúng tôi ống
dẫn lưu sau phúc mạc là một nguyên nhân gây đau và khó chịu cho bệnh nhân sau mổ
nhưng phẫu thuật
viên bắt buộc phải đặt dẫn lưu sau phúc
mạc để thoát
lưu nước tiểu đề phòng biến chứng
xì nước tiểu sau mở niệu quản lấy sỏi.
Nếu không đặt dẫn lưu sau phúc mạc, phẫu thuật viên phải
đảm bảo không có hiện tượng xì nước
tiểu sau mổ.
Trong nội
soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản đoạn lưng, nếu đặt thông niệu
quản lưu thì tỉ lệ xì nước tiểu sau mổ giảm
đi có ý nghĩa thống kê(5). Để mạnh
dạn không đặt dẫn lưu sau phúc mạc, chúng tôi đặt thông
DJ trước khi khâu niệu quả cho tất cả bệnh
nhân nhằm hạn chế tối đa biến chứng xì nước tiểu.
Chúng tôi không đặt nòng niệu quản vì chúng tôi ghi nhận
một số bệnh nhân có biến chứng xì nước
tiểu sau khi bệnh nhân tự tiểu ra nòng niệu quản.
Thời gian trung bình để đặt thông DJ trong mổ
khoảng 5 phút. Thời gian này không quá lâu và thao tác không quá
khó do đó việc
đặt thông DJ trước khi khâu niệu quản có thể
thực hiện được một cách thường quy
trong nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản.
Hiệu quả của tiêm Bupivacain hydrochloride vào các lỗ
trocar để giảm đau cũng đã
được nhiều tác giả chứng minh(3). Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng nhận thấy tiêm Bupivacain hydrochloride vào các lỗ
trocar có kết quả giảm đau sau mổ rất khả quan. 82% bệnh
nhân không đau nhiều
và có thể xuất viện trong vòng 24 giờ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau xuất
viện không có trường hợp nào bệnh nhân phải
trở lại nhập viện cấp cứu trong vòng 7 ngày
sau mổ. Có 1 trường hợp khi tái khám để rút
thông DJ có khối tụ dịch sau phúc mạc đường
kính 5cm nhưng bệnh
nhân không có triệu chứng đau. Bệnh nhân được điều trị bảo tồn. Tất
cả các trường hợp khi chụp KUB kiểm tra
đều thấy thông DJ nằm đúng vị trí.
Trong nội soi sau phúc mạc lấy sỏi
niệu quản đoạn lưng, nếu
đặt thông DJ trước khi khâu niệu quản, tiêm
giảm đau vết
mổ bằng Bupivacain hydrochloride và không đặt dẫn lưu sau phúc mạc thì 80,9% bệnh
nhân có thể an toàn xuất viện trong 24 giờ sau phẫu
thuật.
1. Đoàn Trí Dũng (2003). Một số nhận xét về phẫu thuật mở niệu quản lấy sỏi qua ngã nội soi sau phúc mạc. Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 7, số 1, tr. 12 - 16.
3.
Nguyễn
Hữu Tú, Nguyễn Thị Ngân Thanh. Tác dụng giảm
đau sau mổ cắt túi mật nội soi bằng
phương pháp bơm
Bupivacain vào khoang phúc mạc
phối hợp với gây tê tại chỗ rạch da bằng
Bupivacain. Tạp chí nghiên cứu Y học, 48(2): 100 - 105.
4.
Nguyễn
Hoàng Đức, Nguyễn Tân Cương, Trần
Lê Linh Phương, Vũ
Hồng Thịnh (2006). Kết
quả bước đầu của phẫu thuật lấy
sỏi niệu quản đoạn lưng nội
soi tối thiểu sau phúc mạc. Y học thành phố Hồ
Chí Minh, phụ bản tập 10, số 1, tr. 86 - 89.
5.
Nguyễn
Hoàng Đức (2005). Vai trò
của thông niệu quản lưu trong phẫu thuật
nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Y học thành phố hồ chí minh phụ bản tập 9, số 2, tr. 94 - 97.
6.
Nguyễn
Mạnh Hùng, Nguyễn Thanh Tùng (2008). Kết quả điều trị
phẫu thuật niệu quản nội soi sỏi niệu
quản qua đường sau phúc mạc tại bệnh viện
Bắc Ninh. Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản
tập 12, số 4, tr. 114 - 119.
7.
Nguyễn
Văn Hải, Nguyễn Thanh Thoại, Nguyễn
Đình Tiến, Nguyễn Tuấn, Châu Phú
Vĩnh (2006). Điều trị
sỏi túi mật bằng phẫu thuật cắt túi mật
nội soi trong ngày. Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ
bản tập 10, số 4, tr. 57 - 62.
8.
Nishimura T,
Abe H (2000). Day surgery in Urology, Asian Med J, 43(1): 25 - 32.