MNG LƯỚI T̀NH NGUYN VIÊN SƠ CP CU TAI NN
GIAO THÔNG
ĐƯỜNG B NI THÀNH THÀNH PH H CHÍ MINH

Hunh Ngc Vân Anh*, Đỗ Văn Dũng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm tăng gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu. cấp cứu ban đầu rất cần thiết để đảm bảo khả năng sống cho nạn nhân. Năm 2004, dự án “An toàn giao thông đường bộ” được triển khai và nhiều chốt sơ cấp cứu đă được thiết lập, đặc biệt là trên những con đường được xem là “cung đường đen” của thành phố.

      Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả hoạt động của mạng lưới t́nh nguyện viên sơ cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ (TNV SCC TNGTĐB) tại các quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4/2008.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến hành trên 96 t́nh nguyện viên đang tham gia hoạt động trong mạng lưới sơ cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại nội thành thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 đến tháng 7/2008. Các chốt sơ cấp cứu được quan sát về t́nh h́nh hoạt động và các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp về quá tŕnh hoạt động tại các chốt và các kiến thức về sơ cấp cứu cơ bản.

Kết quả: Chỉ có 38% các chốt c̣n đang hoạt động, công tác tổ chức mạng lưới chưa được chặt chẽ, kiến thức có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết thương (84%), kế đến là cầm máu tạm thời (50%) và kiến thức có tỷ lệ đúng thấp nhất là cấp cứu hô hấp tuần hoàn (32%) và vận chuyển nạn nhân (32%). Những yếu tố có liên quan đến kiến thức là nhóm tuổi, tŕnh độ học vấn và nghề nghiệp của t́nh nguyện viên.

Kết luận: Cần có khảo sát toàn diện để đánh giá đầy đủ về năng lực hoạt động, tính chất phân bố hợp lư của mạng lưới, trang bị các phương tiện về sơ cấp cứu, ban hành tiêu chuẩn tuyển chọn t́nh nguyện viên, thường xuyên tổ chức tập huấn nhằm nâng cao kiến thức cho t́nh nguyện viên và thiết lập phương pháp đánh giá về hoạt động của mạng lưới.

Từ khóa: an toàn giao thông, t́nh nguyn viên, sơ cp cu.

ABSTRACT

THE NETWORK OF ROAD INJURY FIRST-AID VOLUNTEERS IN INNER HO CHI MINH CITY

Huynh Ngoc Van Anh, Do Van Dung
* Y Hoc TP.
Ho Chi Minh * Vol. 14 - Suppl ement of No 1-2010: 177-184

Introduction: Traffic injury is one of the most leading causes to burden of diseases in the world. First aid is essential to save lives. In 2004, “road safety” project was lauched and many first aid points were established, especially in roads where accidents frequently occur.

Objective: The study aims to describe the activities of the network of first aid points injury and knowledge of  first aid volunteers in inner Ho Chi Minh city in April 2008.

Method: A cross-sectional study was conducted on 96 volunteers who participated in the network of road accident first aid in inner city from 04/2008 to 07/2008. First aid points were observed to exam their situations and volunteers were interviewed face-to-face about their activities and knowledge on first aid.


Results: It was about 38% of first aid points operated and the network was indistinctly organized. The percentage of volunteers with knowledge on dressing the wound was highest (84%), following by knowledge on stop bleeding (50%), knowledge on cardiopulmonary resuscitation (32%) and patient transfer (32%). Knowledge was associated were age, school grade and occupation of volunteers.

Conclusions: Survey should be conducted to fully evaluate capacity and distribution of the network, first aid equipment should be offered, criteria for volunteer selection should be promulgated, training courses should be frequently held to improve knowledge of volunteers, and evaluation should be launched to assess activities of the network.

Keywords: road safety, volunteers, first aid.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Mỗi năm trên thế giới tai nạn giao thông (TNGT) cướp đi mạng sống của 1,2 triệu người và làm bị thương hàng chục triệu người. Tổn thất kinh tế hàng năm do TNGT đường bộ gây ra ở Việt Nam là 885 triệu USD, tương đương với 885 triệu tấn gạo (1). TNGT c̣n gây nên những tác động cả trước mắt cũng như lâu dài đối với mọi người. Nó để lại những di chứng về tâm lư hết sức nặng nề cho nạn nhân và thân nhân của họ, cũng như làm tăng gánh nặng cho gia đ́nh và xă hội do chi phí điều trị, ngày công lao động bị mất, tàn phế và tử vong. Trước thực trạng này, vào năm 2004, dưới sự tài trợ của tổ chức Handicap và Hội chữ thập đỏ Pháp, Hội chữ thập đỏ thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Ban an toàn giao thông triển khai dự án “An toàn giao thông đường bộ”(3) Dự án đã thành lập được nhiều chốt cấp cứu (SCC), đặc biệt là trên những con đường được xem là “cung đường đen” của thành phố. Sau một thời gian thành lập và hoạt động, mạng lưới t́nh nguyện viên SCC TNGTĐB tại các quận nội thành thành phố c̣n hoạt động không và kiến thức của t́nh nguyện viên về những kỹ năng SCC cơ bản có đúng hay không là những câu hỏi chưa có lời đáp. Để trả lời cho các câu hỏi trên, một nghiên cứu mô tả rõ ràng mô hình hoạt động của mạng lưới và phân tích các yếu tố có liên quan đến kiến thức về sơ cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ của t́nh nguyện viên là hết sức cần thiết. Kết quả nghiên cứu này sẽ là tiền đề để đưa đến những biện pháp can thiệp kịp thời nhằm nâng cao hoạt động của mạng lưới này và́u có thể sẽ tiến tới việc xây dựng một mô hình mạng lưới t́nh nguyện viên rộng khắp trên cả nước. Mục tiêu của nghiên cứu này là mô tả thực trạng hoạt động của mạng lưới t́nh nguyện viên sơ cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4/2008.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 96 t́nh nguyện viên (TNV) đang tham gia hoạt động trong mạng lưới SCC TNGT đường bộ ở các quận nội thành thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu chí đưa vào là những TNV có tên trong danh sách của Hội chữ thập đỏ thành phố và đồng ư tham gia nghiên cứu. Tiêu chí loại ra là những TNV trả lời dưới 50% bộ câu hỏi hoặc vắng mặt trên 3 lần trong thời gian nghiên cứu được tiến hành. Các chốt SCC được quan sát về t́nh h́nh hoạt động và các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp về quá tŕnh hoạt động tại các chốt và các kiến thức về sơ cấp cứu cơ bản thuộc 5 nội dung, bao gồm băng bó vết thương, cầm máu tạm thời, cấp cứu hô hấp tuần hoàn, cố định xương găy và vận chuyển nạn nhân. Những biến số nên bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, tŕnh độ học vấn, t́nh trạng hôn nhân và nghề nghiệp. TNV có kiến thức đúng khi trả lời đúng trên 60% các câu hỏi về kiến thức sơ cấp cứu ở mỗi nội dung. Dữ kiện được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.02 và xử lư bằng phần mềm Stata 10.0. Phép kiểm χ2 hay kiểm định Fisher được sử dụng khi kiểm định χ2 không phù hợp, để xác định các mối liên quan giữa các đặc điểm dân số xă hội với kiến thức về sơ cấp cứu của TNV.

KT QU

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Qua quá tŕnh kho sát 301 cht SCC đang hot động theo danh sách ti 16 qun ni thành thuc Tp. HCM thu nhn được kết qu như sau:

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=301)

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Tần số

Tỷ lệ (%)

Không t́m được chốt

                Không t́m được địa chỉ

                Không có người đúng tên theo danh sách

 

84

21

 

28

  7

T́m được chốt c̣n hoạt động

                T́m được chốt nhưng TNV đi vắng

                Chốt c̣n đang hoạt động

 

18

96

 

  6

32

T́m được chốt nhưng không c̣n hoạt động

                Chốt không c̣n hoạt động

                Chốt luôn đóng cửa

 

51

31

 

17

10

Có đến 35% chốt SCC không được t́m thấy, chỉ có 38% chốt c̣n đang hoạt động và 27% chốt t́m được nhưng không c̣n hoạt động.

Bảng 2: Lư do các chốt không c̣n hoạt động (n=51)

Lư do chốt không c̣n hoạt động

Tần số

Tỷ lệ (%)

 

                Sức khỏe kém

                Chuyển nhà, công tác

                Đă mất

                Nguyên nhân khác

16

20

  4

11

31

39

  8

22

Nguyên nhân TNV không c̣n hoạt động do chuyển nhà hay chuyển công tác chiếm tỷ lệ cao nhất (39%), kế đến là do sức khỏe (chiếm 31%).

Đặc điểm cơ bản của TNV

Bảng 3: Đặc điểm cơ bản của TNV

Đặc điểm cơ bản của TNV về tŕnh độ học vấn và nghề nghiệp

Tần số

Tỷ lệ (%)

Giới tính: nữ (n=96)

57

59

Dân tộc: Kinh (n=96)

86

90

T́nh trạng hôn nhân: đă kết hôn (n=96)

61

64

Tŕnh độ học vấn (n=96)

                Dưới cấp III

                Cấp III

                Trên cấp III

 

26

43

27

 

27

45

28

Chưa nghỉ hưu (n=67)

          Lao động tự do                         
Làm trong ngành y tế

                Công nhân viên

                Dân quân

 

29

19

17

2

 

43

28

25

3

Nghỉ hưu (n=29)

                Từng làm ngành y tế

                Nghề nghiệp khác               

               Lao động tự do

                Dân quân

 

17

6

5

1

 

59

21

17

3

Có bán thuốc, thay băng tại nhà n=6)

                Nghề nghiệp khác

                NVYT đă về hưu

 

4

2

 

67

33

Không có TNV nào mù chữ, 45% có tŕnh độ học vấn cấp III. Có 70% chưa nghỉ hưu. Ở nhóm chưa nghỉ hưu có 28% đang làm trong ngành y tế. Và ở nhóm đă nghỉ hưu có 59% đă từng làm trong ngành y tế. Ghi nhận tại địa điểm nghiên cứu cho thấy có 6 TNV hoạt động bán thuốc, thay băng tại nhà, trong số đó chỉ có 33% TNV đă từng làm trong ngành y tế trước khi nghỉ hưu.

T́nh h́nh hoạt động của TNV

Thời điểm bắt đầu tham gia hoạt động và tập huấn của TNV

Bảng 4: Thời điểm bắt đầu tham gia hoạt động và tập huấn của TNV (n=96)

Thời điểm bắt đầu tham gia hoạt động và tập huấn của TNV

Tần số

Tỷ lệ (%)

 

Tham gia mạng lưới sau năm 2004

61

64

Tập huấn

                                Tham gia tập huấn

                Được cấp giấy chứng nhận

 

80

64

 

83

67

Tập huấn lại

                                Trước năm 2007

                                Năm 2007

                                Năm 2008

 

19

51

  7

 

20

53

  7

Có 64% TNV tham gia từ năm 2004 đến nay, trong đó 83% TNV đă từng tham gia lớp tập huấn về SCC nhưng chỉ có 67% TNV được cấp giấy chứng nhận đă hoàn thành lớp tập huấn. Có 53% TNV đă được tập huấn lại vào năm 2007 và từ đầu năm 2008 chỉ có 7% tham gia tập huấn lại. Bên cạnh đó có đến 20% đă được tập huấn lại từ trước năm 2007.

Đặc điểm về t́nh h́nh hoạt động từ năm 2007 đến tháng 4/2008

Qua khảo sát cho thấy TNV tham gia vào mạng lưới t́nh nguyện này hoàn toàn trên cơ sở t́nh nguyện và không nhận được bất kỳ nguồn trợ cấp kinh phí hàng tháng nào ngoại trừ quà tượng trưng hay giấy khen khích lệ vào dịp tổng kết cuối năm của Hội.

Bảng 5: Đặc điểm về t́nh h́nh hoạt động từ năm 2007 đến tháng 4/2008 (n=96)

Đặc điểm về t́nh h́nh hoạt động

Tần số

Tỷ lệ (%)

Thời gian họp định kỳ

                Thường xuyên đi họp

                Không thường xuyên đi họp

Không họp

 

59

26

11

 

62

27

11

Số vụ TNGT đă thực hiện SCC trong 4 tháng đầu năm 2008

                                Không có

                                1 – 5 vụ

                                Trên 5 vụ

 

 

45

39

12

 

 

47

41

12

Từ năm 2007 đến nay có 62% TNV thường xuyên họp với ban chỉ đạo Hội chữ thập đỏ phường hay quận và 11% không tham gia họp lần nào. Từ đầu năm 2008 đến tháng 4/2008 có 41% TNV đă SCC được cho từ 1 – 5 người và có đến 47% không sơ cứu được cho bất kỳ người nào.

Kiến thức của TNV về SCC

Bảng 6: Nhận định của TNV và kiến thức qua khảo sát (n=96)

Kiến thức về SCC

Nhận định của TNV (%)

Kiến thức qua khảo sát (%)

Băng bó vết thương

94 (98)

81 (84)

Cầm máu tạm thời

92 (96)

48 (50)

Cố định xương găy

93 (97)

33 (34)

Cấp cứu HH tuần hoàn

79 (82)

31 (32)

Vận chuyển, tải thương

88 (92)

31 (32)

Theo ư kiến chủ quan của TNV, tỷ lệ TNV trả lời là biết về 5 nội dung sơ cấp cứu khá cao, tuy nhiên qua khảo sát th́ TNV có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết thương (84%), kế đến là kiến thức về cầm máu tạm thời (50%), kiến thức có tỷ lệ đúng thấp nhất là cấp cứu hô hấp tuần hoàn (32%) và vận chuyển nạn nhân (32%).

Mối liên quan giữa kiến thức với các đặc tính của mẫu


Bảng 6: Mối liên quan giữa kiến thức về sơ cấp cứu với các đặc tính của mẫu (n = 96)

Đặc điểm

Kiến thức về băng bó vết thương

Kiến thức về cầm máu tạm thời

Kiến thức về cố định xương găy

Kiến thức về cấp cứu hô hấp tuần hoàn

Kiến thức về vận chuyển nạn nhân

p-value

PR

(KTC 95%)

p-value

PR

(KTC 95%)

p-value

PR

(KTC 95%)

p-value

PR

(KTC 95%)

p-value

PR

(KTC 95%)

Nhóm tuổi

0,542

1,09

(0,92 – 1,29)

0,266

0,77

(0,47 – 1,25)

0,165

0,62

(0,31 – 1,27)

0,011*

0,34

(0,13 – 0,89)

0,763

1,10

(0,60 – 2,03)

Giới tính

0,957

1,00

(0,84 – 1,20)

0,299

1,23

(0,83 – 1,84)

0,859

0,95

(0,54 – 1,67)

0,532

1,20

(0,68 – 2,15)

0,532

1,20

(0,68 – 2,15)

Dân tộc

1,000

0,93

(0,74 – 1,17)

0,317

0,68

(0,43 – 1,08)

0,305

0,65

(0,33 – 1,30)

1,000

1,09

(0,40 – 2,93)

1,000

1,09

(0,40 – 2,93)

Học vấn

0,004*

1,39

(1,05 – 1,87)

0,001*

2,60

(1,26 – 5,38)

0,057

2,08

(0,90 – 4,81)

<0,001*

11,14

(1,60– 77,60)

0,095

1,93

(0,83 – 4,49)

Hôn nhân

0,756

1,03

(0,86 – 1,24)

0,832

1,04

(0,67 – 1,59)

0,176

1,53

(0,80 – 2,91)

0,441

0,79

(0,44 – 1,42)

0,752

0,91

(0,50 – 1,64)

Nghề nghiệp

0,035*

1,21

(1,03 – 1,40)

<0,001*

2,14

(1,45 – 3,17)

0,001*

2,56

(1,46 – 4,50)

0,004*

2,31

(1,29 – 4,13)

0,015*

2,02

(1,14 – 3,59)


* Có mối liên quan

Có mối liên quan giữa nhóm tuổi với kiến thức về cấp cứu hô hấp tuần hoàn (p=0,011), theo đó những người đă nghỉ hưu có tỷ lệ kiến thức đúng thấp hơn những người chưa nghỉ hưu. Có mối liên quan giữa tŕnh độ học vấn với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương (p=0,004), kiến thức về cầm máu tạm thời (p=0,001), kiến thức về cấp cứu hô hấp tuần hoàn (p<0,001), theo đó những người học từ cấp III trở lên có tỷ lệ kiến thức đúng caon những người học dưới cấp III. Có mối liên quan giữa nghề nghiệp với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương (p=0,035), kiến thức về cầm máu tạm thời (p<0,001), kiến thức về cố định xương găy (p=0,001), kiến thức về cấp cứu hô hấp tuần hoàn (p=0,004) và kiến thức về vận chuyển nạn nhân (p=0,015), theo đó và những người đang làm hoặc từng làm trong ngành y tế có tỷ lệ kiến thức đúng caon những người không làm trong ngành y tế.

BÀN LUN

Đc đim ca mu nghiên cu

Trong vài năm gần đây, ở thành phố có sự thay đổi tên đường và số nhà làm cho số nhà mới và số nhà cũ lẫn lộn, gây khó khăn cho nhóm nghiên cứu trong việc t́m kiếm các chốt sơ cấp cứu, hoặc do sơ sót của Hội trong quá tŕnh lập danh sách các chốt dẫn đến nguyên nhân là có 35% chốt không t́m được. Có 7% trường hợp tồn tại địa chỉ nhưng lại không có người nào tên đúng theo danh sách, điều này có thể là do TNV đă ghi sai địa chỉ của ḿnh trong quá tŕnh đăng kư tham gia vào mạng lưới. Bên cạnh đó, có 51 chốt (chiếm tỷ lệ 17%) không c̣n hoạt động, trong đó có một số lư do được khảo sát thấy như TNV đă lớn tuổi, sức khỏe yếu nên không thể tham gia tiếp tục vào mạng lưới hay TNV đă chuyển nhà đi nơi khác hoặc đă chuyển công tác, cũng có một số TNV đă mất trong năm vừa qua.

Đặc điểm cơ bản của TNV

Mạng lưới hiện nay chưa có những quy định giới hạn về tuổi tác, tiêu chuẩn về tŕnh độ học vấn mà chủ yếu là dựa vào tinh thần t́nh nguyện. Mẫu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ tham gia nhiều hơn nam, điều này có thể do nữ thường lo công việc nội trợ và quán xuyến công việc trong gia đ́nh, ngoài ra, khảo sát c̣n cho thấy tỷ lệ nữ làm nghề lao động tự do như buôn bán nhiều hơn nam nên họ dễ dàng sắp xếp được việc nhà để tham gia thêm nhiệm vụ của TNV. Quá tŕnh khảo sát thấy có 90% TNV là người Kinh, điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm dân số địa phương. TNV có học vấn từ cấp III trở lên chiếm tỷ lệ cao hơn là do đa phần TNV đă từng làm hay đang làm trong ngành y tế và những TNV đang làm việc tại các ủy ban nhân dân th́ vấn đề học vấn được chú trọng nhiều hơn.

Qua quá tŕnh khảo sát ghi nhận TNV thuộc nhiều ngành nghề khác nhau nhưng chỉ có 38% đang công tác hoặc đă từng làm trong ngành y tế. Đây là lực lượng đă có sẵn chuyên môn về y tế hay kinh nghiệm về sơ cứu, nếu như Hội có thể hướng tới việc mở rộng được mạng lưới ở lực lượng này th́ sẽ giảm bớt rất nhiều chi phí huấn luyện lại những kỹ năng và kiến thức liên quan đến SCC, điều này có thể giúp cho hoạt động của mạng lưới phát triển hơn nữa.

Qua quá tŕnh khảo sát ở tại 96 chốt, nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận vài điểm đáng lưu ư đó là có 6 TNV hoạt động bán thuốc, thay băng tại nhà, nhưng trong đó chỉ có 2 người từng là y tá trước khi nghỉ hưu, 4 người c̣n lại th́ làm nghề lao động tự do và họ chỉ trải qua lớp tập huấn của Hội CTĐ. Điều đáng nói là có TNV chuẩn bị sẵn những gói thuốc theo từng liều và bán cho những người hàng xóm chung quanh trong khi họ không biết hay chưa qua bất kỳ lớp đào tạo hướng dẫn sử dụng thuốc. Khi trả lời phỏng vấn, những TNV này cho biết họ chỉ bán những thuốc thông thường và v́ có biển chốt tại nhà nên phần nào họ được ḷng tin của bà con lối xóm. Thiết nghĩ đây là một t́nh trạng cần phải được quan tâm chú ư và cần có sự can thiệp của cơ quan chức năng để ngăn chặn thực trạng này.

T́nh h́nh hoạt động của TNV

Dự án “An toàn giao thông đường bộ” của Hội bắt đầu bắt đầu mở rộng hoạt động từ năm 2004, từ đó mạng lưới cũng phát triển hơn, tuy nhiên trước đó đă có một số chốt được thành lập tại một số phường ở nội thành, và từ khi các t́nh nguyện viên này tham gia vào Hội CTĐ th́ họ cũng bắt đầu tham gia làm TNV về SCC. Theo kết quả khảo sát thấy tại thời điểm nghiên cứu chỉ có 60% TNV đă tham gia tái tập huấn từ tháng 1/2007 đến tháng 4/2008, có đến 40% tham gia tái tập huấn trước năm 2007 hay không hề tham gia tái tập huấn từ khi bắt đầu hoạt động trong mạng lưới đến nay. Điều này rất đáng e ngại, v́ nếu không có những kinh nghiệm sơ cứu và không thực hiện sơ cứu thường xuyên mà lại không tham gia tập huấn th́ không tránh khỏi t́nh trạng quên hay không nhớ một cách rơ ràng những kiến thức và kỹ năng sơ cứu.

Theo thông tin TNV cung cấp cho thấy có 47%  không thực hiện được trường hợp sơ cứu nào trong 4 tháng đầu năm. Lư do là những chốt này được đặt ở trong hẻm hoặc ở những khu vực ít có tai nạn xảy ra, hay do khu vực nội thành ở thành phố tập trung rất nhiều bệnh viện, trạm y tế nên khi tai nạn xảy ra th́ nạn nhân đă được đưa ngay đến cơ sở y tế. Điều này cũng cần được xem xét đến vị trí thành lập chốt, thiết nghĩ nên có một nghiên cứu để thiết lập những vị trí đặt chốt sơ cấp cứu hiệu quả.

Kiến thức về SCC của TNV

Qua phỏng vấn cho thấy những kỹ năng thường thực hiện là rửa vết thương, băng bó hoặc cầm máu tạm thời, những kỹ năng khác th́ rất hiếm khi TNV thực hiện và nhất là kỹ năng cấp cứu hô hấp tuần hoàn th́ hầu như TNV chỉ học trên lư thuyết, c̣n trên thực tế th́ TNV không áp dụng kỹ năng này. Lư do có thể là TNV không gặp trường hợp nạn nhân bị ngưng tim, ngưng thở hoặc do thiếu kiến thức và không tự tin để tiến hành sơ cứu hay e ngại sợ bị lây những bệnh truyền nhiễm trong quá tŕnh sơ cứu. Điều này cũng tương tự như t́nh h́nh của những TNV ở nhiều nước trên thế giới.(4)

Đối với kiến thức về tải thương th́ tương tự như t́nh h́nh của TNV ở Úc,(5) rất nhiều TNV lẫn lộn giữa các kỹ thuật tải thương. Họ trả lời lư do là ít áp dụng kỹ năng này trên thực tế, đa số những người áp dụng là những chốt nằm trên quốc lộ hoặc những giao lộ lớn. Chính những lư do trên giải thích được v́ sao tỷ lệ những người có kiến thức đúng về cấp cứu hô hấp tuần hoàn và phương pháp vận chuyển nạn nhân là thấp nhất.

Mối liên quan giữa kiến thức với các đặc tính của mẫu

Qua nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tŕnh độ học vấn với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương, cầm máu tạm thời và hô hấp tuần hoàn. Theo đó, những người học từ cấp III trở lên có tỷ lệ kiến thức đúng nhiều hơn những người học dưới cấp III, lư do có thể là: Thứ nhất, những người có học vấn cao thường có khuynh hướng và hoàn toàn có khả năng t́m hiểu thêm những kiến thức mới, trong đó có những kiến thức về sơ cứu bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thứ hai, tỷ lệ ở nhóm có học vấn từ cấp III trở lên tham gia tập huấn (72%) nhiều hơn nhóm có học vấn dưới cấp III (28%). Thứ ba, đa số những người có học vấn từ cấp III trở lên là những người đă làm hay đang làm trong ngành y tế hoặc là những công nhân viên đang công tác tại các ủy ban nhân dân. Đối với những người trong ngành y tế th́ họ đă có sẵn kiến thức và kinh nghiệm về sơ cứu. Đối với những TNV là công nhân viên th́ đa phần họ đều là những người tham gia trong ban chấp hành Hội CTĐ của phường, họ là lực lượng chủ chốt để tập huấn cho các đoàn viên thanh niên trong phường nên họ có kiến thức đúng nhiều hơn.

Nghiên cứu ở Thụy Điển vào tháng 10/2001 cũng cho kết quả tương tự rằng những người có tŕnh độ học vấn cao có khả năng tham gia t́nh nguyện về sơ cấp cứu và có thể sử dụng những kỹ năng sơ cứu đă được tập huấn nhiều hơn những người có tŕnh độ học vấn thấp.(2)

Kết quả cũng cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp với kiến thức về SCC của TNV. Theo đó, những người làm trong ngành y tế có tỷ lệ kiến thức đúng cao hơn những người làm ngoài ngành y tế. Điều này phù hợp với điều kiện làm việc của TNV. Thứ nhất, họ đă có những kiến thức cơ bản về những kỹ năng sơ cứu được dạy trong trường lớp. Thứ hai, quá tŕnh công tác trong ngành y tế th́ họ có nhiều cơ hội tiếp xúc hay chứng kiến đồng nghiệp thực hiện sơ cứu cho nạn nhân hoặc chính họ đă từng thực hiện điều này. Do đó, cũng không mấy khó hiểu khi TNV trong ngành y tế lại có tỷ lệ kiến thức đúng nhiều hơn TNV ngoài ngành y tế. Đây sẽ là lực lượng lư tưởng cho hoạt động của mạng lưới nếu được quan tâm đúng mức.

Tính ứng dụng, giá trị và hạn chế của nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có khả năng ứng dụng v́ chưa có một nghiên cứu nào trước đây khảo sát về thực trạng của mạng lưới này, do đó kết quả của nghiên cứu này sẽ là những số liệu ban đầu, thiết thực giúp chúng ta có những thông tin cơ sở về thực trạng hoạt động của mạng lưới SCC, từ đó có kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới này. Nghiên cứu đă xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức như tuổi, tŕnh độ học vấn, nghề nghiệp để t́m ra tiêu chuẩn chọn lựa những người tham gia, đồng thời xác định đối tượng mà các chương tŕnh tập huấn kỹ năng cần tác động vào nhằm nâng cao kiến thức SCC cho TNV.

Hạn chế của đề tài là việc tiến hành lấy mẫu dựa trên danh sách do Hội CTĐTP cung cấp nhưng danh sách này không sát hợp với thực tế về địa chỉ của các chốt. Mặt khác, vài chốt không c̣n hoạt động có thể đă được Hội thay thế bằng những chốt mới nhưng chúng tôi không nhận được thông tin về những chốt mới thành lập trong vài tháng gần đây, do đó chúng tôi không đưa những đối tượng này vào mẫu nghiên cứu. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính đại diện của mẫu và chúng tôi thực sự không thể khắc phục vấn đề này. Hơn nữa, do đây là nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng của mạng lưới t́nh nguyện viên sơ cấp cứu của Hội CTĐ Tp. HCM nên kết quả của nghiên cứu không thể suy rộng cho những mạng lưới khác, nhưng nó có thể mở ra cho chúng ta thấy một số vấn đề cần giải quyết đó là kiến thức của TNV về các kỹ năng sơ cứu cơ bản c̣n thấp, đây là điểm đáng lo ngại cho hiệu quả hoạt động của mạng lưới.

KẾT LUẬN

Qua kho sát có th thy công tác t chc hot động ca mng lưới chưa tht s cht ch. T l cht c̣n đang hot động là 38%. Nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam (59%), tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 40-60 tuổi, có 64% TNV đă kết hôn, tŕnh độ học vấn cấp III là 45% và trên cấp III là 28%. Có 67% TNV được cấp giấy chứng nhận đă hoàn thành lớp tập huấn, 41% TNV đă sơ cứu được từ 1 – 5 vụ TNGTĐB và đến 47% không sơ cứu được vụ nào. Kiến thức có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết thương (84%), kế đến là cầm máu tạm thời (50%) và kiến thức có tỷ lệ đúng thấp nht là cp cu hô hp tun hoàn (32%) và vn chuyn nn nhân (32%). Nhng yếu t có liên quan đến kiến thc là nhóm tui, tŕnh độ hc vn và ngh nghip ca TNV.

KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu này chúng tôi có những kiến nghị như sau:

Tổ chức mạng lưới: Mạng lưới thực sự hoạt động và phát huy tác dụng thấp hơn 50%, do đó cần có khảo sát toàn diện để đánh giá đầy đủ về năng lực hoạt động, tính chất phân bố hợp lư của mạng lưới. Gần chốt cần có biển báo dễ thấy, dễ đọc. Xây dựng điều lệ và các quy chế kiểm tra hoạt động. Nên tổ chức mỗi chốt tối thiểu một người nhưng cũng có thể là một gia đ́nh cùng đảm nhận nhiệm vụ SCC tại chốt. Chốt SCC là hộ gia đ́nh sẽ ít bị ngưng hoạt động.

Kiến thức của TNV: Tổ chức tập huấn thường xuyên nhằm nâng cao kiến thức của TNV. In tài liệu, phát hành đĩa CD hướng dẫn các kỹ thuật SCC cơ bản.

Tiêu chuẩn tuyển chọn: Nếu phải cân nhắc về giới tính, ngành nghề, tŕnh độ học vấn th́ qua khảo sát cho ta thấy đối tượng nữ, ngành nghề tự do hay làm trong ngành y tế và học vấn từ cấp III trở lên th́ có nhiều điều kiện tham gia mạng lưới SCC tốt hơn.

Phương pháp đánh giá:

Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 3 nhân tố chính là t́nh trạng hoạt động, quá tŕnh tham gia tập huấn và kiến thức của TNV về SCC. Nếu một trong ba nhân tố nêu trên bị đánh giá bằng zero th́ hiệu quả hoạt động của mạng lưới cũng bị đánh giá bằng zero (đ́nh trệ hoạt động). Do vậy, hiệu quả tổng hợp hoạt động có quan hệ đồng biến theo cấp số nhân với cả 3 yếu tố nêu trên.

Nếu Hội có 1 nghiên cứu khác quy mô hơn với cỡ mẫu toàn bộ và áp dụng những kết quả của nghiên cứu này th́ có thể đề xuất công thức đánh giá chỉ số phản ảnh hiệu quả hoạt động như sau: E = N *S *K. Trong đó: E là hiệu quả hoạt động của mạng lưới, N là tỷ lệ chốt c̣n hoạt động, S là tỷ lệ TNV tham gia tái tập huấn và K là tỷ lệ TNV có kiến thức đúng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          B y tế. Những nỗ lực của bộ y tế trong công tác an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam. Bộ y tế 2008.

2.          Hew P, Brenner B, Kaufman J. Reluctance of paramedics and emergency medical technicians to perform mouth-to-mouth resuscitation. Journal of Emergency Medicine. 1997;15(3):279 – 84.

3.          Hội chữ thập đỏ Tp.HCM. Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đặc biệt dự án “An toàn giao thông đường bộ”. TP.HCM: Hội chữ thập đỏ Tp.HCM; 2004.

4.          Larsson EM, Martensson NL, Alexanderson KAE. First-aid training and bystander actions at traffic crashes - A population study. Prehosp Disast Med 2002;17(3):134-141.

5.          Lynch DM, Gennat HC, Celenza T, Jacobs IG, O’Brien D, Jelinek GA. Community senior first aid training in Western Australia: its extent and effect on knowledge and skills. Australian and New Zealand Journal of Public Health 2006;2(30):147-50.