Lê Tăng Tú Mỹ *,Trần
Thiện Thuần*
Đặt
vấn đề:
ATGT hiện đang là vấn đề được xă hội
quan tâm nhiều nhất. T́nh h́nh vi phạm luật GT nhất
là không đội MBH khi TGGT ở lứa tuổi thanh thiếu
niên, học sinh ngày càng cao. Do đó, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức, thái độ
và thực hành của học sinh trường THCS Chu Văn
An, TX Thủ Dầu Một, B́nh Dương trong việc
đội MBH và tuân thủ luật giao thông.
Mục
tiêu nghiên cứu:
Xác định tỷ lệ học sinh khối 6, 7 có KAP
đúng về đội mũ bảo hiểm và tuân thủ
luật giao thông và xác định các mối liên quan giữa
kiến thức đúng, thái độ đúng với thực
hành đúng.
Phương
pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả KAP của học sinh khối
lớp 6 và 7 ở trường THCS Chu Văn An, thị xă
Thủ Dầu Một, B́nh Dương. Đối tượng
được chọn vào nghiên cứu theo phương pháp
chọn mẫu cụm bậc 1.
Kết
quả nghiên cứu:
Sau khảo sát, tỷ lệ học sinh có kiến thức
đúng về ATGT và đội MBH khá cao tuy nhiên thái độ
và thực hành của các em c̣n rất thấp.
Kết
luận: Khoảng cách giữa kiến thức,
thái độ và thực hành của học sinh c̣n khá xa.
Đặc biệt cần chú trọng GDSK nhằm thay đổi
thái độ của các em đối với vấn đề
ATGT và đội MBH khi TGGT.
Từ
khoá: kiến thức,thái độ, thực hành,
đội mũ bảo hiểm đúng cách, luật giao
thông.
KNOWLEDGE – ATTITUDE – PRACTICE
ABOUT WEARING JUDICIOUS HELMET AND CONFORMING TO TRAFFIC LAW AMONG 6TH
AND 7TH FORM AT CHU VAN AN SECONDARY SCHOOL IN
Le Tang Tu My, Tran Thien Thuan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh *Vol.14 -Supplement of No 1-2010: 162-168
Background: Traffic safety is a most matter
of social concern. Situation violate traffic laws, especially not wear helmets
when participating transportation in age youth, students are more increasing.
Therefore, we do research to assess knowledge, attitudes and practices of the
Secondary School
Objectives: Determining the
biomass ratio of 6, 7 are correct KAP helmets and comply with traffic rules and
define the connection between proper knowledge, proper attitude and practice
properly.
Method: Research KAP
cross section describes the student's grade 6 and 7 at the High School Chu Van
An, Thu Dau Mot town, Binh Duong province. Subjects were selected to study the
method of selecting a sample entry level.
Results: After the
survey, the percentage of students with correct
knowledge on safety helmets and high but attitudes and practices of the
children still very low.

Conclusion: The gap between
knowledge, attitude and practice of students is quite remote. Special attention
should be health education to change attitudes of the children to safety
traffic and wear helmets when participating traffic
Keywords: Knowledge –
attitude – practice; judicious helmet; traffic law.
ATGT
là vấn đề đang được XH quan tâm nhất. Hàng năm trên thế giới có 1,2tr
người chết, 50tr người khác bị
thương tật suốt đời do TNGT. TNGT đứng
thứ 5 trong các bệnh không lây chiếm tỷ lệ cao nhất
và CTSN là nguyên nhân tử
vong hàng đầu trên thế giới (WHO, 2002). Tại Việt
1. Xác định tỷ lệ kiến thức - thái độ - thực hành về đội mũ bảo hiểm đúng cách và tuân thủ luật giao thông ở học sinh khối 6, 7 tại trường Chu Văn An tỉnh B́nh Dương tháng 4 năm 2009 .
2. Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về đội mũ bảo hiểm và tuân thủ luật lệ giao thông với các đặc điểm dân số xă hội
3. Xác định mối liên quan giữa kiến thức với thực hành, giữa thái độ với thực hành về đội mũ bảo hiểm và tuân thủ luật lệ giao thông
Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả
trên một nhóm học sinh khối 6,7
trường THCS
Nghiên cứu được tiến hành từ 15/04/09-30/04/09, khảo sát kiến thức, thái độ, và thực hành của học sinh. Phương pháp lấy mẫu là phát bảng câu hỏi tự điền tại lớp với sự trợ giúp của các giáo viên chủ nhiệm.
Kiến thức được khảo sát về việc đội MBH (nguyên nhân, tác hại, lợi ích và mức độ cần thiết, chất lượng, TPCT, cách đội và quy định đội MBH), về tuân thủ luật GT (ATGT, nguyên nhân TNGT, làn đường đúng…). Các thái độ được khảo sát bao gồm sự suy nghĩ của học sinh về cảm giác khi đội MBH, giá cả, mức quan trọng, cần thiết và tác dụng của MBH, mức độ cần thiết của QĐ Bắt buộc đội MBH, sự nguy hiểm khi qua đường, chạy tốc độ cao, chạy trên vỉa hè, vượt đèn đỏ, chở quá số người quy định. Các thực hành được khảo sát là mức độ sử dụng MBH và ca1c hành vi khi qua đường, đi đúng làn đường, dừng đúng vạch hay chạy xe trên vỉa hè, vượt đèn đỏ, chở quá số người quy định, đi dàn hàng... Những biến số nền của đối tượng nghiên cứu gồm lớp, giới , phương tiện sử dụng, học luật GT ở trường, từng chứng kiến TNGT, từng bị TNGT. Dữ kiện được phân tích bằng STATA 10. Số thống kê mô tả gồm tần số và phần trăm. Phân tích các mối liên quan bằng phép kiểm chi b́nh phương với mức ư nghĩa với vọng trị >5%, dùng phép kiểm Fisher nếu vọng trị <5%. Mức độ liên quan được ước lượng với PR (prevalence ratio: tỉ số tỉ lệ hiện mắc) và khoảng tin cậy 95% của PR.
Bảng 1. Các đặc
tính của mẫu nghiên cứu (N= 469)
|
ĐẶC ĐIỂM |
TẦN SỐ |
TỶ LỆ (%) |
|
|
Lớp |
Lớp 6 Lớp 7 |
270 199 |
58 42 |
|
Giới |
Nữ |
226 243 |
48 52 |
|
Được chở
bằng xe máy |
Liên tục Thường xuyên Vài lần/tuần Vài lần/tháng Chưa bao giờ |
156 233 44 17 19 |
33 50 9 4 4 |
|
Học luật
GTĐB ở trường |
Có Không |
436 33 |
93 7 |
|
Chứng kiến TNGT |
Liên tục Thường xuyên Vài lần/tuần Vài lần/tháng Chưa bao giờ |
26 79 61 222 81 |
6 17 13 47 17 |
|
Bị TNGT phải nhập
viện |
Liên tục Thường xuyên Vài lần/tuần Vài lần/tháng Chưa bao giờ |
2 2 7 18 440 |
0.4 0.4 2 4 94 |
Dân số nghiên cứu phân bố khá đồng đều giữa nam và nữ với tỷ lệ 48% và 52%. 87% được phụ huynh đưa đón bằng xe gắn máy, 40% tự TGGT bằng xe đạp, đi bộ, chỉ 2% đi bằng các phương tiện đưa rước công cộng như xe buưt, xe đưa rước học sinh. Điều này có thể lư giải được do các em vừa chuyển từ cấp tiểu học lên bậc THCS nên vẫn được cha mẹ dành thời gian đưa, ngoài ra các phương tiện khác mà các em sử dụng phổ biến là đi xe đạp, xe đạp điện hay đi bộ… là phù hợp với độ tuổi các em. 93% đă được học luật GTĐB tại trường cho thấy nhà trường có chú trọng giảng dạy ATGT cho học sinh. Số lượng học sinh từng chứng kiến TNGT và chứng kiến thường xuyên là rất cao, chiếm khoảng 83%. Số học sinh từng bị nhập viện khoảng 7%.
Bảng 2. Kiến thức-Thái
độ-Thực hành đúng về MBH và ATGT
|
Nội dung |
KT (N = 469) |
TĐ (N = 469) |
TH (N = 469) |
|
KAP MBH KAP ATGT |
68 % 70 % |
59 % 64 % |
65 % 71 % |
Kiến thức về lợi ích đội MBH: 68% học sinh có kiến thức đúng về lợi ích MBH. Tỷ lệ này chưa cao và thấp hơn so với tỷ lệ nghiên cứu của Bùi Thị Hy Hân năm 2007 trên đối tượng người dân xă Tân Thới Nh́ năm 2007 (85%). Hầu hết các em biết được các lợi ích của MBH như tránh chấn thương vùng đầu (97%), giảm tử vong (96%) và cần thiết phải đội MBH (96%). Các em cũng biết được các nguyên nhân gây tổn thương năo bộ và tác hại của CTSN. Tuy nhiên, các em lại ít quan tâm đến chất lượng MBH, mà lại quan tâm kiểu dáng, hoạ tiết bên ngoài. Khoảng 90% học sinh có kiến thức đúng về chọn MBH chất lượng và chú ư đến tem tiêu chuẩn, nhưng chỉ có 69% quan tâm đến trọng lượng, 74% quan tâm đến vỏ và quai đeo của mũ. Phần lớn các em c̣n chưa nắm rơ thành phần cấu tạo đầy đủ của 1 chiếc. Điều này cho thấy khả năng lựa chọn MBH chất lượng của các em chưa cao. Tỷ lệ học sinh biết đội MBH đúng cách c̣n thấp hơn nữa, chỉ có 29% trả lời đúng: đội ngay ngắn, mũ không bị xê dịch và cài dây quai vừa khít cằm. Nh́n chung, các em chưa nhận thức được hết tầm quan trọng trong việc lựa chọn MBH đủ tiêu chuẩn và chú ư đội MBH đúng cách khi TGGT. Điều này có thể dẫn đến những thương tổn đáng tiếc khi có TNGT xảy ra.
Kiến thức về ATGT: Các em nhận biết khá tốt nguyên nhân chính gây TNGT. Trong đó, nguyên nhân các em quan tâm nhiều nhất là phóng nhanh, vượt ẩu (95%); kế tiếp là uống rượu bia khi TGGT (94%); chạy quá tốc độ (93%); không đi đúng phần đường (90%); ư thức kém của người TGGT (90%). Điều kiện đường xá cũng là nguyên nhân gây TNGT được các em chọn khá nhiều (83%), các nguyên nhân c̣n lại chỉ chiếm từ 71-78%. 67% các em biết được làn đường lưu thông dành cho xe đạp và xe gắn máy. Nhưng về nguyên tắc ATGT th́ chỉ có 42% có kiến thức đúng và đủ. Tỷ lệ kiến thức về ATGT của các em không cao nên cần được giáo dục, nâng cao nhằm giúp các em nắm vững các nguyên tắc về ATGT, tránh các hành vi vi phạm luật khi TGGT.
Thái độ về lợi ích đội MBH: Các em học sinh có thái độ khá tích cực đối với mức độ cấn thiết của MBH (90%), gần 89% cho rằng MBH đảm bảo an toàn cho người đội và quy định “Bắt buộc đội MBH trên mọi tuyến đường” là rất cần thiết. Tuy nhiên, các em vẫn chưa có thái độ tích cực đối với việc đội MBH do 49% cho rằng đội MBH sẽ làm ảnh hưởng đến vẻ thẩm mỹ, 59% cho rằng MBH gây khó chịu ở đầu và gần 70% các em nghĩ rằng giá cả là quan trọng và làm ảnh hưởng đến việc đội MBH. Điều này phù hợp với tâm trạng chung của khá đông người dân. Mặc dù biết rơ lợi ích của MBH, hiểu nguy cơ của việc không đội MBH thậm chí đă từng có người thân bị TNGT nhưng họ vẫn thờ ơ và thường biện minh cho việc không đội MBH của ḿnh là: MBH thật nóng, thật nặng hay trông không có thẩm mỹ hoặc tôi chẳng bao giờ đội nó v́ tôi đi chậm trong thành phố…
Thái độ về ATGT: 88% cho rằng vượt đèn đỏ là nguy hiểm, 72% cho rằng nguy hiểm khi đi bộ qua giao lo lúc đèn tín hiệu giao thông dành cho xe máy bật xanh, 71% sợ được chở hoặc chạy xe với tốc độ cao, 67% cho rằng không nên và không được phép chạy xe trên vỉa hè dù đường đang kẹt xe và vỉa hè trống, 64% cho rằng không nên chở trên 2 người khi đi xe máy và xe đạp. Nh́n chung, tỷ lệ thái độ đúng về ATGT của các em chưa cao có lẽ v́ t́nh h́nh giao thông hiện nay khá phức tạp: việc kẹt xe, ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm vốn chưa thể giải quyết triệt để, cơ sở hạ tầng đường bộ chưa phát triển. Việc lề đường vỉa hè trống trải, rộng răi, lưu thông khá dễ dàng so với mặt đường kẹt xe, thậm chí lầy lội khiến cho nhiều người khó chấp nhận. Thêm vào đó, hệ thống đèn tín hiệu giao thông chưa thật sự hoàn chỉnh, việc xử lư cũng chưa thật nghiêm minh, khiến cho một số đối tượng có tâm lư khó chịu hoặc hưng phấn quá mức, dễ vi phạm luật lệ GT như vượt đèn đỏ, chạy dàn hàng, chở quá số người quy định. Tóm lại, tỷ lệ thái độ đúng của các em học sinh là tương đối phù hợp với mặt bằng kiến thức của các em.
Thực hành đội MBH: Tỷ lệ đội MBH trên đoạn đường bắt buộc khá cao (92%). Có 85% cho biết luôn đội MBH trên mọi tuyến đường, 83% đội MBH cả khi biết không có công an. Tuy nhiên, trong tháng vừa qua th́ chỉ có 72% là luôn luôn đội MBH trên mọi tuyến đường. Điều này cho thấy một số các em học sinh c̣n cho việc đội MBH là do quy định của pháp luật chứ không tự nguyện v́ ích lợi của cá nhân các em.
Thực hành ATGT: 77.19% học sinh không bao giờ đi bộ qua đường khi đèn GT dành cho xe máy bật xanh, chỉ có 59.06% dừng đúng vạch quy định. Các tỷ lệ thực hành khác từ 70-75%. Kết quả này phù hợp với thái độ của các em về vấn đề tuân thủ luật khi TGGT.
Bảng 3. Mối liên quan giữa
kiến thức về đội MBH và tuân thủ luật GT với các
đặc tính mẫu (N=469)
|
Đặc tính của
mẫu |
Kiến thức về
MBH |
Kiến thức về
ATGT |
|||
|
p |
PR (KTC 95%) |
p |
PR (KTC 95%) |
||
|
Lớp |
Lớp 6 Lớp 7 |
0.14 |
0.9 (0.79-1.03) |
0.59 |
0.96 (0.86-1.09) |
|
Giới |
Nữ |
0.004 |
1.2 (1.06-1.36) |
0.91 |
1.01 (0.89-1.13) |
Kiến thức về MBH bị tác động
bởi các yếu tố như giới, việc các em liên tục
được chở bằng xe gắn
máy. Theo kết quả khảo sát th́ tỷ lệ kiến
thức đúng về MBH ở học sinh nữ cao gấp
1.2 lần ở học sinh nam, và tỷ lệ kiến thức
đúng ở những học sinh được chở bằng
xe máy liên tục cao gấp 1.59 lần học sinh chưa bao
giờ được chở bằng xe máy. Điều
này khá dễ hiểu v́ các em nữ thường có thói quen
t́m hiểu kỹ cách thức sử dụng, bảo quản
cũng như những lợi ích của MBH đem lại,
tốt hơn so với các em nam. Thêm vào đó, những
em liên tục được chở bằng xe
máy sẽ có điều kiện sử dụng MBH nhiều
hơn nên có thể so sánh lựa chọn, nhận xét chất
lượng và biết cách đội mũ tốt hơn.
Bảng
4. Mối liên quan giữa thái độ về đội
MBH và tuân thủ luật GT với đặc tính mẫu
(N=469)
|
Đặc tính của
mẫu |
Kiến thức về
MBH |
Kiến thức về
MBH |
|||
|
p |
p |
p |
PR (KTC 95%) |
||
|
Lớp |
Lớp 6 Lớp 7 |
<0.001 |
1.54 (1.3-1.84) |
<0.001 |
1.31 (1.13-1.51) |
|
Giới |
Nữ |
0.65 |
1.04 (0.89-1.2) |
0.026 |
1.16 (1.02-1.34) |
|
Học luật
GTĐB ở trường |
Có Không |
0.09 |
1.33 (0.91-1.89) |
0.019 |
1.45 (0.99-2.12) |
|
Chứng kiến
TNGT |
Chưa bao giờ |
0.024 |
1.79 (0.96-3.32) |
0.031 |
1.65 (0.94-2.88) |
|
Vài lần/tháng |
0.03 |
1.71 (0.93-3.14) |
0.019 |
1.66 (0.96-2.85) |
|
|
Vài lần/tuần |
0.098 |
1.59 (0.85-2.98) |
0.035 |
1.65 (0.94-2.88) |
|
|
Thường xuyên |
0.013 |
1.9 (1.02-3.56) |
0.097 |
1.54 (0.86-2.73) |
|
|
Liên tục |
- |
1 |
- |
1 |
|
- : Không xác định X: Không tính do dùng phép kiểm định chính xác Fisher
Học sinh lớp 6 có thái độ đúng về ATGT cao hơn các học sinh lớp 7. Điều này có thể do các em học sinh lớp 6 tiếp thu nhanh và áp dụng tốt các kiến thức ATGT mà ḿnh được học từ nhà trường, gia đ́nh. Khối lớp 7 tuy có kiến thức đúng về ATGT cao hơn nhưng do tâm lư tuổi dậy th́ có những biến chuyển khiến các em thường có những suy nghĩ bốc đồng, thích chứng tỏ ḿnh… nên dẫn đến có thái độ chưa đúng. Sự khác biệt thái độ về ATGT giữa hai giới nam và nữ là điều khá thực tế và phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây. Các bạn nữ thường có thái độ đúng tốt hơn nam nên kết quả khảo sát của tác giả Phan Ánh Tuyết và Lê Thị Hồng Thi cho thấy tỷ lệ nạn nhân nam thường cao hơn tỷ lệ nạn nhân nữ rất nhiều (từ 38-44%). Ngoài ra, những học sinh được chở bằng xe gắn máy sẽ có thái độ đúng về ATGT cao hơn so với những học sinh chưa từng được chở bằng xe gắn máy. Tuy nhiên, số học sinh được chở vài lần trong tháng lại có thái độ đúng về ATGT cao hơn các học sinh c̣n lại. Điều này có lẽ do các em có thể sử dụng nhiều PTGT khác nhau nên nhận thức được điều nào là nguy hiểm, điều nào là không nên làm khi TGGT. Bên cạnh đó, yếu tố được học luật GTĐB ở trường cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thái độ đúng của các em. Việc này cho thấy những buổi học ngoại khóa hay truyền thông GDSK về ATGT sẽ có những hiệu quả tốt. Những em cho rằng ḿnh liên tục chứng kiến TNGT đa số là các học sinh lớp 7. Do đó, các em tuy biết rằng TNGT để lại những hậu quả nghiêm trọng và xảy ra rất thường xuyên, liên tục nhưng do tâm lư của tuổi mới lớn, các em muốn chứng tỏ ḿnh không biết sợ hay những hành vi vi phạm sẽ gây cảm giác thích thú cho ḿnh. Chính v́ vậy, thái độ đúng của các em về vấn đề này khá thấp, thậm chí thấp hơn những em cho rằng ḿnh chưa từng chứng kiến TNGT nhưng biết tuân thủ luật GT.
Bảng 5. Mối liên
quan giữa thực hành về đội MBH và tuân thủ
luật GT với các đặc tính mẫu (N=469)
|
Đặc tính của
mẫu |
Thực hành về
MBH |
Thực hành về
ATGT |
|||
|
P |
PR (KTC 95%) |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Được
chở bằng xe máy |
Chưa bao giờ |
- |
1 |
- |
1 |
|
Vài lần/ |
0.023 |
2.17
(1.05-4.49) |
- |
1 |
|
|
Vài lần/ tuần |
0.006 |
2.15
(1.08-4.28) |
0.55 |
1.1 (0.78-1.55) |
|
|
Thường xuyên |
0.005 |
2.05
(1.05-3.99) |
0.89 |
1.02 (0.74-1.4) |
|
|
Liên tục |
0.002 |
2.17
(1.11-4.23) |
0.77 |
1.05 (0.76-1.44) |
|
|
Học
luật GTĐB ở trường |
Có Không |
0.35 |
1.14 (0.84-1.54) |
0.011 |
1.41
(1.01-1.97) |
- : Không xác định X: Không tính do dùng phép kiểm định chính xác Fisher
Những học sinh được chở bằng xe máy, dù chỉ vài lần trong tháng hay được chở liên tục th́ các em vẫn có điều kiện t́m hiểu, thực hành đội MBH tốt hơn những em chưa từng được chở bằng xe máy. Tỷ lệ thực hành ATGT đúng ở những học sinh đă được học luật GTĐB ở trường cao hơn 1.41 lần so với những học sinh chưa được học luật GT tại trường. Điều này đánh giá được tầm quan trọng của việc giảng dạy về ATGT tại trường cũng như trong cộng đồng.
Bảng 6. Mối liên quan giữa
kiến thức đúng với thực hành đúng về
đội MBH
|
|
KT |
χ2 |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||||
|
TH |
Đúng |
230 (75 %) |
75 (25 %) |
21.91 |
<0.001 |
1.39 (1.19-1.62) |
|
Chưa đúng |
89 (54 %) |
75 (46 %) |
||||
Mối liên quan giữa kiến thức đúng về lợi ích với thực hành đúng đội MBH có ư nghĩa thống kê (p < 0.001), trên cơ sở kiểm soát các biến số nền, cho thấy không có biến số gây nhiễu. Nói cách khác, những học sinh có kiến thức chung đúng về lợi ích của đội MBH sẽ có thực hành đội MBH đúng cao gấp 1.39 lần so với học sinh có kiến thức chưa đúng.
Bảng 7. Mối liên quan giữa
thái độ đúng và thực hành đúng về việc
đội MBH
|
|
TĐ |
χ2 |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||||
|
TH |
Đúng |
207 (68%) |
98 (32%) |
25.42 |
<0.001 |
1.55 (1.23–1.87) |
|
Chưa đúng |
72 (44%) |
92 (56%) |
||||
Mối liên quan giữa thái độ đúng và thực hành đúng đội MBH có ư nghĩa thống kê (p < 0.001), trên cơ sở các biến số nền không gây nhiễu, không tương tác lên mối quan hệ này. Qua phân tích kết quả, tỷ lệ thực hành đội MBH của học sinh có thái độ đúng đối với việc đội MBH cao gấp 1.55 lần so với học sinh có thái độ chưa đúng
Bảng 8. Mối liên quan giữa
kiến thức đúng và thực hành đúng về ATGT
|
|
KT |
χ2 |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||||
|
TH |
Đúng |
241 (72 %) |
92 (28 %) |
2.71 |
0.099 |
1.11 (0.97 - 1.28) |
|
Chưa đúng |
88 (65 %) |
48 (35 %) |
||||
Mối liên quan giữa kiến thức đúng về ATGT với thực hành ATGT đúng không có ư nghĩa thống kê (p = 0.099), trên cơ sở các biến số nền không gây nhiễu, không tương tác đến mối liên quan này.
Bảng 9. Mối liên quan giữa
thái độ đúng và thực hành đúng về ATGT
|
|
TĐ |
χ2 |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||||
|
TH |
Đúng |
254 (76%) |
79 (24 %) |
70.73 |
<0.001 |
2.17 (1.50-2.84) |
|
Chưa đúng |
48 (35%) |
88 (65 %) |
||||
Mối liên quan giữa thái độ đúng đối với việc tuân thủ luật GTĐB và thực hành ATGT đúng có ư nghĩa thống kê. Các biến số nền không gây nhiễu hay tương tác lên mối liên quan này. Tỷ lệ thực hành đúng về ATGT ở học sinh có thái độ đúng đối với việc tuân thủ luật GT cao gấp 2.17 lần những học sinh có thái độ chưa đúng.
Theo thăm ḍ, các em học sinh đă lựa chọn và đưa ra một số giải pháp nhằm khuyến khích người dân luôn đội MBH và tham gia giao thông an toàn như:
Biện pháp khuyến khích đội MBH: 97% chọn tuyên truyền GDSK, 82% chọn tăng cường thực thi pháp luật, 42% chọn biện pháp bán MBH với giá ưu đăi nhưng phải có chất lượng. Một số ư kiến khác như: trưng bày các h́nh ảnh về TNGT; bán MBH chất lượng nhưng cần đáp ứng về mặt mẫu mă đẹp, không nhái, giả; nêu tác hại của việc không đội MBH; phát tờ rơi; xử phạt nghiêm khắc các đối tượng vi phạm và có hệ thống theo dơi giám sát, tặng MBH cho trẻ em nghèo… Các em c̣n đề ra biện pháp nhắc nhở các bạn và người xung quanh đội MBH.
Biện pháp tham gia GT an toàn: 92% chọn đội MBH, 91% nói không với rượu bia khi TGGT, 96% cho rằng cần phải tuân thủ luật lệ giao thông. Một số biện pháp khác được các em đề xuất như: tăng cường các cảnh sát giao thông vào giờ cao điểm; chạy xe với tốc độ chậm; giữ khoảng cách an toàn giữa các xe; không lạng lách, đánh vơng; người lái xe cần hiểu rơ luật GT và ư thức tốt về ATGT; kiểm tra xe trước khi TGGT.
Học sinh có kiến thức tương đối khá về những lợi ích của việc đội MBH và ATGT, nhưng lại chưa có ư thức tốt và thái độ tích cực dẫn đến tỷ lệ thực hành của các em cũng không cao. Có mối liên quan giữa kiến thức đúng, thái độ đúng với hành vi đúng trong việc đội MBH, giữa thái độ đúng và thực hành đúng trong việc đảm bảo an toàn khi TGGT. Nhưng không có mối liên quan giữa kiến thức đúng và thực hành đúng trong việc đảm bảo an toàn khi TGGT. Do đó, ta có thể kết luận kiến thức đúng là điều kiện cần để có thực hành đúng nhưng chưa hẳn là điều kiện đủ. Một người có kiến thức đúng về MBH hay ATGT th́ chưa thể chắc chắn họ sẽ luôn thực hành đúng về đội MBH và TGGT an toàn, v́ bên cạnh kiến thức đúng c̣n có nhiều yếu tố quan trọng khác tác động đến kết quả thực hành của đúng của học sinh. Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy thái độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ thực hành đúng của các em học sinh. Điều này khá phù hợp với kết quả của các đề tài liên quan được nghiên cứu trước đây, trên các đối tượng khác nhau như người dân, sinh viên Y Dược. Ở mọi độ tuổi, yếu tố thái độ đều giữ vai tṛ quyết định trong việc đối tượng có thực hành đúng cao hay thấp.
1. Bùi Thị Hy Hân (2007), Kiến thức - thái độ - thực hành về đội mũ bảo hiểm của người dân xă Tân Thới Nh́, Hóc Môn năm 2007 và mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành.
2.
Công ty Honda
Việt
3.
Ngô Ngọc
Hoan (2008), KAP về An toàn giao thông đối với xe máy của
sinh viên kư túc xá Ngô Gia Tự - Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5/2008
4.
Ngô Xuân Thắng,
Giao thông đường
bộ Việt