Huỳnh
Ngọc
Vân Anh*, Đỗ
Văn Dũng*
Đặt vấn
đề: Tai nạn giao
thông là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm
tăng gánh nặng bệnh
tật trên toàn cầu. Sơ cấp cứu ban đầu rất
cần thiết để đảm bảo khả năng sống cho nạn nhân. Năm 2004, dự án “An toàn giao thông đường bộ” được
triển khai và nhiều chốt sơ cấp cứu đă được thiết lập,
đặc biệt là trên những con đường được xem là “cung đường đen” của thành phố.
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả hoạt
động của mạng lưới t́nh nguyện viên
sơ cấp cứu
tai nạn giao thông đường bộ (TNV SCC TNGTĐB) tại các quận nội thành
Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4/2008.
Phương
pháp: Nghiên cứu cắt
ngang mô tả tiến hành trên 96 t́nh nguyện viên đang tham gia hoạt động trong mạng
lưới sơ cấp
cứu tai nạn giao thông đường bộ tại nội
thành thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 đến
tháng 7/2008. Các chốt sơ cấp
cứu được quan sát về t́nh h́nh hoạt động
và các đối tượng nghiên cứu được phỏng
vấn trực tiếp về quá tŕnh hoạt động tại
các chốt và các kiến thức về sơ cấp cứu cơ bản.
Kết quả: Chỉ có 38% các chốt c̣n đang hoạt động, công tác tổ
chức mạng lưới chưa được chặt chẽ,
kiến thức có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết thương (84%), kế đến là cầm
máu tạm thời (50%) và kiến thức có tỷ lệ
đúng thấp nhất
là cấp cứu hô hấp tuần hoàn (32%) và vận chuyển
nạn nhân (32%). Những yếu tố có liên quan đến
kiến thức là nhóm tuổi, tŕnh độ học vấn
và nghề nghiệp của t́nh nguyện viên.
Kết luận: Cần có khảo sát toàn diện
để đánh giá đầy đủ về năng lực hoạt động, tính chất
phân bố hợp lư của mạng lưới, trang bị
các phương tiện về sơ cấp
cứu, ban hành tiêu chuẩn tuyển chọn t́nh nguyện
viên, thường xuyên tổ chức tập huấn nhằm
nâng cao kiến thức cho t́nh nguyện viên và thiết lập
phương pháp đánh giá về hoạt động của mạng lưới.
Từ khóa: an toàn giao thông, t́nh nguyện viên, sơ cấp cứu.
THE NETWORK OF ROAD INJURY FIRST-AID
VOLUNTEERS IN INNER HO
Huynh Ngoc Van Anh, Do Van
Dung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14
- Suppl ement of No 1-2010: 177-184
Introduction: Traffic injury is one of the most leading causes to burden of diseases
in the world. First aid is essential to save lives. In 2004, “road safety”
project was lauched and many first aid points were established, especially in
roads where accidents frequently occur.
Objective: The study aims
to describe the activities of the network of first aid points injury and
knowledge of first aid volunteers in
inner Ho Chi Minh city in April 2008.
Method: A
cross-sectional study was conducted on 96 volunteers who participated in the
network of road accident first aid in inner city from 04/2008 to 07/2008. First
aid points were observed to exam their situations and volunteers were
interviewed face-to-face about their activities and knowledge on first aid.

Results: It was about 38%
of first aid points operated and the network was indistinctly organized. The
percentage of volunteers with knowledge on dressing the wound was highest
(84%), following by knowledge on stop bleeding (50%), knowledge on
cardiopulmonary resuscitation (32%) and patient transfer (32%). Knowledge was
associated were age, school grade and occupation of volunteers.
Conclusions: Survey should be conducted to fully evaluate capacity and distribution
of the network, first aid equipment should be offered, criteria for volunteer
selection should be promulgated, training courses should be frequently held to
improve knowledge of volunteers, and evaluation should be launched to assess
activities of the network.
Keywords: road safety,
volunteers, first aid.
Mỗi năm
trên thế giới tai nạn giao thông (TNGT)
cướp đi mạng
sống của 1,2 triệu người và làm bị
thương hàng chục triệu người. Tổn
thất kinh tế hàng năm
do TNGT đường bộ gây ra ở Việt
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 96 t́nh nguyện viên (TNV) đang tham gia hoạt động trong mạng lưới SCC TNGT đường bộ ở các quận nội thành thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu chí đưa vào là những TNV có tên trong danh sách của Hội chữ thập đỏ thành phố và đồng ư tham gia nghiên cứu. Tiêu chí loại ra là những TNV trả lời dưới 50% bộ câu hỏi hoặc vắng mặt trên 3 lần trong thời gian nghiên cứu được tiến hành. Các chốt SCC được quan sát về t́nh h́nh hoạt động và các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp về quá tŕnh hoạt động tại các chốt và các kiến thức về sơ cấp cứu cơ bản thuộc 5 nội dung, bao gồm băng bó vết thương, cầm máu tạm thời, cấp cứu hô hấp tuần hoàn, cố định xương găy và vận chuyển nạn nhân. Những biến số nên bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, tŕnh độ học vấn, t́nh trạng hôn nhân và nghề nghiệp. TNV có kiến thức đúng khi trả lời đúng trên 60% các câu hỏi về kiến thức sơ cấp cứu ở mỗi nội dung. Dữ kiện được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.02 và xử lư bằng phần mềm Stata 10.0. Phép kiểm χ2 hay kiểm định Fisher được sử dụng khi kiểm định χ2 không phù hợp, để xác định các mối liên quan giữa các đặc điểm dân số xă hội với kiến thức về sơ cấp cứu của TNV.
Qua quá tŕnh khảo sát 301 chốt SCC đang hoạt động theo danh sách tại 16 quận nội thành thuộc Tp. HCM thu nhận được kết quả như sau:
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=301)
|
Đặc
điểm của mẫu nghiên cứu |
Tần
số |
Tỷ
lệ (%) |
|
Không t́m được chốt Không t́m
được địa chỉ Không có người
đúng tên theo danh sách |
84 21 |
28 7 |
|
T́m được chốt
c̣n hoạt động T́m được chốt nhưng TNV
đi vắng Chốt c̣n đang hoạt động |
18 96 |
6 32 |
|
T́m được chốt
nhưng không c̣n hoạt động Chốt không c̣n hoạt động Chốt luôn đóng cửa |
51 31 |
17 10 |
Có đến 35% chốt SCC không được
t́m thấy, chỉ có 38% chốt c̣n đang hoạt động và 27% chốt t́m
được nhưng
không c̣n hoạt động.
Bảng 2: Lư do các chốt không c̣n hoạt động (n=51)
|
Lư
do chốt không c̣n hoạt động |
Tần số
|
Tỷ lệ
(%) |
|
|
Sức khỏe kém Chuyển nhà, công tác Đă mất Nguyên nhân khác |
16 20 4 11 |
31 39 8 22 |
|
Nguyên nhân TNV không c̣n hoạt động do chuyển nhà hay chuyển công tác chiếm tỷ lệ cao nhất (39%), kế đến là do sức khỏe (chiếm 31%).
Bảng 3: Đặc điểm
cơ bản của TNV
|
Đặc điểm
cơ bản của TNV về tŕnh độ học vấn
và nghề nghiệp |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
Giới tính: nữ (n=96) |
57 |
59 |
|
Dân tộc: Kinh (n=96) |
86 |
90 |
|
T́nh trạng hôn nhân:
đă kết hôn (n=96) |
61 |
64 |
|
Tŕnh độ học
vấn (n=96) Dưới cấp
III Cấp III Trên cấp
III |
26 43 27 |
27 45 28 |
|
Chưa nghỉ hưu (n=67) Lao động tự do Công nhân viên Dân quân |
29 19 17 2 |
43 28 25 3 |
|
Nghỉ hưu (n=29) Từng làm ngành y tế Nghề nghiệp khác Lao động tự
do Dân quân |
17 6 5 1 |
59 21 17 3 |
|
Có bán thuốc, thay băng tại nhà n=6) Nghề nghiệp khác NVYT đă về hưu |
4 2 |
67 33 |
Không có TNV nào mù chữ, 45% có tŕnh độ học vấn cấp III. Có 70% chưa nghỉ hưu. Ở nhóm chưa nghỉ hưu có 28% đang làm trong ngành y tế. Và ở nhóm đă nghỉ hưu có 59% đă từng làm trong ngành y tế. Ghi nhận tại địa điểm nghiên cứu cho thấy có 6 TNV hoạt động bán thuốc, thay băng tại nhà, trong số đó chỉ có 33% TNV đă từng làm trong ngành y tế trước khi nghỉ hưu.
Bảng 4: Thời điểm
bắt đầu tham gia hoạt động và tập huấn
của TNV (n=96)
|
Thời điểm
bắt đầu tham gia hoạt động và tập huấn
của TNV |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
|
Tham gia mạng lưới
sau năm 2004 |
61 |
64 |
|
|
Tập huấn Tham gia tập huấn Được cấp giấy chứng
nhận |
80 64 |
83 67 |
|
|
Tập huấn lại Trước năm 2007 Năm 2007 Năm 2008 |
19 51 7 |
20 53 7 |
|
Có 64% TNV tham gia từ năm 2004 đến nay, trong đó 83% TNV đă từng tham gia lớp tập huấn về SCC nhưng chỉ có 67% TNV được cấp giấy chứng nhận đă hoàn thành lớp tập huấn. Có 53% TNV đă được tập huấn lại vào năm 2007 và từ đầu năm 2008 chỉ có 7% tham gia tập huấn lại. Bên cạnh đó có đến 20% đă được tập huấn lại từ trước năm 2007.
Qua khảo sát cho thấy TNV tham gia vào mạng lưới t́nh nguyện này hoàn toàn trên cơ sở t́nh nguyện và không nhận được bất kỳ nguồn trợ cấp kinh phí hàng tháng nào ngoại trừ quà tượng trưng hay giấy khen khích lệ vào dịp tổng kết cuối năm của Hội.
Bảng 5: Đặc điểm
về t́nh h́nh hoạt động từ năm 2007 đến
tháng 4/2008 (n=96)
|
Đặc điểm
về t́nh h́nh hoạt động |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
Thời gian họp định kỳ Thường xuyên đi họp Không thường xuyên đi họp Không họp |
59 26 11 |
62 27 11 |
|
Số vụ TNGT
đă thực hiện SCC trong 4 tháng đầu năm 2008 Không có 1 – 5 vụ Trên 5 vụ |
45 39 12 |
47 41 12 |
Từ năm 2007 đến nay có 62% TNV thường xuyên họp với ban chỉ đạo Hội chữ thập đỏ phường hay quận và 11% không tham gia họp lần nào. Từ đầu năm 2008 đến tháng 4/2008 có 41% TNV đă SCC được cho từ 1 – 5 người và có đến 47% không sơ cứu được cho bất kỳ người nào.
Bảng 6: Nhận định
của TNV và kiến thức qua khảo sát (n=96)
|
Kiến thức về
SCC |
Nhận định
của TNV (%) |
Kiến thức qua
khảo sát (%) |
|
Băng bó vết
thương |
94 (98) |
81 (84) |
|
Cầm máu tạm thời |
92 (96) |
48 (50) |
|
Cố định
xương găy |
93 (97) |
33 (34) |
|
Cấp cứu HH tuần
hoàn |
79 (82) |
31 (32) |
|
Vận chuyển, tải
thương |
88 (92) |
31 (32) |
Theo ư kiến chủ quan của TNV, tỷ lệ TNV trả lời là biết về 5 nội dung sơ cấp cứu khá cao, tuy nhiên qua khảo sát th́ TNV có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết thương (84%), kế đến là kiến thức về cầm máu tạm thời (50%), kiến thức có tỷ lệ đúng thấp nhất là cấp cứu hô hấp tuần hoàn (32%) và vận chuyển nạn nhân (32%).
Bảng 6: Mối liên quan giữa
kiến thức về sơ cấp cứu với các đặc
tính của mẫu (n = 96)
|
Đặc điểm |
Kiến thức về
băng bó vết thương |
Kiến thức về
cầm máu tạm thời |
Kiến thức về
cố định xương găy |
Kiến thức về
cấp cứu hô hấp tuần hoàn |
Kiến thức về
vận chuyển nạn nhân |
|||||
|
p-value |
PR (KTC 95%) |
p-value |
PR (KTC 95%) |
p-value |
PR (KTC 95%) |
p-value |
PR (KTC 95%) |
p-value |
PR (KTC 95%) |
|
|
Nhóm tuổi |
0,542 |
1,09 (0,92 – 1,29) |
0,266 |
0,77 (0,47 – 1,25) |
0,165 |
0,62 (0,31 – 1,27) |
0,011* |
0,34 (0,13 – 0,89) |
0,763 |
1,10 (0,60 – 2,03) |
|
Giới tính |
0,957 |
1,00 (0,84 – 1,20) |
0,299 |
1,23 (0,83 – 1,84) |
0,859 |
0,95 (0,54 – 1,67) |
0,532 |
1,20 (0,68 – 2,15) |
0,532 |
1,20 (0,68 – 2,15) |
|
Dân tộc |
1,000 |
0,93 (0,74 – 1,17) |
0,317 |
0,68 (0,43 – 1,08) |
0,305 |
0,65 (0,33 – 1,30) |
1,000 |
1,09 (0,40 – 2,93) |
1,000 |
1,09 (0,40 – 2,93) |
|
Học vấn |
0,004* |
1,39 (1,05 – 1,87) |
0,001* |
2,60 (1,26 – 5,38) |
0,057 |
2,08 (0,90 – 4,81) |
<0,001* |
11,14 (1,60– 77,60) |
0,095 |
1,93 (0,83 – 4,49) |
|
Hôn nhân |
0,756 |
1,03 (0,86 – 1,24) |
0,832 |
1,04 (0,67 – 1,59) |
0,176 |
1,53 (0,80 – 2,91) |
0,441 |
0,79 (0,44 – 1,42) |
0,752 |
0,91 (0,50 – 1,64) |
|
Nghề nghiệp |
0,035* |
1,21 (1,03 – 1,40) |
<0,001* |
2,14 (1,45 – 3,17) |
0,001* |
2,56 (1,46 – 4,50) |
0,004* |
2,31 (1,29 – 4,13) |
0,015* |
2,02 (1,14 – 3,59) |
* Có mối liên quan
Có mối liên
quan giữa nhóm tuổi với kiến thức về cấp
cứu hô hấp tuần hoàn (p=0,011), theo đó những người đă nghỉ hưu có tỷ lệ kiến
thức đúng thấp
hơn những
người chưa nghỉ
hưu. Có mối liên
quan giữa tŕnh độ
học vấn với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương (p=0,004), kiến thức
về cầm máu tạm thời (p=0,001), kiến thức về
cấp cứu hô hấp tuần hoàn (p<0,001), theo đó những người học
từ cấp III trở lên có tỷ lệ kiến thức
đúng cao hơn những người học
dưới cấp III. Có mối liên quan giữa nghề
nghiệp với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương (p=0,035), kiến thức
về cầm máu tạm thời (p<0,001), kiến thức
về cố định xương găy (p=0,001), kiến thức về cấp cứu
hô hấp tuần hoàn (p=0,004) và kiến thức về vận
chuyển nạn nhân (p=0,015), theo đó và những người đang làm hoặc từng làm
trong ngành y tế có tỷ lệ kiến thức đúng cao hơn những người
không làm trong ngành y tế.
Trong vài năm gần đây, ở thành phố có sự thay đổi tên đường và số nhà làm cho số nhà mới và số nhà cũ lẫn lộn, gây khó khăn cho nhóm nghiên cứu trong việc t́m kiếm các chốt sơ cấp cứu, hoặc do sơ sót của Hội trong quá tŕnh lập danh sách các chốt dẫn đến nguyên nhân là có 35% chốt không t́m được. Có 7% trường hợp tồn tại địa chỉ nhưng lại không có người nào tên đúng theo danh sách, điều này có thể là do TNV đă ghi sai địa chỉ của ḿnh trong quá tŕnh đăng kư tham gia vào mạng lưới. Bên cạnh đó, có 51 chốt (chiếm tỷ lệ 17%) không c̣n hoạt động, trong đó có một số lư do được khảo sát thấy như TNV đă lớn tuổi, sức khỏe yếu nên không thể tham gia tiếp tục vào mạng lưới hay TNV đă chuyển nhà đi nơi khác hoặc đă chuyển công tác, cũng có một số TNV đă mất trong năm vừa qua.
Mạng lưới hiện nay chưa có những quy định giới hạn về tuổi tác, tiêu chuẩn về tŕnh độ học vấn mà chủ yếu là dựa vào tinh thần t́nh nguyện. Mẫu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ tham gia nhiều hơn nam, điều này có thể do nữ thường lo công việc nội trợ và quán xuyến công việc trong gia đ́nh, ngoài ra, khảo sát c̣n cho thấy tỷ lệ nữ làm nghề lao động tự do như buôn bán nhiều hơn nam nên họ dễ dàng sắp xếp được việc nhà để tham gia thêm nhiệm vụ của TNV. Quá tŕnh khảo sát thấy có 90% TNV là người Kinh, điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm dân số địa phương. TNV có học vấn từ cấp III trở lên chiếm tỷ lệ cao hơn là do đa phần TNV đă từng làm hay đang làm trong ngành y tế và những TNV đang làm việc tại các ủy ban nhân dân th́ vấn đề học vấn được chú trọng nhiều hơn.
Qua quá tŕnh khảo sát ghi nhận TNV thuộc nhiều ngành nghề khác nhau nhưng chỉ có 38% đang công tác hoặc đă từng làm trong ngành y tế. Đây là lực lượng đă có sẵn chuyên môn về y tế hay kinh nghiệm về sơ cứu, nếu như Hội có thể hướng tới việc mở rộng được mạng lưới ở lực lượng này th́ sẽ giảm bớt rất nhiều chi phí huấn luyện lại những kỹ năng và kiến thức liên quan đến SCC, điều này có thể giúp cho hoạt động của mạng lưới phát triển hơn nữa.
Qua quá tŕnh khảo sát ở tại 96 chốt, nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận vài điểm đáng lưu ư đó là có 6 TNV hoạt động bán thuốc, thay băng tại nhà, nhưng trong đó chỉ có 2 người từng là y tá trước khi nghỉ hưu, 4 người c̣n lại th́ làm nghề lao động tự do và họ chỉ trải qua lớp tập huấn của Hội CTĐ. Điều đáng nói là có TNV chuẩn bị sẵn những gói thuốc theo từng liều và bán cho những người hàng xóm chung quanh trong khi họ không biết hay chưa qua bất kỳ lớp đào tạo hướng dẫn sử dụng thuốc. Khi trả lời phỏng vấn, những TNV này cho biết họ chỉ bán những thuốc thông thường và v́ có biển chốt tại nhà nên phần nào họ được ḷng tin của bà con lối xóm. Thiết nghĩ đây là một t́nh trạng cần phải được quan tâm chú ư và cần có sự can thiệp của cơ quan chức năng để ngăn chặn thực trạng này.
Dự án “An toàn giao thông đường bộ” của Hội bắt đầu bắt đầu mở rộng hoạt động từ năm 2004, từ đó mạng lưới cũng phát triển hơn, tuy nhiên trước đó đă có một số chốt được thành lập tại một số phường ở nội thành, và từ khi các t́nh nguyện viên này tham gia vào Hội CTĐ th́ họ cũng bắt đầu tham gia làm TNV về SCC. Theo kết quả khảo sát thấy tại thời điểm nghiên cứu chỉ có 60% TNV đă tham gia tái tập huấn từ tháng 1/2007 đến tháng 4/2008, có đến 40% tham gia tái tập huấn trước năm 2007 hay không hề tham gia tái tập huấn từ khi bắt đầu hoạt động trong mạng lưới đến nay. Điều này rất đáng e ngại, v́ nếu không có những kinh nghiệm sơ cứu và không thực hiện sơ cứu thường xuyên mà lại không tham gia tập huấn th́ không tránh khỏi t́nh trạng quên hay không nhớ một cách rơ ràng những kiến thức và kỹ năng sơ cứu.
Theo thông tin TNV cung cấp cho thấy có 47% không thực hiện được trường hợp sơ cứu nào trong 4 tháng đầu năm. Lư do là những chốt này được đặt ở trong hẻm hoặc ở những khu vực ít có tai nạn xảy ra, hay do khu vực nội thành ở thành phố tập trung rất nhiều bệnh viện, trạm y tế nên khi tai nạn xảy ra th́ nạn nhân đă được đưa ngay đến cơ sở y tế. Điều này cũng cần được xem xét đến vị trí thành lập chốt, thiết nghĩ nên có một nghiên cứu để thiết lập những vị trí đặt chốt sơ cấp cứu hiệu quả.
Qua phỏng vấn cho thấy những kỹ
năng thường
thực hiện là rửa vết thương, băng bó hoặc cầm máu tạm
thời, những kỹ năng
khác th́ rất hiếm khi TNV thực hiện và nhất
là kỹ năng cấp
cứu hô hấp tuần hoàn th́ hầu như TNV chỉ học trên lư thuyết,
c̣n trên thực tế th́ TNV không áp dụng kỹ năng này. Lư do có thể là TNV
không gặp trường hợp nạn nhân bị ngưng tim, ngưng thở hoặc do thiếu
kiến thức và không tự tin để tiến hành
sơ cứu hay e ngại
sợ bị lây những bệnh truyền nhiễm trong quá
tŕnh sơ cứu.
Điều này cũng tương tự như t́nh h́nh của những
TNV ở nhiều nước trên thế giới.(4)
Đối với kiến thức về tải thương th́ tương tự như t́nh h́nh của TNV ở Úc,(5) rất nhiều TNV lẫn lộn giữa các kỹ thuật tải thương. Họ trả lời lư do là ít áp dụng kỹ năng này trên thực tế, đa số những người áp dụng là những chốt nằm trên quốc lộ hoặc những giao lộ lớn. Chính những lư do trên giải thích được v́ sao tỷ lệ những người có kiến thức đúng về cấp cứu hô hấp tuần hoàn và phương pháp vận chuyển nạn nhân là thấp nhất.
Qua nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tŕnh độ học vấn với kiến thức về phương pháp băng bó vết thương, cầm máu tạm thời và hô hấp tuần hoàn. Theo đó, những người học từ cấp III trở lên có tỷ lệ kiến thức đúng nhiều hơn những người học dưới cấp III, lư do có thể là: Thứ nhất, những người có học vấn cao thường có khuynh hướng và hoàn toàn có khả năng t́m hiểu thêm những kiến thức mới, trong đó có những kiến thức về sơ cứu bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thứ hai, tỷ lệ ở nhóm có học vấn từ cấp III trở lên tham gia tập huấn (72%) nhiều hơn nhóm có học vấn dưới cấp III (28%). Thứ ba, đa số những người có học vấn từ cấp III trở lên là những người đă làm hay đang làm trong ngành y tế hoặc là những công nhân viên đang công tác tại các ủy ban nhân dân. Đối với những người trong ngành y tế th́ họ đă có sẵn kiến thức và kinh nghiệm về sơ cứu. Đối với những TNV là công nhân viên th́ đa phần họ đều là những người tham gia trong ban chấp hành Hội CTĐ của phường, họ là lực lượng chủ chốt để tập huấn cho các đoàn viên thanh niên trong phường nên họ có kiến thức đúng nhiều hơn.
Nghiên cứu ở Thụy Điển vào tháng 10/2001 cũng cho kết quả tương tự rằng những người có tŕnh độ học vấn cao có khả năng tham gia t́nh nguyện về sơ cấp cứu và có thể sử dụng những kỹ năng sơ cứu đă được tập huấn nhiều hơn những người có tŕnh độ học vấn thấp.(2)
Kết quả cũng cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp với kiến thức về SCC của TNV. Theo đó, những người làm trong ngành y tế có tỷ lệ kiến thức đúng cao hơn những người làm ngoài ngành y tế. Điều này phù hợp với điều kiện làm việc của TNV. Thứ nhất, họ đă có những kiến thức cơ bản về những kỹ năng sơ cứu được dạy trong trường lớp. Thứ hai, quá tŕnh công tác trong ngành y tế th́ họ có nhiều cơ hội tiếp xúc hay chứng kiến đồng nghiệp thực hiện sơ cứu cho nạn nhân hoặc chính họ đă từng thực hiện điều này. Do đó, cũng không mấy khó hiểu khi TNV trong ngành y tế lại có tỷ lệ kiến thức đúng nhiều hơn TNV ngoài ngành y tế. Đây sẽ là lực lượng lư tưởng cho hoạt động của mạng lưới nếu được quan tâm đúng mức.
Đề tài nghiên cứu có khả năng ứng dụng v́ chưa có một nghiên cứu nào trước đây khảo sát về thực trạng của mạng lưới này, do đó kết quả của nghiên cứu này sẽ là những số liệu ban đầu, thiết thực giúp chúng ta có những thông tin cơ sở về thực trạng hoạt động của mạng lưới SCC, từ đó có kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới này. Nghiên cứu đă xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức như tuổi, tŕnh độ học vấn, nghề nghiệp để t́m ra tiêu chuẩn chọn lựa những người tham gia, đồng thời xác định đối tượng mà các chương tŕnh tập huấn kỹ năng cần tác động vào nhằm nâng cao kiến thức SCC cho TNV.
Hạn chế của đề tài là việc tiến hành lấy mẫu dựa trên danh sách do Hội CTĐTP cung cấp nhưng danh sách này không sát hợp với thực tế về địa chỉ của các chốt. Mặt khác, vài chốt không c̣n hoạt động có thể đă được Hội thay thế bằng những chốt mới nhưng chúng tôi không nhận được thông tin về những chốt mới thành lập trong vài tháng gần đây, do đó chúng tôi không đưa những đối tượng này vào mẫu nghiên cứu. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính đại diện của mẫu và chúng tôi thực sự không thể khắc phục vấn đề này. Hơn nữa, do đây là nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng của mạng lưới t́nh nguyện viên sơ cấp cứu của Hội CTĐ Tp. HCM nên kết quả của nghiên cứu không thể suy rộng cho những mạng lưới khác, nhưng nó có thể mở ra cho chúng ta thấy một số vấn đề cần giải quyết đó là kiến thức của TNV về các kỹ năng sơ cứu cơ bản c̣n thấp, đây là điểm đáng lo ngại cho hiệu quả hoạt động của mạng lưới.
Qua khảo sát có thể thấy công tác tổ chức hoạt động của mạng lưới chưa thật sự chặt chẽ. Tỷ lệ chốt c̣n đang hoạt động là 38%. Nữ chiếm tỷ
lệ cao hơn nam (59%), tập trung chủ yếu ở
độ tuổi từ 40-60 tuổi, có 64% TNV đă kết
hôn, tŕnh độ học vấn cấp III là 45% và trên cấp
III là 28%. Có 67% TNV được cấp giấy chứng nhận
đă hoàn thành lớp tập huấn, 41% TNV đă sơ cứu
được từ 1 – 5 vụ TNGTĐB và đến 47%
không sơ cứu được vụ nào. Kiến thức
có tỷ lệ đúng cao nhất là băng bó vết
thương (84%), kế đến là cầm máu tạm thời
(50%) và kiến thức có tỷ lệ đúng thấp nhất là cấp cứu hô hấp tuần hoàn (32%) và vận chuyển nạn nhân (32%). Những yếu tố có liên quan đến
kiến thức là nhóm tuổi,
tŕnh độ học vấn và nghề nghiệp của TNV.
Qua nghiên cứu này chúng tôi có những kiến nghị như sau:
Tổ chức mạng lưới: Mạng
lưới thực sự hoạt động và phát huy tác
dụng thấp hơn
50%, do đó cần
có khảo sát toàn diện để đánh giá đầy đủ về năng lực hoạt động,
tính chất phân bố hợp lư của mạng lưới.
Gần chốt cần có biển báo dễ thấy, dễ
đọc. Xây dựng điều
lệ và các quy chế kiểm tra hoạt động. Nên tổ
chức mỗi chốt tối thiểu một người
nhưng cũng có thể là một gia
đ́nh cùng đảm
nhận nhiệm vụ SCC tại chốt. Chốt SCC là hộ
gia đ́nh sẽ ít bị
ngưng hoạt
động.
Kiến thức của TNV: Tổ chức tập
huấn thường xuyên nhằm nâng cao kiến thức của
TNV. In tài liệu, phát hành đĩa CD hướng dẫn các kỹ thuật SCC
cơ bản.
Tiêu chuẩn tuyển chọn: Nếu phải
cân nhắc về giới tính, ngành nghề, tŕnh độ
học vấn th́ qua khảo sát cho ta thấy đối
tượng nữ, ngành nghề tự do hay làm trong ngành y tế
và học vấn từ cấp III trở lên th́ có nhiều
điều kiện
tham gia mạng lưới SCC tốt hơn.
Phương
pháp đánh
giá:
Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 3 nhân tố chính là t́nh trạng hoạt động, quá tŕnh tham gia tập huấn và kiến thức của TNV về SCC. Nếu một trong ba nhân tố nêu trên bị đánh giá bằng zero th́ hiệu quả hoạt động của mạng lưới cũng bị đánh giá bằng zero (đ́nh trệ hoạt động). Do vậy, hiệu quả tổng hợp hoạt động có quan hệ đồng biến theo cấp số nhân với cả 3 yếu tố nêu trên.
Nếu Hội có 1 nghiên cứu khác quy mô hơn với cỡ mẫu toàn bộ và áp dụng những kết quả của nghiên cứu này th́ có thể đề xuất công thức đánh giá chỉ số phản ảnh hiệu quả hoạt động như sau: E = N *S *K. Trong đó: E là hiệu quả hoạt động của mạng lưới, N là tỷ lệ chốt c̣n hoạt động, S là tỷ lệ TNV tham gia tái tập huấn và K là tỷ lệ TNV có kiến thức đúng.
1. Bộ y tế. Những nỗ lực của bộ y tế trong công tác an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam. Bộ y tế 2008.