Phạm
Hằng
Hà*, Phạm
Thị
Lan Anh*
Đặt vấn đề: Đây là một nghiên cứu định tính nhằm t́m hiểu
nhu cầu hội nhập của trẻ nhiễm HIV/AIDS;
đồng thời t́m hiểu hiệu quả hoạt
động cũng như những mặt c̣n tồn tại của mô h́nh chăm sóc trẻ nhiễm
HIV của trung tâm Mai Ḥa năm 2008. Qua đó nghiên cứu đề
ra một số giải pháp với mong muốn hạn chế
phần nào những trở ngại mà trung tâm gặp phải
trong tiến tŕnh hỗ trợ các em nhiễm HIV hội nhập
với cộng đồng.
Mục tiêu cụ thể: T́m hiểu nhu cầu hội nhập của các em nhiễm
HIV/AIDS tại trung tâm Mai Ḥa năm 2008. T́m hiểu những
mặt c̣n tồn tại của mô h́nh chăm sóc trẻ bị nhiễm
tại trung tâm Mai Ḥa trong vấn đề hội nhập.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thăm ḍ qua khảo sát 03 cuộc thảo luận
nhóm và 09 cuộc phỏng vấn sâu kết hợp một số
phương pháp nhằm làm tăng
tính tham gia của trẻ nhỏ.
Kết quả nghiên cứu: Sau khi tiến hành, nghiên cứu đă t́m hiểu
được tâm tư,
nguyện vọng của các em nhỏ hiện
sống tại trung tâm; thu thập được thông tin về
việc trung tâm đă đáp ứng được phần lớn các nhu cầu
thiết yếu nhằm duy tŕ sự sống cũng như giảm sự khác
biệt giữa các em với bạn bè cùng trang lứa đồng
thời ghi nhận những khó khăn mà trung tâm gặp phải trong việc hỗ trợ các em nhiễm
hội nhập với cộng đồng địa
phương.
Kết luận: Cần có sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể trong việc hỗ trợ các em bị nhiễm HIV/AIDS ḥa nhập với cộng đồng địa phương thông qua việc thay đổi nhận thức của người dân về HIV/AIDS và tăng sự cảm thông với hoàn cảnh và sự khác biệt mà các em đang phải gánh chịu.
Từ khóa: Trẻ nhiễm
HIV/AIDS, trung tâm Mai Ḥa, nhu cầu hội nhập, mô h́nh
chăm sóc trẻ nhiễm, mong muốn của trẻ nhiễm
HIV, hỗ trợ trẻ nhiễm, nghiên cứu thăm ḍ,
thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu.
HIV CHIDREN’S NEEDS OF INTEGRATION INTO COMMUNITY
AT MAI HOA CENTRE
ON APRIL 2008
Pham Hang Ha, Pham Thi Lan Anh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 -Supplement of No 1-2010: 211-217
Background: This is a qualitative research
to explore the HIV chilren’s demand of integration into the community; the
effectiveness of Mai Hoa centre’s model taking care of HIV children; and the
shortcomings of this model in 2008 so that researchers can recommend some potential soltuions to support HIV
children’s assimilation into the community.
Objectives: To explore the
demand of HIV children to integrate at Mai Hoa centre, to rectify the shortcomings of Mai Hoa’s model
taking care of HIV children in 2008.
Methods: Three extensive
group disccusions and nine in-depth interviews along with some other approaches
were conducted to carry out the study.

Results: The research
shows the necessity and desire of HIV children to integrate into the local
community. The study also recognizes certain obstacles that Mai Hoa centre is
confronting in its constant effort to support HIV children to assimilate into
the community.
Conculsion: The collaboration among involved organizations is necessary to help HIV children to effectively merge with the community especially by raising the awarness of the citizens about HIV.
Keywords: HIV children, Mai Hoa centre, needs of integration, model of taking care of HIV children, desire of HIV children, support of HIV children, extensive group disccusion, in-depth interview.
Thế
giới hiện tại đang đứng
trước nhiều thách thức: chiến tranh, đói nghèo, thiên tai và bệnh tật.
Hàng năm hơn 10 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi chết đi do những căn bệnh mà chúng
ta có thể ngăn ngừa được
trong đó
có HIV/AIDS. Đến năm 2007, có khoảng 2,5 triệu trẻ
em trên toàn thế giới chết đi v́ AIDS và con số mắc mới trong năm lên tới 420 000 trẻ. Riêng tại
Việt
Như
bao trẻ em khác cần được sự nuôi dưỡng,
che chở của gia đ́nh và xă hội, những
trẻ bị nhiễm HIV/AIDS đ̣i hỏi các điều kiện chăm sóc tốt hơn về dinh dưỡng, y tế đặc biệt
là sự nâng đỡ về mặt tinh thần. Thế
nhưng những định kiến khắt khe của
xă hội, những lo sợ về căn bệnh đă tạo nên bức
tường vô h́nh ngăn cản sự hội nhập
của trẻ bị nhiễm HIV/AIDS với cộng đồng;
và đây cũng là một trong những
nguyên nhân gây trở ngại cho mọi nổ lực nhằm
ngăn chặn sự lây lan của đại dịch
này trên toàn cầu. Hiện nay trên thế giới,
nhiều trung tâm chăm
sóc trẻ bị nhiễm HIV/AIDS đă được xây dựng
nhằm hỗ trợ các em có một cuộc sống b́nh
thường như bao trẻ
em khác. Tuy nhiên trong tiến tŕnh thực
hiện, các trung tâm này gặp không ít khó khăn khách quan và chủ quan
trong vấn đề giúp các em hội nhập với cộng
đồng. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi quyết
định thực hiện đề tài này với mong muốn
thay mặt các em nói lên những tâm tư nguyện vọng và trăn trở của các em trong vấn đề hội
nhập với thế giới bên ngoài.
T́m hiểu những mong
muốn của các em bị nhiễm HIV/AIDS tại trung tâm
Mai Ḥa trong vấn đề hội nhập với cộng đồng
T́m hiểu
những nhu cầu đă được trung tâm
Mai Ḥa đáp
ứng cho trẻ nhiễm HIV/AIDS về vấn
đề hội nhập.
T́m hiểu những rào cản gây trở ngại trong vấn đề hội nhập của các em bị nhiễm HIV/AIDS tại trung tâm Mai Ḥa từ phía gia đ́nh, nhà trường, cộng đồng và bản thân các em.
Nghiên
cứu thăm ḍ
- Nhóm đối tượng đích: Toàn bộ trẻ em bị nhiễm HIV tại trung tâm Mai Ḥa, xă An Nhơn Tây, huyện Củ Chi.
- Nhóm đối tượng liên quan bao gồm: người quản lư trung tâm, nhân viên chăm sóc trẻ và đại diện chinh quyền địa phương.
-
Tổ
chức 03 cuộc thảo luận nhóm, cụ thể 02 nhóm
trẻ bị nhiễm và 01 nhóm nhân viên chăm sóc trẻ.
-
Tổ
chức 09 cuộc phỏng vấn sâu, cụ thể 06 trẻ nhiễm, 02 người
chăm sóc trẻ (người quản lư và nhân viên trực
tiếp chăm sóc) và 01 đại
diện chính quyền.
Phương pháp thu thập
- Phỏng vấn bán cấu trúc (thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu)
- Phương pháp quan sát có sự tham gia
- Ngoài ra để tăng tính tham gia ở trẻ em, nghiên cứu đă sử dụng thêm một số phương pháp khác như: phương pháp trực quan, sắm vai và phương pháp viết
Công
cụ thu thập số liệu
- Bảng hướng dẫn phỏng vấn phù hợp với từng đối tượng
- Sổ nhật kư cá nhân ghi chép lại những quan sát được trong quá tŕnh nghiên cứu.
- Đoạn phim ghi h́nh vở kịch các em đă đóng
Kiểm soát sai lệch số liệu
- Bảng hướng dẫn phỏng vấn sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với tiếng địa phương và từng đối tượng nghiên cứu; và được tiến hành thử nghiệm trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức.
- Tất cả cuộc phỏng vấn đều tiến hành song song ghi chép và ghi âm.
- Tập huấn cho điều tra viên trước khi tiến hành thu thập thông tin và tập hợp trao đổi thông tin sau mỗi cuộc phỏng vấn.
- Kiểm tra chéo thông tin giữa các đối tượng
- Các dữ liệu được tổng hợp dưới dạng văn bản từ sổ nhật kư quan sát; bản ghi chú, máy ghi âm từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu.
- Sau đó được mă hóa theo các mục tiêu nghiên cứu bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Cuối cùng được phân tích sâu và tŕnh bày báo cáo kết quả bằng phần mềm Microsoft Word.
- Chỉ tiến hành thu thập thông tin khi được sự đồng ư của đối tượng nghiên cứu
- Đảm bảo quyền lợi của người cung cấp thông tin bao gồm thông báo về mục đích và việc sử dụng kết quả nghiên cứu; đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân
- Đảm bảo trẻ không bị tổn thương bởi các phương pháp nghiên cứu hoặc bị thiệt hại bởi kết quả nghiên cứu
|
PHƯƠNG
PHÁP |
ĐỐI
TƯỢNG |
SỐ
LƯỢNG |
ĐƠN
VỊ |
|
Thảo luận nhóm |
Trẻ lớp 1, 2, 3 |
03 |
Nhóm |
|
Phỏng vấn sâu |
Trẻ |
04 |
Cá nhân |
|
D́ phụ trách trẻ |
01 |
Cá nhân |
|
|
Giáo viên |
01 |
Cá nhân |
|
|
Nhân viên chăm sóc trẻ |
01 |
Cá nhân |
|
|
Viết |
Trẻ lớp 1, 2, 3 |
09 |
Bài |
|
Trực quan |
Trẻ lớp 1, 2, 3 |
08 |
Bức |
|
Vai sắm |
Trẻ lớp 2, 3 |
01 |
Vở kịch |
Sự mất mát mẹ cha, sự ruồng bỏ của gia đ́nh dường như đă đẩy các em vào t́nh trạng thiếu thốn t́nh thương và sự hụt hẫng về mặt tinh thần. Những ước mơ thật giản dị một mái ấm gia đ́nh cùng với cha mẹ và anh chị em thương yêu nhau được thể hiện khá rơ nét trong bài viết của các em:
“Con muốn có cha mẹ có sự yêu
thương, con muốn có anh chị
em luôn yêu thương nhau, con muốn mọi
người yêu thương con” – Bài viết của bé gái 12 tuổi
Như bao đứa trẻ khác, các em cũng có
nhu cầu
được cắp sách đền trường,
được học tập, được vui chơi với bạn bè cùng trang lứa
“ Con mong muốn
được yêu thương, chăm sóc, đến trường, được học
hành, được mọi người quí mến” – Bài viết của
bé gái 8 tuổi
Nhận thức được t́nh trạng bệnh
tật của ḿnh, đa
số các em ở đây
đều mong muốn khỏe mạnh; tuy nhiên các em
có mối quan tâm đặc biệt trong vấn đề
thuốc điều
trị bởi lẽ các em ư thức được thuốc
là một trong những yếu tố quan trọng đề
duy tŕ sự sống hiện tại “Con mong muốn các bạn
được khỏe mạnh và cho có thuốc” – Bài viết của bé gái 12 tuổi
Mất mát, bệnh tật
không phải là tất cả; các em c̣n chịu sự kỳ
thị, phân biệt đối xử của cộng đồng
“Con
mong muốn mai mốt lớn lên khi đi ra ngoài đường không ai chê con hết v́ con bị
bệnh này” –
Bài viết của bé gái 14 tuổi
“Con
mong muốn các bạn ở ngoài trường không gọi
con là SIDA. Con mong muốn các bạn hiểu con, con đâu có lỗi ǵ đâu” – Bài viết của bé gái 11 tuổi
Về mặt dinh dưỡng
Mỗi ngày các em ăn 3 bữa chính và 2 bữa xế,
vào buổi tối các em được uống thêm sữa.
Riêng đối với
những em có t́nh trạng sức khỏe không tốt sẽ
được bổ sung thêm một cử sữa vào giữa
đêm.
Không chỉ đảm bảo về mặt số lượng,
khẩu phần ăn của các em cũng phải được đảm
bảo về mặt dinh dưỡng
“ Không phải
kiêng cử ǵ hết nói chung là phải có đủ chất
đạm, nói chung là nó phải có rau, có thịt có cá...có
trái cây...nói chung là phải có đầy đủ những
chất đó trong khẩu phần
th́ dinh dưỡng nó mới đủ” – Nhân viên chăm sóc trẻ.
Về
mặt y tế
Việc uống thuốc hàng ngày của các bé đều được giám sát chặt chẽ bởi những người trực tiếp chăm sóc trẻ
“ Ngày
nào cũng vậy luôn, d́ kêu
mấy người lên trước rồi mới uống,
rồi d́ coi li ai chưa uống thuốc...ví
dụ như cái hộp d́ bỏ
thuốc vô d́ để trước li là có cái tên người
đó rồi d́ kêu người kia kêu người
đó lên uống thuốc” – TLN lớp 2
Tùy theo sức khỏe của mỗi bé mà phác
đồ điều trị,
liều lượng thuốc cũng như số lần uống
thuốc trong ngày sẽ khác nhau
“Mỗi cháu có một phác đồ, tức
là cái thuốc này tùy theo bác sĩ chỉ định,
dựa vào số CD4 rồi dựa vào cái tổng thể của
nó, cái tổng trạng của nó đó th́ ḿnh phải cho nó uống những thuốc nào,
và trước khi đó người ta phải làm những
xét nghiệm” –
Người quản lư
Mỗi bé
có một hồ sơ sức khỏe riêng được ghi chú cẩn thận
về tổng trạng và diễn biến bệnh theo từng tháng. Hàng tháng các bé được
khám sức khỏe tổng quát do một bác sĩ nhi phụ
trách; riêng các bé được điều trị tâm lư th́ mỗi tháng 2 lần
“ Một tháng có bác sĩ đến khám một lần và…đó là bác sĩ đến tại chỗ và
khi mà khám như vầy bác sĩ coi tổng trạng và một tháng như vầy nhưng khi
cần th́ có các bác
sĩ khác ớ, mỗi lần mà nó
phát sinh ra cái bệnh ǵ đấy th́ đều có bác sĩ chăm sóc.
Tâm lư th́ có một
bác sĩ một tháng th́ bác đến
hai lần à” –
PVS người quản lư
Đối
với những trường hợp bệnh nặng, trung
tâm không đủ khả năng chăm sóc y tế th́ các bé được
chuyển ngay đến các cơ sở y tế
“Những bé nào mà ḿnh thấy ở đây nếu ḿnh không có khả năng về chăm sóc y tế đó th́ ḿnh vẫn chuyển lên Nhi đồng, Nhiệt Đới nơi mà tiếp nhận những đứa bé mà bị nhiễm” – PVS người quản lư
Về
vệ sinh cá nhân
Vấn đề vệ sinh cá nhân của các
em do các cô chăm sóc trẻ
trực tiếp đảm nhận từ việc hướng
dẫn các em tắm rửa, giặt giũ những đồ dùng cá nhân cho đến việc
theo dơi các em giữ ǵn vệ sinh nơi sinh hoạt chung và của cá nhân.
“Tắm rửa
th́ mỗi ngày phải tắm. Tối th́ phải thay đồ
ngủ, đồ ngủ th́ một tuần giặt 3 lần,
đồ mặc b́nh thường th́ mỗi ngày là mỗi
thay c̣n ra giường th́ cũng mỗi tuần giặt một lần, c̣n
giường th́ mỗi tuần mấy bé cũng làm vệ sinh một lần,
trong khi làm vệ sinh th́ các cô theo dơi, theo dơi coi các bé làm vệ
sinh” – Nhân viên chăm sóc trẻ
Về vệ sinh răng miệng, các em luôn chải răng sau các bữa ăn, đều
đặn một ngày 3 lần. Bên cạnh đó các bé c̣n được đi khám nha khoa nhiều
lần trong năm với mục đích pḥng ngừa và điều trị các
vấn đề răng miệng nếu có.
Đặc biệt, các bé có ư thức rất cao trong việc giữ ǵn vệ sinh khi trầy xước
“Dạ
phải lấy băng keo dán. Tại v́ nếu
mà để đó là là lây cho mấy người
khác” – Bé
trai 8 tuổi lớp 1
Về
mặt vui chơi giải trí
Các em có thể chơi đùa ngay trong khuôn viên Mai Ḥa hoặc được dẫn đi chơi xa vào những dịp lễ hè
“Vũng Tàu, đi tắm biển.
Con thích đi chơi. Đi chơi đă, đi chơi có mấy chị
đi nữa, anh của con nữa” – TLN các bé lớp 1
Về
mặt học tập
Đối với các môn học
chính khóa, các em được học theo
chương
tŕnh chung của bộ giáo dục
“Tất
cả các môn đều được học giống y
như thế theo cùng một
chương tŕnh, cùng một
phương pháp, theo
cùng một loại sách giáo khoa, nói
chung là tất cả đều giống y hệt như là bên ngoài” – PVS người quản lư
Bên cạnh
đó, các bé c̣n được hướng dẫn
những môn học thiên về năng khiếu như là: vẽ, đàn, múa hát và vi tính; riêng
những em nữ c̣n được
dạy những môn nữ công gia chánh như học móc và làm bếp.
“Học đàn, học vi
tính, học múa, học hát nè, học nấu bếp, học
móc” – TLN lớp 2, 3.
Ngoài việc
cung cấp các dụng cụ học tập cho các em cũng như phương tiện dạy học cho thầy cô giáo, trung
tâm c̣n tổ chức những buổi học ngoại khóa
để giúp các em tiếp thu các bài học
một cách tốt nhất
“Ở đây có những giờ học ngoại khóa là do từ cái yêu cầu của tại trung tâm có nghĩa là những yêu cầu đó là để giúp các em nó đến gần cái đời sống b́nh thường như các em bên ngoài hơn, giúp các em nó nhận biết hay cảm nhận được những sự vật xung quanh của bên ngoài xă hội đặng để nó nắm bắt được nhiều hơn” – Giáo viên
Từ phía gia đ́nh
Khi biết được các em bị nhiễm
HIV/AIDS gia đ́nh các em thường
giấu kín chuyện này bằng cách nhốt các em trong nhà,
không cho phép tiếp xúc với ai hoặc chối bỏ ruồng
rầy các em
“ Dạ, tại v́ lúc ngoại
phát hiện ra con bị bệnh này, ngoại không muốn
cho ai biết hết nên nhốt con trong nhà” –
Bé gái 12 tuổi lớp 3
“Trước khi vô Mai Ḥa , mẹ bỏ con ở cổng chùa xong rồi
cổng chùa đi ra xong rồi nuôi con, xong rồi người ta biết SIDA
xong rồi đi tới đây” -Bé
gái 9 tuổi lớp 2
Khi
được hỏi số lần viếng thăm của gia đ́nh sau khi các em được
gửi đến Mai Ḥa, có em được gia đ́nh lui đến
viếng thăm thường
xuyên nhưng cũng có em gia đ́nh hầu như không đến thăm nữa.
“Thường xuyên đến
thăm ở
đây chỉ
có bé D thôi, bé D thường được hay ghé thăm thành ra
bé hạnh phúc
nhất” – Nhân viên chăm sóc trẻ
“Chị T.V đó, chị T.V không bao giờ
lên thăm đâu. Mấy năm nay đâu có ai lên
thăm chị Thúy Vi đâu” – TLN lớp 2,3
Đối với các bé, việc
được rước về nhà chơi đó không chỉ là niềm vui mà có ư
nghĩa rất
lớn với các em; và cũng chính điều này đă khiến các em nhiều lần bị hụt
hẫng thậm chí có em bị chấn động tâm lư sau
khi người thân của các em thất hứa
“Khoảng 3-4 tháng sau ǵ đó bà ngoại gọi
điện lên th́ nói là Y không được về
với mẹ nữa rồi từ
đó Y bị hụt hẫng, tự
ti thành ra không cần đến ai nữa, ai nói ǵ cũng không thèm nghe, lại thích nghịch ngợm
phá phách” – Nhân
viên chăm sóc
trẻ
Cho dù những ǵ các em đă nhận được từ
gia đ́nh nhưng trong suy nghĩ các em gia đ́nh luôn có một vị trí nhất định không thể
thay thế
“Ngoại ghét con nhưng con vẫn
thương ngoại” – PVS bé gái 14 tuổi
“Chúng con đều có một ước mơ chung là đều có cha mẹ để không bị thiệt tḥi và xấu hổ” – Trích bài viết của bé gái 13 tuổi
Từ
phía nhà trường
Mọi hoạt động của các em: ăn uống, vui chơi, nghỉ ngơi và học hành đều
diễn ra trong khuôn viên Mai Ḥa. Khi được hỏi nhu cầu
hiện tại, các em lớn có mong muốn được
đến trường học, được vui chơi cùng
với các bạn
ngoài trung tâm.
“Được đến
trường, có các bạn chơi” – TLN lớp
2,3
Thế
nhưng những
ǵ các em nhận được là sự hất hủi, mỉa
mai của bạn bè đồng trang lứa:
“Con đến th́ mấy
người đó chạy đi chỗ khác. Lúc mà có bé kia
ḱa lượm được ống chích đó, xong rồi đi báo thầy,
thầy kêu là không được đụng biết bệnh
ǵ không xong rồi mấy người đó kêu HIV xong rồi cười tụi
con” – PVS bé gái 8
tuổi
“Các bạn ơi, các
bạn ấy cha mẹ
không biết dạy dỗ nên các bạn ấy chơi ma túy đấy. Thôi ḿnh đừng có chơi với các bạn ấy” – Đoạn trích trong phim ghi h́nh
Và đây là nỗi niềm của các em
“Con mong muốn các bạn ngoài trường không gọi con là SIDA. Con mong muốn các bạn hiểu con, con đâu có lỗi ǵ đâu” – Trích bài viết của bé gái 11 tuổi
Từ
phía cộng đồng
Các em tại
đây nhận
được sư ủng
hộ vật chất và tinh thần từ những người
khách phương xa. Khi được hỏi
những ai quanh đây thường xuyên đến
thăm, các em trả lời “Không có ai hết
trơn” – TLN lớp 3
Về phía chính quyền địa phương cho biết trung tâm hoạt động khá độc lập, ngoài hỗ trợ về mặt hành chính giấy tờ có tổ chức viếng thăm các em vào ngày Quốc tế thiếu nhi 01/06 hàng năm
Từ
phía bản thân
Bản thân các em cũng có
những mặc cảm,
tự ti v́ không có cha mẹ, v́ bệnh tật của ḿnh
“Chúng con đều có một ước mơ chung là đều có cha mẹ để không bị
thiệt tḥi và
xấu hổ. Có lúc chúng con ngồi nhớ lại mà khóc một
ḿnh” – Trích bài viết
của bé gái 14 tuổi
“Con mong muốn mai mốt lớn lên khi đi ra ngoài đường không ai chê con hết v́ con bị
bệnh này” –
Trích bài viết của bé gái 15 tuổi
Bị cô lập bởi các bạn
ngoài trường, các em thường chỉ túm tụm bên
nhau mỗi khi ra ngoài. Thế nhưng cũng có một số trường hợp các bé tự
cô lập ḿnh với ngay cả các bạn trong cùng một
nhà
“Tự bản thân nó tự cô lập th́ ở đây đó là ờ như cũng có t́nh trạng như là bé V cũng có lúc nó tự cô lập tại v́ nó cảm nhận là nó lớn nhưng mà nó nói các em trong này không nghe tại v́ nó biết là nó không cùng chung một cha mẹ” – Nhân viên chăm sóc trẻ
Như bao đứa trẻ khác, các em tại trung
tâm Mai Ḥa cũng có những
nhu cầu thiết yếu như: cần được chăm sóc, yêu thương, được học
hành, đến trường và vui chơi giải trí. Phần lớn các em ở đây đều chịu sự ruồng bỏ của
người thân, sự xa lánh và chỉ trích của bạn
bè đồng trang lứa. Có lẽ đó là lí do các em mong muốn có thuốc uống,
được hết bệnh và trên tất cả đó là niềm khao khát nhận được sự
cảm thông và đón nhận của người
thân và cộng đồng địa phương.
Trung tâm Mai Ḥa đă tạo những điều kiện tốt về mặt dinh dưỡng, y tế, vệ sinh cá nhân, học tập và vui chơi với mong muốn duy tŕ sự sống cho các em và từng bước đưa các em hội nhập với cộng đồng bên ngoài. Tuy nhiên trong tiến tŕnh thực hiện trung tâm gặp một số khó khăn như sau
- Mô h́nh chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS bao gồm cả người lớn và trẻ em, đây là nét khá đặc biệt, thuận lợi cho sự chăm sóc các em về mặt tinh thần; tuy nhiên việc tách biệt trại người lớn và trẻ em đă gây nhiều hạn chế trong mối liên lạc giữa các em và bệnh nhân người lớn.
- Qua nghiên cứu cho thấy, các em không hoàn toàn bị cô lập với xă hội bên ngoài thế nhưng các em vẫn chưa nhận được đón nhận bởi cộng đồng nơi các em cư ngụ do người dân địa phương chưa thật sự hiểu về căn bệnh, về các em; từ đó chưa có nhận thức đúng đắn và sự cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh cũng như sự khác biệt mà các em đang phải gánh chịu.
Trong quá tŕnh tiến hành nghiên cứu đă xác định nhu cầu và tâm tư nguyện vọng của các em về một mái
ấm gia đ́nh. Trung tâm có
thể phát huy thế mạnh của ḿnh bằng cách xây dựng
những tổ ấm trong đó các thành viên gia đ́nh là những bệnh nhân nhiễm HIV không nơi nương tựa.
Cục pḥng chống HIV/AIDS huyện Củ Chi cần kết hợp với chính quyền địa phương tổ chức các buổi truyền thông nói chuyện với người dân địa phương để nâng cao hiểu biết của người dân về căn bệnh AIDS qua đó có những nhận thức đúng đắn và sự cảm thông sâu sắc với trẻ em bị nhiễm HIV nói chung và các em hiện sống tại trung tâm.
1.
2.
Barnen, R.,
Trẻ em là trọng tâm - Cẩm nang về nghiên cứu có sự
tham gia của trẻ em. Jo Boyden & Judith Ennew ed. 1997,
3.
Gross,
V.A.W.a.M., HIV/AIDS information for children: a guide to issues and resources.
1996,
4.
Huấn,
P.T.T.Q., Chiến lược quốc gia pḥng chống HIV/AIDS
ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nh́n 2020, C.Y.t.D.p.v.p.c. HIV/AIDS, Editor. p. 5-14.
5.
Lansdown, G.,
The Children's Rights: A Second Chance, S. Bowen,
Editor. 2001, International Save the Children
6.
Save-the-Children,
Saving Children's Lives. 2008, Save the Children UK:
London. p. 1-7
7.
UNAIDS, AIDS
epidemic update, UNAIDS/07.27E, Editor. 2007. p. 1-9.
8.
UNFPA, Thế
nào là kỳ thị và phân biệt đối xử với
người nhiễm HIV/AIDS, Editor. p. 1-3.
9.
UNICEF, A
call to action: Children - The missing face of AIDS. 2005. p. 4-11.
10.
UK, S.t.C.,
Research on "Socio-economic impact of HIV/AIDS epidemic on Children in
Vietnam". 2003: Ha Noi. p. 42-55.
11.
WHO, Good
nutrition key to the solution - assert nations as they strive to fight HIV/AIDS
and malnutrition in South-East Asia. 2007.