Đặt vấn đề: Giáo dục sức khỏe
(GDSK) là một hoạt động trọng tâm của công
tác chăm sóc sức khỏe ban đầu giúp cho cộng
đồng có những kỹ năng cần thiết để
bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Đối với
trẻ đường phố, GDSK là một trong những giải pháp trang bị những
thông tin y tế chính xác và cần thiết giúp trẻ nâng cao
khả năng tự bảo vệ sức khỏe của
trẻ. Một trong những yếu tố
đánh giá sự thành công của công tác GDSK cho trẻ
đường phố chính là sự hài ḷng của trẻ.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hài ḷng của trẻ
đường phố tại các mái ấm TP.Hồ Chí Minh
về công tác truyền thông giáo dục sức khỏe
năm 2009 và các yếu tố ảnh hưởng.
Phương pháp Nghiên cứu: cắt ngang mô tả trên 183 trẻ TP.HCM tháng
4/2009.Đối tượng nghiên cứu được giải
thích, hướng dẫn trả lời theo
bộ câu hỏi tự điền để đánh giá mức
độ hài ḷng
Kết quả: Tỷ lệ trẻ
hài ḷng chung về toàn công tác GDSK chiếm 70,4%.
Có mối liên quan về sự hài ḷng chung
của trẻ theo tŕnh độ học vấn và số buổi
GDSK đă tham gia.
Kết luận: Cần quan tâm công tác GDSK đối với trẻ
đường phố tại các mái ấm. Nội dung và
phương pháp GDSK cần đa dạng phong phú thu hút sự tham gia của trẻ.
Từ khóa: Giáo dục sức khỏe, trẻ đường phố
THE SATISFACTION OF STREET URCHINS
IN ORPHANAGES IN HO
Tran Thi Hai Yen, Truong Phi Hung
*Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Suppl ement of No 1 – 2010: 156 - 161
Introduction: health education, a key activity of primary health care, provides
community essential skills to protect and promote health. To urchins, health
education provides useful information to protect their health themselver.
Urchin’s satisfaction is one of factors to assess the successfulness of health
education campaign.
Objective: to identify the
percentage of urchins, who live in orphanages in
Method: a
cross-sectional study was conducted on 183 urchins in April 2009 in
Result: the percentage
of children who satisfy with health education was 70%. There was a relationship
between the satisfaction with school grade and the number of health education
in which urchins participated.
Conclusions: health education should be provided for urchins in orphanages. The
contents and methods of health education should be plentiful and diversified.

Keywords: health education,
street urchins.
Giáo dục sức khỏe (GDSK) là hoạt
động được xếp hàng đầu trong các nội
dung chăm sóc sức khỏe ban đầu mà tổ chức
Y tế thế giới đă đề ra. Trong những
năm gần đây, với những nỗ lực vượt
bậc ngành y tế cùng với sự tăng nhanh của
dân trí, nhận thức của người dân về sức
khỏe đă có nhiều thay đổi(3, 9).
Phương châm “pḥng bệnh hơn chữa bệnh” đă và đang dần đi sâu vào nhận thức của mọi người. Người dân đă quan tâm đến sức khỏe của ḿnh nhiều hơn, không chỉ dừng lại ở việc khám chữa bệnh nhưng đă nâng lên một bậc chính là pḥng bệnh. Ngày nay, số người t́m đến bệnh viện với mục đích kiểm tra sức khỏe định ḱ hay tầm soát một số bệnh ngày một tăng, các hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về các vấn đề sức khỏe được thực hiện nhiều hơn và cụm từ “giáo dục sức khỏe” đă trở nên quen thuộc hơn với cộng đồng. Đó là một quá tŕnh nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của con người đối với vấn đề sức khỏe nhằm đem lại t́nh trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho mọi người nói chung và trẻ đường phố (TĐP) nói riêng. Đối với TĐP, GDSK thực sự là điều cần thiết, là một trong những biện pháp quan trọng nhất nhằm nâng cao khả năng tự bảo vệ sức khỏe của trẻ(2, 5, 10)
Theo báo cáo thống kê hàng năm của
Bộ Lao động – Thương binh và Xă hội, số
trẻ đường phố tăng lên hàng năm.
Những con số ấy cho thấy số trẻ
đường phố mới xuất hiện hàng năm
nhiều hơn số lượng trẻ từ bỏ cuộc
sống trên hè phố hoặc những đối tượng
không c̣n được coi là trẻ đường phố
nữa khi chúng đă trưởng thành hơn(2,10)
GDSK là biện pháp mà các nhà quản
lư hiện nay đang thực hiện nhằm mục
đích trang bị cho trẻ những thông tin chính xác và cần
thiết nhất. Việc GDSK cho trẻ trong giai đoạn
hiện nay tuy c̣n gặp rất nhiều khó khăn về
nhân lực cũng như tài lực, dẫu vậy, công tác GDSK
cho TĐP vẫn luôn được duy tŕ và phát huy(1, 4)
Đánh giá sự hài ḷng của trẻ cũng là cách nhận ra những thiếu sót của những người làm công tác GDSK cho trẻ nhằm khắc phục những nhược điểm, nâng cao chất lượng công tác truyền thông GDSK.
Nghiên cứu công tác truyền thông GDSK trong
đối tượng trẻ đường phố tại
các mái ấm TP.HCM năm 2009 nhằm xác định tỷ lệ
mức độ hài ḷng của trẻ về công tác truyền
thông giáo dục sức khỏe tại TP.HCM, năm 2009 và
các yếu tố ảnh hưởng(5, 9, 10).
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả, chọn mẫu cụm với đơn vị cụm là mái ấm tại TP.HCM với cỡ mẫu là 183. Tiêu chí đưa vào là tất cả các trẻ đă từng là trẻ đường phố hiện đang sống tại các mái ấm, nhà mở trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh, đă từng tham dự những buổi giáo dục sức khỏe và đồng ư tham gia(8).
Sau khi được giải thích về mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực hiện, đối tượng nghiên cứu trả lời theo bộ câu hỏi tự điền để đánh giá mức độ hài ḷng. Các bộ câu hỏi được sử dụng là bản câu hỏi tổng quát, mức độ hài ḷng được đo bằng thang Likert. Dữ kiện được nhập bằng phầm mềm Epi-data 3.1 và xử lư bằng phần mềm Stata 10.0. Nghiên cứu mong muốn t́m ra một tỷ lệ mức độ hài ḷng chung về công tác truyền thông GDSK đối với trẻ đường phố tại các mái ấm TP.HCM. Đó chính là tiêu chí đạo đức của đề tài.
Bảng 1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=196)
|
Đặc điểm |
Tần số |
Tỷ lệ % |
|
Giới Nữ |
91 105 |
46,4 53,6 |
|
Tuổi <10 tuổi 10-13 tuổi 14-16 tuổi >16 tuổi |
19 57 87 33 |
9,7 29,1 44,4 16,8 |
|
Tŕnh độ học vấn Mù chữ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 |
0 87 88 21 |
0,0 44,4 44,9 10,7 |
|
Thời gian sống ở nhà mở <2 năm 2-4 năm >4 năm |
44 106 46 |
22,4 54,1 23,5 |
|
Số buổi truyền thông đă tham gia ≤5 buổi 6 – 10 buổi 11 – 15 buổi >15 buổi |
132 29 17 18 |
67,3 14,8 8,7 9,2 |
Hơn 50% trẻ được khảo sát là
nữ, gần 50% trẻ có lứa tuổi 14-16, gần 90%
trẻ có tŕnh độ cấp 1 và 2. Hơn 50% trẻ có thời
gian sống ở nhà mở từ 2-4 năm, gần 70% trẻ
có số buổi truyền thông đă tham gia ≤5 buổi.
Bảng 2. Tỷ lệ hài ḷng về công tác GDSK (n=196)
|
Đặc điểm |
Các mức độ
hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Những nội dung GDSK
đáp ứng được mong đợi của trẻ |
47 (24,0) |
92 (47,0) |
43 (21,9) |
13 (6,6) |
1 (0,5) |
|
Lợi ích từ các nội
dung đă được học |
96 (49,0) |
78 (39,8) |
15 (7,7) |
3 (1,5) |
4 (2,0) |
|
Lời giải đáp
của những thắc mắc |
80 (40,8) |
78 (39,8) |
30 (15,3) |
7 (3,6) |
1 (0,5) |
|
Tính dễ tiếp thu
của ND bài học |
0 (0,0) |
56 (28,6) |
101 (51,5) |
33 (16,8) |
6 (3,1) |
Bảng 3 Phân bố sự hài ḷng theo từng nội dung bài học (n = 196)
|
Nội dung |
Các mức độ
hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Các bệnh thông thường |
56 (28,6) |
71 (36,2) |
35 (17,8) |
25 (12,8) |
9 (4,6) |
|
Bệnh lây lan qua
đường t́nh dục |
66 (33,7) |
65 (33,2) |
16 (8,1) |
31 (15,8) |
18 (9,2) |
|
Kĩ năng sống |
113 (57,7) |
57 (29,1) |
22 (11,2) |
2 (1,0) |
2 (1,0) |
- Kĩ năng sống là những bài học trẻ hài ḷng nhất (98,0%) với tỷ lệ cao nhất là mức độ I (57,7%).
- Những bệnh lây lan qua đường t́nh dục là những nội dung mà tỷ lệ trẻ hài ḷng thấp nhất (75,0%).
Bảng 4. Hài ḷng chung về phương pháp GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ
hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Những phương
pháp đă tham gia |
57 (29,1) |
105 (53,6) |
23 (11,7) |
8 (4,1) |
3 (1,5) |
Tỷ lệ trẻ hài ḷng với những phương pháp GDSK đă tham gia là 94,4% trong đó cao nhất là mức độ II 53,6%.
Bảng 5. Phân bố sự hài ḷng theo từng phương pháp GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ
hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Sắm vai |
61 (31,1) |
75 (38,3) |
43 (21,9) |
14 (7,2) |
3 (1,5) |
|
Kịch |
71 (36,2) |
68 (34,7) |
47 (24,0) |
10 (5,1) |
0 (0,0) |
|
Tṛ chơi đố
vui |
86 (43,9) |
68 (34,7) |
39 (19,9) |
3 (1,5) |
0 (0,0) |
Bảng 6. Phân bố sự hài ḷng về việc
kết hợp ≥2 phương pháp GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Buổi truyền thông
≥ 2 phương pháp |
50 (25,5) |
79 (40,4) |
41 (20,9) |
23 (11,7) |
3 (1,5) |
Bảng 7. Phân bố sự hài ḷng về GDV
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Việc truyền
đạt thông tin của GDV |
72 (36,7) |
79 (40,3) |
34 (17,4) |
9 (4,6) |
2 (1,0) |
|
GDV giải đáp những thắc mắc của trẻ |
71 (36,2) |
84 (42,9) |
36 (18,4) |
4 (2,0) |
1 (0,5) |
|
Thái độ, cách
cư xử của GDV |
83 (42,4) |
84 (48,0) |
12 (6,1) |
5 (2,5) |
2 (1,0) |
|
Việc sử dụng
phương pháp GDSK của GDV |
81 (41,4) |
79 (40,3) |
31 (15,8) |
5 (2,5) |
0 (0,0) |
|
Sự nhiệt t́nh, tận
tâm của GDV |
82 (41,9) |
81 (41,3) |
28 (14,3) |
4 (2,0) |
1 (0,5) |
- 96,5% trẻ hài ḷng về thái độ, cách cư xử của GDV trong đó cao nhất mức độ II (48,0%).
- 94,4% trẻ hài ḷng của trẻ về việc truyền đạt thông tin của GDV trong quá tŕnh giảng dạy, trong đó, mức độ II đạt tỷ lệ cao nhất (40,3%).
Bảng 8. Phân bố sự hài ḷng về thời
lượng buổi GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Hài ḷng về thời
lượng GDSK |
37 (18,9) |
111 (56,6) |
40 (20,4) |
7 (3,6) |
1 (0,5) |
Bảng 9 Phân bố sự hài ḷng về thời điểm GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Thời điểm
GDSK |
44 (22,5) |
100 (51,0) |
41 (2,9) |
9 (4,6) |
2 (1,0) |
Thời điểm GDSK vào buổi sáng những ngày cuối tuần đạt tỷ lệ hài ḷng cao (94,4%). Trong đó, mức độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (51,0%).
Bảng 10. Phân bố sự hài ḷng về
địa điểm buổi GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Hài ḷng về không gian xung quanh địa
điểm GDSK |
53 (27,0) |
86 (43,9) |
48 (24,5) |
8 (4,1) |
1 (0,5) |
|
Hài ḷng về địa điểm GDSK
|
38 (19,4) |
109 (55,6) |
40 (20,4) |
4 (2,0) |
5 (2,6) |
Tỷ lệ trẻ hài ḷng về địa điểm GDSK khá cao 95,4% trong đó mức độ II đạt tỷ lệ cao nhất (55,6%), 95,4% trẻ hài ḷng về không gian xung quanh địa điểm GDSK (xung quanh mái ấm trong đó đạt tỷ lệ cao nhất là mức độ II (43,9%).
Bảng 1. Phân bố sự hài ḷng về công cụ GDSK
|
Đặc điểm |
Các mức độ hài ḷng |
||||
|
I |
II |
III |
IV |
V |
|
|
Những dụng cụ
đă được sử dụng (tranh minh họa) |
47 (24,6) |
86 (45,0) |
49 (25,7) |
7 (3,7) |
2 (1,0) |
|
Công cụ giúp dễ tiếp
thu bài học |
41 (21,5) |
107 (56,0) |
32 (16,8) |
10 (5,2) |
1 (0,5) |
|
Tính hợp lư của các
công cụ đă sử dụng |
49 (25,7) |
89 (46,6) |
38 (20,4) |
12 (6,3) |
2 (1,0) |
|
Sự đa dạng của
các công cụ |
65 (34,1) |
81 (42,4) |
31 (16,2) |
12 (6,3) |
2 (1,0) |
- 95,3% trẻ hài ḷng về những công cụ GDSK đă sử dụng.
- Tính hợp lư của các công cụ và sự đa dạng của công cụ đă sử dụng (92,7%).
- 94,3% trẻ thấy rằng những công cụ GDSK giúp dễ tiếp thu bài học hơn.
Bảng 12. Mối liên quan giữa
hài ḷng chung với các đặc tính của
mẫu
|
Đặc điểm |
Tỷ lệ hài ḷng chung |
p-value |
PR KTC 95% |
|
|
Hài ḷng |
Không hài ḷng |
|||
|
Tŕnh độ học vấn |
||||
|
Mù chữ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 |
0 53 (60,9%) 70 (79,6%) 15 (71,4%) |
0 34 (39,1%) 18 (20,4%) 6 (28,6%) |
0,009 0,328 |
1 1,31 (1,1 – 1,6) 1,17 (0,8 – 1,6) |
|
Số buổi GDSK đă
tham gia |
||||
|
≤5 buổi 6 -10 buổi 11-15 buổi >15 buổi |
104(78,8%) 18 (62,1%) 10 (58,8%) 6 (33,3%) |
28 (21,2%) 11 (37,9%) 7 (41,2%) 12 (66,7%) |
0,117 0,160 0,011 |
1 0,79 (0,6 – 1,1) 0,75 (0,5 – 1,1) 0,42 (0,2 – 0,8) |
- Trẻ có tŕnh độ học vấn cấp 2 hài ḷng về công tác GDSK gấp 1,31 lần trẻ có tŕnh độ học vấn cấp 1 (p=0,009)
- Trẻ tham gia >15 buổi hài ḷng về công tác GDSK bằng 0,42 lần trẻ tham gia ≤5 buổi (p=0,011)
Đa số trẻ được khảo sát là nữ, tŕnh độ cấp 1 và 2, đây là đặc tính chung của các mái ấm chỉ nuôi trẻ nữ nhiều hơn những mái ấm nuôi trẻ nam, trong khi đó với những mái ấm có cả hai giới th́ tỷ lệ nữ cũng cao hơn nam. Thêm vào đó, thông thường các trẻ nữ chấp nhận cuộc sống trong các mái ấm tốt hơn các trẻ nam do đó việc các trẻ nữ chấp nhận đến sống tại các mái ấm dễ dàng hơn và trẻ nữ thường ở lại mái ấm lâu hơn. 44,4% trẻ được khảo sát có độ tuổi 14-16, Đây là lứa tuổi mà điều kiện kiếm sống trên đường phố tương đối dễ dàng v́ trẻ có khả năng thích nghi tốt và do đó trong công tác tiếp cận các trẻ của một số tổ chức, nhóm, mái ấm th́ đa phần cũng tiếp xúc với nhóm tuổi này.
54,1% trẻ có sống tại các mái ấm từ 2 – 4 năm, điều này phần nào nói lên được sự hài ḷng của trẻ khi sống tại các mái ấm. Bên cạnh đó, khi sống tại các nhà mở, trẻ được học văn hóa hoặc học nghề để có thể có một công việc nào đó trong tương lai, điều này là mong muốn của hầu hết các trẻ khi c̣n sống trên đường phố(9). Trẻ tham gia các buổi GDSK ở mức ≤5 buổi chiếm tỷ lệ cao nhất (67,3%). Tập trung các chủ đề: bệnh lây lan qua đường t́nh dục, cách xử trí các bệnh thông thường…
Tỷ lệ hài ḷng chung của các trẻ về các buổi GDSK trẻ đă tham gia trong nghiên cứu khá cao (70,4%), trong đó thời lượng buổi GDSK (95,9%), thời điểm (94,4%) và phương pháp GDSK (94,4%). Tỷ lệ hài ḷng thấp nhất là giáo dục viên (85,7%). Đối với trẻ những buổi GDSK không chỉ là những buổi mà trẻ học thêm được những kiến thức mới nhưng là dịp để trẻ tham gia những hoạt động sinh hoạt, vui chơi cùng các bạn. Ngoài ra, đối với những buổi GDSK có sự tham gia của nhiều mái ấm, th́ đây c̣n là cơ hội cho trẻ gặp lại các bạn của ḿnh đang sống tại các mái ấm khác hoặc giao lưu với các bạn mới. Do đó, khái niệm về hài ḷng của các trẻ tương đối đơn giản, có một số trẻ chỉ cần thấy vui đă là hài ḷng.
Nhóm trẻ tham gia >15 buổi có tỷ lệ hài ḷng là 0,42 lần so với nhóm trẻ tham gia ≤5 buổi.
Trẻ có tŕnh độ học vấn cấp II có tỷ lệ hài ḷng gấp 1,31 lần so với trẻ cấp I (p= 0,009).
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về hài ḷng với các nhóm tuổi của trẻ, và xu hướng hài ḷng gia tăng theo độ tuổi. Tuy nhiên, mối liên quan này chưa có ư nghĩa thống kê. Tuy vậy, việc chọn lựa nội dung bài theo độ tuổi cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự hài ḷng của trẻ. Thường các buổi GDSK được thực hiện với sự tham gia của trẻ trong mái ấm với rất nhiều độ tuổi khác nhau nên có thể các nội dung ấy chưa thích hợp với các trẻ ở nhóm tuổi <10.
Nghiên cứu chưa thấy sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa hài ḷng chung của trẻ với giới tính.
26,7% trẻ đưa ra kiến
nghị cho những buổi GDSK tiếp theo như tăng
cường tṛ chơi để thu hút sự tham gia của
trẻ và hạn chế sự căng thẳng.
Qua nghiên cứu
cắt ngang trên 196 trẻ đường phố tại
các mái ấm TP.HCM, tỷ lệ
trẻ hài ḷng về lợi ích từ những nội
dung được học trong các buổi GDSK là 96,5%; 70,4%
trẻ hài ḷng chung về toàn công tác GDSK; 86,2% trẻ hài ḷng
về nội dung GDSK; trên 90% trẻ hài ḷng về
phương pháp, thời lượng và địa điểm
tổ chức truyền thông GDSK; 85,7% trẻ hài ḷng
về GDV
Có mối liên quan về sự
hài ḷng chung của trẻ theo tŕnh độ học vấn
(p=0,009) và số buổi GDSK trẻ đă tham gia (p = 0,011).
Kết hợp
nhiều phương pháp GDSK trong một buổi để
thu hút sự tham gia của trẻ bằng nhiều hoạt
động xem kẽ nhau, những tṛ chơi sáng tạo với
thời lượng từ 15 – 30 phút theo từng nhóm tuổi
vào các ngày cuối tuần và vào buổi sáng.
1.
Barreda. P, Huang.
C, Mendoza. V, Guzman. L, and Gilbert P. A comparative analysis of
abandoned street children and formerly abandoned street children in
4.
Jan P Grundling Johan W de Jager Leon de W Fourie. Managing the Phenomenon of Street Children in an
African Developing Country -
6.
Kenichi Ohno, Duong Kim Hong. Street Children in
8.
Nguyễn
Đỗ Nguyên. Phương pháp nghiên cứu khoa học,
2006.
10. Vơ Trung Tâm.
Các giải pháp về t́nh trạng trẻ em lang thang
đường phố tại TP. HCM 7/2004.