Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng*, Trương Trọng
Hoàng **
Mở đầu: Lứa tuổi cấp 2 (từ 11-15 tuổi) là lứa tuổi
vừa bước vào tuổi dậy th́, các em c̣n bỡ ngỡ
trước kiến thức rộng lớn về t́nh dục,
rất dễ dẫn đến những hiểu biết
không đúng, có thái độ không phù hợp và h́nh thành những
hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe.
Mục tiêu: Xác định t́nh trạng t́m hiểu thông tin, kiến
thức, thái độ và nhu cầu giáo dục về giới
tính của học sinh và các mối liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực
hiện tại trường THCS Ngô Tất Tố - Quận
Phú Nhuận năm học 2007 – 2008. Mẫu nghiên cứu gồm
669 học sinh được chọn theo phương pháp lấy
mẫu cụm.
Kết quả: Có 31,5% học sinh có kiến thức đúng về
các vấn đề giới tính. Nam học sinh có thái độ
đồng ư việc QHTD ở tuổi VTN cao gấp 2,87 lần
so với nữ học sinh (PR = 2,87, KTC 95% là 2,02-4,10). Có 97%
học sinh đồng ư việc GDGT và khối lớp bắt
đầu GDGT là lớp 6 (35,7%). Có 36% học sinh nhận
thông tin là từ bạn bè, 51,7% là từ sách, báo, tài liệu.
Yếu tố cản trở việc t́m hiểu thông tin về
giới tính là sợ bị hiểu lầm là t́m hiểu
thông tin không lành mạnh (49,6%). Về nhu cầu GDGT, đối
tượng cung cấp là bác sĩ/NVYT (44%), nguồn cung cấp
là sách, báo, tài liệu (48,4%). Học sinh có kiến thức
đúng th́ có thái độ đồng ư “hành vi thủ dâm là
b́nh thường” cao gấp 2,03 lần so với học
sinh có kiến thức không đúng (PR = 2,03, KTC 95% là
1,65-2,51). Học sinh không được cung cấp thông tin
về giới tính từ bất cứ nguồn nào có kiến
thức đúng chỉ bằng 0,29 lần so với những
học sinh có nhận thông tin từ ít nhất một nguồn
(PR = 0,29, KTC 95% là 0,13-0,62).
Kết luận: Việc GDGT ở tuổi học sinh cấp 2 rất
cần thiết. V́ vậy hiện nay các em học sinh cần
có một chương tŕnh GDGT phù hợp với lứa tuổi
của ḿnh.
Từ khóa: Nhu cầu, giáo dục, giới tính.
Background: Secondary school students (from 11 to 15
years old) have just reached the age of puberty. They are new to the wide
knowledge of sex, easily lead to the misunderstandings, the unsuitable
attitudes and bad behaviours which make harmful influences on their health
Objective: Estimate the
finding out about sexual imformation, knowledge, attitudes and needs of sex
education among students and analyse the associations

Method: A describing
cross-sectional study was implemented at Ngo Tat To high school in Phu Nhuan
district in the 2007 - 2008 academic year. The study sample comprised of 669
students whom were chosen by the cluster sampling technique.
Results: The proportion
of students having correct knowledge of sex was 31.5%. Agreeable attitude of
having sexual activity in adolescent age of males was more than females 2.87
times (with PR=2.87, 95% CI of PR = 2.02-4.10). There was 97 percent of
students agreed with sex education and 35.7 percent of them thinked that sex
education should be started in 6th grade. The proportion of students receiving
sex information from friends was 36%, from books, newspapers, documents was
51.7%. 46.6 percent of students was afraid of misunderstanding when they
searched sex information. About needs of sex education, sex information for students
should be provided by doctors or health staffs (44% students chosed), or by
books, newspapers, documents (48.4% student chosed). The students having
correct knowledge of sex agreed with “masturbation is ordinary” more than the
students having incorrect knowledge (with PR=2.03, 95% CI of PR = 1.65-2.51).
The students who didn’t receive sex information from any source of supply, had
less correct knowledge than the students received at least one source (with PR
= 0.29, 95% CI of PR = 0.13-0.62).
Conclusion: Sex education in
secondary school age is very necessary. So now it needs to have a suitable sex
education program for this age
Keywords: Need, education, sex.
Theo thống kê của Hội kế hoạch
hoá gia đ́nh (2003), cả nước có đến 5% các bạn
gái sinh con trước tuổi 18 và 15% sinh con trước tuổi
20. Tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là một
trong những nước cao nhất Châu Á và đứng thứ 15 trên thế
giới.[6] Cho thấy t́nh h́nh sức khỏe sinh sản
ở lứa tuổi VTN đang ở t́nh trạng báo động,
do đó các em cần phải được cung cấp kiến
thức đầy đủ để tự bảo vệ
bản thân ḿnh. Chính v́ vậy, GDGT đă trở nên rất
quan trọng và cần thiết.
Những năm gần đây có không ít nghiên cứu về nhu cầu GDGT với mong muốn t́m kiếm phương cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho Thanh thiếu niên. Nhưng đa số nghiên cứu đều tập trung vào các đối tượng là học sinh cấp 3 hoặc sinh viên tức là đối tượng trong độ tuổi thanh niên, độ tuổi mà họ có thể đă h́nh thành những hành vi nguy cơ. Trong khi đó, lứa tuổi cấp 2 (từ 11-15 tuổi) là lứa tuổi vừa bước vào tuổi dậy th́, các em c̣n bỡ ngỡ trước một thế giới kiến thức về t́nh dục rộng lớn, rất dễ dẫn đến những hiểu biết không đúng, có thái độ không phù hợp và h́nh thành những hành vi ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. V́ vậy, một cuộc nghiên cứu t́m hiểu kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục về giới tính cho lứa tuổi cấp 2 là rất cần thiết.
Nghiên
cứu cắt ngang mô tả (có phân tích)
Tất
cả học sinh của trường THCS Ngô Tất Tố
- Quận Phú Nhuận năm học 2007 – 2008.
![]()
Ta áp dụng công thức tính cỡ mẫu
n:
Với
c : hệ số thiết kế,
c = 2 (do phương pháp chọn mẫu cụm)
α : xác suất sai lầm
loại I, α = 0,05
Z : trị số từ phân
phối chuẩn, với độ tin cậy 95%
d : sai số
cho phép, d = 0,05
p : trị
số ước đóan của tỉ lệ (dựa theo
nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và nhu cầu về
giáo dục giới tính ở học sinh PTTH Sương Nguyệt
Ánh Quận 10 TPHCM tháng 6/2006” của tác giả Nguyễn Thị
Linh Đơn trên 517 học
sinh(5), kết quả 54,93% có
nhu cầu được GDGT), chọn p= 54,93% = 0,55
Sau đó hiệu chỉnh cỡ
mẫu (nhc) theo
công thức: (4) nhc = n x P
n + P
n : cỡ mẫu chưa hiệu
chỉnh
P : dân số đích
hc : hiệu chỉnh
Đồng thời, dự trù mất mẫu
là 10%. Tính được cỡ mẫu nghiên cứu sẽ
là nhc = 661 mẫu
Dựa
theo phương pháp lấy mẫu cụm, đánh số
các lớp theo thứ tự từ lớp 6 đến lớp
9 (gồm 61 lớp). Học sinh trung b́nh mỗi lớp là
47. Số lớp cần tiến hành nghiên cứu là 15 lớp.
Khoảng cách mẫu là 61/15 ≈ 4. Chọn một số
ngẫu nhiên là 2. Bắt đầu từ lớp có số
thứ tự thứ 2, tiếp tục chọn theo khoảng
cách mẫu cho đến được 15 lớp. Tất
cả học sinh trong lớp được chọn sẽ
được mời tham gia nghiên cứu.
Tổ chức nghiên cứu thử trên 40 học
sinh của trường để chỉnh sửa bộ
câu hỏi phù hợp với đối tượng. Nghiên cứu
không vi phạm các vấn đề y đức.
Dữ kiện được thu thập,
sau đó nhập liệu và xử lư bằng Epidata 3.1 và
Stata 10.0. Thống kê mô tả bằng bảng phân phối tần
suất, tỷ lệ. Xác định mối liên quan giữa
2 biến số bằng phép kiểm Chi b́nh phương (X2).
Lượng hóa mối liên quan bằng tỉ số tỉ
lệ hiện mắc (PR) với KTC 95%. Sử dụng phân
tích phân tầng và hồi quy đa biến để khử
tác động của các biến số gây nhiễu.
Mẫu nghiên
cứu gồm 669 học sinh, phân bố tương đối
đồng đều giữa nam và nữ, và giữa các khối
lớp.
Bảng 1: Đặc tính của mẫu
nghiên cứu (n = 669)
|
Đặc
tính |
Tần
số |
Tỷ
lệ (%) |
Đặc
tính |
Tần
số |
Tỷ
lệ (%) |
|
Tuổi 10 12 13 14 15 16 |
1 123 181 178 185 1 |
0,1 18,4 27,1 26,6 27,7 0,1 |
Giới Nữ |
334 335 |
49,9 50,1 |
|
Khối
lớp 6 7 8 9 |
129 183 172 185 |
19,3 27,4 25,7 27,6 |
Khảo sát kiến
thức chung về các vấn đề giới tính th́ có
31,5% học sinh tham gia nghiên cứu có kiến thức
đúng. Kiến thức chung được định
nghĩa là đúng khi đúng được 4/6 vấn đề
giới tính nêu dưới đây
Bảng
2: Tỷ
lệ học sinh có kiến thức đúng về các vấn
đề giới tính (n = 669)
|
Các
vấn đề giới tính |
Tần
số |
Tỷ
lệ (%) |
|
Thay
đổi b́nh thường ở tuổi dậy th́ |
405 |
60,5 |
|
Hành
vi thủ dâm |
314 |
46,9 |
|
Tiếp
xúc giữa con trai và con gái có thể có thai |
356 |
53,2 |
|
Biện
pháp tránh thai |
172 |
25,7 |
|
Các bệnh
LTQĐTD |
217 |
32,4 |
|
Ảnh
hưởng xấu của nạo phá thai đến sức
khỏe |
282 |
42,1 |
Bảng
3: Tỷ
lệ học sinh có thái độ đồng ư về các vấn
đề giới tính (n = 669)
|
Các
thái độ |
Tần
số |
Tỷ
lệ (%) |
|
“Việc
quan hệ t́nh dục ở tuổi vị thành niên (10-19 tuổi)
là b́nh thường, miễn là hai người yêu nhau” |
136 |
20,3 |
|
“Nếu
lỡ mang thai ở tuổi vị thành niên (10-19 tuổi)
th́ nên phá thai” |
323 |
48,3 |
|
“Thủ
dâm là hành động b́nh thường, vô hại, miễn
là đừng quá độ” |
230 |
34,4 |
|
Nên
GDGT cho học sinh |
649 |
97 |
Kết quả khảo sát thái độ về
việc GDGT của học sinh cho thấy hầu hết học
sinh (97%) tham gia nghiên cứu đồng ư việc giáo dục
giới tính (58% cho là rất cần thiết, 33,8% cho là cần
thiết và có hay không cũng được là 5,2%). Trong số
97% học sinh đồng ư với việc giáo dục giới
tính cho học sinh nêu trên th́ có 35,7% cho là nên bắt đầu
từ lớp 6, chiếm tỷ lệ cao nhất.
Bảng 4: Đối tượng
và nguồn cung cấp thông tin về giới tính cho hoc sinh
(n = 669)
|
Đối
tượng cung cấp thông tin |
Tần
số |
Tỷ lệ |
Nguồn
cung cấp thông tin |
Tần
số |
Tỷ lệ |
|
Bạn bè |
241 |
36,0 |
Sách, báo,
tài liệu |
346 |
51,7 |
|
Mẹ |
230 |
34,4 |
Các buổi
giáo dục sức khỏe do nhà trường tổ chức
|
266 |
39,8 |
|
Bác sĩ/ nhân viên y tế |
213 |
31,8 |
Internet |
266 |
39,8 |
|
Cô giáo |
121 |
18,1 |
Tivi |
233 |
34,8 |
|
Cha |
81 |
12,1 |
Các trung tâm
tư vấn sức khỏe |
143 |
20,4 |
|
Thầy giáo |
62 |
9,3 |
Phim ảnh |
140 |
20,9 |
Các yếu tố thúc đẩy
học sinh t́m hiểu thông tin về giới tính như học
sinh muốn bổ sung kiến thức cho ḿnh (45,7%) hoặc
có những thắc mắc về giới tính và muốn t́m
câu trả lời (37,5%), cảm thấy cần thiết với
họ (37,2%) và 31,5% cho là do ṭ ṃ.
Về các yếu tố cản trở học sinh t́m hiểu thông tin về giới tính, kết quả cho thấy gần phân nửa học sinh tham gia nghiên cứu (49,6%) cho rằng là sợ sẽ bị người khác hiểu lầm là t́m hiểu thông tin không lành mạnh.
Các học sinh mong muốn
người cung cấp thông tin về giới tính nên là bác
sĩ/ nhân viên y tế (44%) hoặc mẹ (38,3%) hoặc bạn
bè (31,8%). Các học sinh muốn nhận thông tin về giới
tính từ nguồn sách, báo, tài liệu (48,4%) và từ các buổi
giáo dục sức khỏe do nhà trường tổ chức
(48,3%) hoặc Internet (41,1%)
Bảng 5: Mối liên quan giữa
kiến thức chung và thái độ về các vấn đề
giới tính với đặc tính của mẫu nghiên cứu
(n = 669)
|
Đặc tính của mẫu |
Kiến thức chung Tần số (Tỷ lệ
%) |
|
p |
PR (KTC=95%) |
||
|
Đ |
KĐ |
|||||
|
Giới tính |
|
106 (31,6) |
229 (68,4) |
0,003 |
0,96 |
1,01 (0,81-1,26) |
|
Nữ |
105 (31,4) |
229 (68,6) |
||||
|
Khối lớp |
6 |
9 (7,0) |
120 (93,0) |
101,5 |
|
1 |
|
7 |
30(16,4) |
153(83,6) |
0,018 |
2,35(1,56-4,78) |
||
|
8 |
85(49,4) |
87 (50,6) |
<0,0001 |
7,08(3,71-13,54) |
||
|
9 |
87(47,0) |
98 (53,0) |
<0,0001 |
6,74(3,52-12,89) |
||
|
Thái độ về
việc QHTD ở tuổi VTN |
||||||
|
Giới
tính |
|
101 (30,2) |
234 (69,8) |
39,95 |
<0,0001 |
2,87(2,02-4,10) |
|
Nữ |
35 (10,5) |
299 (89,5) |
||||
|
Khối
lớp |
6 |
35 (27,1) |
94 (72,9) |
17,13 |
|
1 |
|
7 |
44 (24,0) |
139 (76,0) |
0,54 |
0,89(0,60-1,30) |
||
|
8 |
38 (22,1) |
134 (77,9) |
0,31 |
0,81(0,55-1,21) |
||
|
9 |
19 (10,3) |
166 (89,7) |
<0,0001 |
0,38(0,23-0,63) |
||
|
Thái độ về
hành vi thủ dâm |
||||||
|
Giới
tính |
|
142 (42,4) |
193 (57,6) |
19,08 |
<0,0001 |
1,61(1,29-2,00) |
|
Nữ |
88 (26,4) |
246 (73,6) |
||||
|
Khối
lớp |
6 |
24 (18,6) |
105 (81,4) |
40,14 |
|
1 |
|
7 |
46 (15,1) |
137 (74,9) |
0,18 |
1,35(0,87-2,10) |
||
|
8 |
83 (48,3) |
89 (51,7) |
<0,0001 |
2,59(1,75-3,84) |
||
|
9 |
77 (41,6) |
108 (58,4) |
<0,0001 |
2,24(1,50-3,34) |
||
Có sự khác biệt có ư
nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa kiến thức chung
về các vấn đề giới tính với khối lớp
của học sinh. Lớp 7 th́ có kiến thức chung
đúng cao hơn lớp 6 (Với PR=2,35, KTC 95% = 1,56-4,78); lớp
8 cao lớp 6 (Với PR=7,08, KTC 95% = 3,71-13,54); lớp 9 cao lớp
6 (Với PR=6,74, KTC 95% = 3,52-12,89). Phân tích thái độ trong
việc QHTD ở tuổi VTN kết quả cho thấy nam
có thái độ đồng ư cao hơn so với nữ (Với
PR=2,87, KTC 95% = 2,02-4,10) và học sinh khối lớp 6 có thái
độ đồng ư thấp hơn lớp 9 (Với
PR=0,38, KTC 95% = 0,23-0,63). Tuy nhiên, ở học sinh lớp 7, 8
th́ không có sự khác biệt (p > 0,05) so với lớp 6. Kết
quả phân tích thái độ về hành vi thủ dâm cho thấy
nam có thái độ đồng ư với hành vi này cao hơn
so với nữ (Với PR=1,61, KTC 95% = 1,29-2,00). Có sự
khác biệt có ư nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa thái
độ về hành vi thủ dâm với khối lớp của
học sinh. Lớp 8 có thái độ đồng cao hơn
lớp 6 (Với PR=2,59, KTC 95% = 1,75-3,84); Lớp 9 cao hơn
lớp 6 (Với PR=2,24, KTC 95% là 1,50-3,34). Tuy nhiên, không có sự
khác biệt có giữa học sinh lớp 7 và lớp 6.
Bảng 6: Mối liên quan giữa
đối tượng đă cung cấp thông tin với kiến
thức chung về các vấn đề giới tính (n = 669)
|
Đối
tượng |
Kiến
thức chung (%) |
|
p |
PR (KTC=95%) |
||
|
Đ |
KĐ |
|||||
|
Bạn
bè |
Có |
102(42,3) |
139(57,7) |
20,29 |
<0,0001 |
1,66 (1,34-2,07) |
|
Không |
109(25,5) |
319(74,5) |
||||
Bảng 7: Mối liên quan giữa việc nhận thông tin về giới tính từ bạn bè với kiến thức chung về các vấn đề giới tính có điều chỉnh theo đặc tính của mẫu nghiên cứu (n = 669)
|
Biến
số gây nhiễu tiềm tàng |
PR |
P |
PR hiệu
chỉnh |
rPR (%) |
Kết
luận |
|
|
Giới
tính |
|
1,47 |
0,27 |
1,67 (1,34-2,09) |
0,6 |
Không gây nhiễu |
|
Nữ |
1,88 |
|||||
|
Khối
lớp |
6 |
2,43 |
0,80 |
1,37 (1,12-1,68) |
21,3 |
Gây nhiễu |
|
7 |
1,19 |
|||||
|
8 |
1,33 |
|||||
|
9 |
1,40 |
|||||
Xét mối liên quan giữa
đối tượng cung cấp thông tin với kiến
thức về các vấn đề giới tính thấy có sự
khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa việc nhận
thông tin từ bạn bè với kiến thức về giới
tính, trong đó khối lớp là biến số gây nhiễu.
Kết quả sau khi khử nhiễu cho thấy những học
sinh mà nhận thông tin từ bạn bè th́ có kiến thúc
đúng cao gấp 1,37 lần so với không nhận thông tin
từ bạn bè (KTC 95% là 1,12-1,68).
Bảng 8: Mối liên quan giữa
nguồn cung cấp thông tin về giới tính với kiến
thức chung về các vấn đề giới tính (n = 669)
|
Nguồn
đă cung cấp thông tin |
Kiến thức chung Tần số (%) |
|
p |
PR (KTC=95%) |
||
|
Đ |
KĐ |
|||||
|
Internet |
Có |
113(42,5) |
153(57,5) |
24,48 |
<0,0001 |
1,75 (1,40-2,18) |
|
Không |
98 (24,3) |
305(75,7) |
||||
|
Sách, báo,
tài liệu |
Có |
146(42,2) |
200(57,8) |
37,69 |
<0,0001 |
2,10 (1,63-2,69) |
|
Không |
65(20,1) |
258(79,9) |
||||
|
Tivi |
Có |
89 (38,2) |
144(61,8) |
7,34 |
0,007 |
1,37 (1,09-1,71) |
|
Không |
122(28,0) |
314(72,0) |
||||
|
Phim ảnh
(từ băng, đĩa, rạp chiếu phim) |
Có |
60 (42,9) |
80 (57,1) |
10,50 |
0,001 |
1,50 (1,19-1,90) |
|
Không |
151(28,5) |
378(71,5) |
||||
|
Các buổi
GDSK nhà trường tổ chức |
Có |
97 (36,5) |
169(63,5) |
4,96 |
0,03 |
1,29 (1,03-1,61) |
|
Không |
114(28,3) |
289(71,7) |
||||
Có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa kiến thức chung về các vấn đề giới tính với việc nhận thông tin từ các nguồn như Internet, sách, báo, tài liệu, tivi, phim ảnh và các buổi GDSK do nhà trường tổ chức.
Dân số nghiên cứu phân bố khá đồng đều giữa nam và nữ với tỷ lệ 50,1% và 49,9% (tỷ lệ giới là 1,00 nam/nữ) xấp xỉ với tỷ lệ giới của Việt Nam (năm 2004) là 0,98 nam/nữ. Tỷ lệ học sinh của các khối lớp tương đối bằng nhau, cỡ mẫu đủ lớn v́ vậy mẫu mang tính đại diện cao.
Nh́n chung, những kiến thức về những thay đổi b́nh thường ở tuổi dậy th́ và kiến thức về điều kiện tiếp xúc giữa nam và nữ có thể có thai là được biết đến nhiều nhất v́ đây là những kiến thức phổ thông và tương đối dễ tiếp cận hơn so với một số chủ đề tế nhị khác như thủ dâm, nạo phá thai, các biện pháp tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường t́nh dục có ít học sinh có kiến thức đúng. Tỷ lệ học sinh có kiến thức chung đúng về các vấn đề giới tính không cao (31,5%). Điều này cho thấy việc cung cấp kiến thức cho các em học sinh hiện nay là vô cùng cần thiết.
Nh́n chung phần lớn học sinh không chấp
nhận việc quan hệ t́nh dục trước hôn nhân nhưng
vẫn c̣n một tỷ lệ khá cao (20,3%) coi việc quan hệ
t́nh dục ở tuổi VTN là b́nh thường trong t́nh yêu.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy những học sinh
nam có thái độ đồng ư việc quan hệ t́nh dục
ở tuổi vị thành niên cao gấp 2,87 lần so với
học sinh nữ. Kết quả này phù hợp với Điều
tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam
khi t́m hiểu thái độ của thanh thiếu niên về
vấn đề t́nh dục trước hôn nhân, cho thấy
nam thanh thiếu niên có thái độ chủ
động và chấp nhận đối với vấn
đề này hơn là nữ thanh thiếu niên (32,5% nam và
14,7% nữ đồng ư).(1)
Qua khảo sát có đến gần phân nửa số học sinh tham gia nghiên cứu (48,3%) đồng ư với ư kiến “nếu lỡ mang thai ở tuổi vị thành niên (10-19 tuổi) th́ nên phá thai”. Kết quả này cao hơn so với cuộc nghiên cứu phỏng vấn 182 người từ 15-20 tuổi tại tỉnh Thanh Hoá, Quảng Trị, Cần Thơ được thực hiện năm 1999 cho thấy khoảng 28% chọn nạo phá thai khi họ có thai trước hôn nhân.(6) Tỷ lệ khá cao này có thể là do các em học sinh c̣n nhỏ, chưa hiểu rơ việc nguy hiểm của nạo phá thai đối với sức khỏe.
Hầu hết học sinh
(97%) tham gia nghiên cứu đồng ư việc giáo dục giới
tính cho học sinh. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của
Nguyễn Thị Linh Đơn thực hiên năm 2006 là
95,2%.(5) Như vậy cho thấy GDGT ngày càng được
các em học sinh chấp nhận. Ngoài ra, nghiên cứu
cũng thăm ḍ ư kiến về khối lớp có thể
bắt đầu giáo dục giới tính, nhiều nhất
cho rằng nên bắt đầu từ lớp 6 (11 đến
12 tuổi). Kết quả này phù hợp với bài báo cáo của
WHO có khuyên rằng chương tŕnh GDGT thông thường bắt
đầu tốt nhất vào lứa tuổi 12.(6) Đây là lứa tuổi vừa bước
vào dậy th́, có thể bắt đầu tiếp nhận
những thông tin về giới tính một cách lành mạnh.
Về đối tượng cung cấp thông
tin, có 36% nhận thông tin từ bạn bè, chiếm tỷ lệ
cao nhất. Cho thấy bạn bè là nguồn mà các em dễ dàng
tiếp cận nhất. Tuy
nhiên kết quả nghiên cứu này thấp hơn nhiều
so với Điều tra quốc gia vị
thành niên và thanh niên Việt
Cuộc khảo sát cho thấy
hơn phân nửa được nhận thông tin từ
sách, báo, tài liệu (51,7%), cho thấy đây là nguồn cung
cấp thông tin dễ dàng tiếp cận với các em. V́ vậy,
việc đưa thông tin GDGT vào sách, báo sẽ là một giải
pháp hiệu quả cho việc cung cấp những thông tin tế
nhị này. Hai nguồn cung cấp quan trọng khác là tivi và
internet chiếm tỷ lệ khá cao. Hầu hết các em
đều có khả năng tiếp cận những nguồn
thông tin này hằng ngày. Trong tương lai đây có thể
là nguồn cung cấp thông tin nhanh và phù hợp với các em
nhất. Một cuộc nghiên cứu tiến hành xem Internet
sử dụng có hiệu quả trong việc cung cấp
GDGT cho thanh thiếu niên ở Trung Quốc hay không, cho thấy
có tính khả thi và hiệu quả trong việc giúp gia
tăng kiến thức về sức khỏe sinh sản
cho sinh viên một cách hiệu quả và làm thay đổi
thái độ của họ về t́nh dục.(2)
Một điểm cần quan tâm là 49,6% cho rằng yếu tố cản trở họ t́m hiểu thông tin về giới tính là sợ bị người khác hiểu lầm là t́m hiểu thông tin không lành mạnh. Chính quan niệm về việc t́m hiểu thông tin về giới tính ở tuổi vị thành niên của các em là không tốt, làm cho các em e ngại không dám tiếp cận với những thông tin trên hoặc t́m hiểu một cách lén lút. Điều này thật sự c̣n nguy hiểm hơn là cung cấp cho các em những thông tin khoa học để biết tự bảo vệ bản thân.
Kết quả phân tích cho thấy ở những
học sinh có nhận thông tin về giới tính từ bạn
bè sẽ có kiến thức đúng cao hơn so với những
học sinh không có nhận thông tin từ bạn bè. Như vậy,
chúng ta thấy các em khi trao đổi thông tin với bạn bè thường sẽ
nhận thông tin chính xác hơn. Bạn bè cũng là nguồn
mà các em dễ dàng tiếp cận nhất v́ những người
cùng trang lứa có thể dễ dàng truyền cho nhau những
kinh nghiệm.(3) Từ đó cho thấy việc giáo dục
cùng trang lứa (bạn bè chia sẻ thông tin với nhau) là một
giải pháp tối ưu trong việc nâng cao kiến thức
cho học sinh. Giải pháp này được thực hiện
phổ biến trong một số lĩnh vực như
đồng đẳng HIV/AIDS, tuy nhiên với giáo dục giới
tính điều này c̣n chưa phổ biến và cần
được phát triển.
Qua phân tích kết quả cũng cho thấy ở những học sinh có nhận thông tin từ các nguồn như Internet, sách, báo, tài liệu, tivi, phim ảnh, các buổi giáo dục sức khỏe do nhà trường tổ chức th́ có kiến thức cao hơn so với những em không có nhận thông tin từ các nguồn trên. Như vậy có thể thấy rằng các nguồn này có tác dụng tốt trong việc nâng cao kiến thức về giới tính cho học sinh.
Nghiên cứu đă khảo
sát được một số kết quả như: Tỷ
lệ học sinh có kiến thức đúng về các vấn
đề giới tính là 31,5%. Tỷ lệ học sinh có
thái độ đồng ư với việc giáo dục giới
tính là 97% và lớp bắt đầu GDGT nên là lớp 6
(35,7%). Nguồn cung cấp thông tin về giới tính chủ
yếu là Bạn bè, sách, báo, tài liệu. Yếu tố thúc
đẩy học sinh t́m hiểu thông tin về giới tính
là “Muốn bổ sung kiến thức cho ḿnh”. Nhưng v́ “Sợ
sẽ bị người khác hiểu lầm là t́m hiểu
thông tin không lành mạnh” đă làm cản trở việc t́m
hiểu thông tin của học sinh. Bác sĩ/ nhân viên y tế
và Sách, báo, tài liệu là các nguồn cung cấp thông tin mà các
học sinh muốn nhận nhất. Kiến thức về
giới tính càng tăng cao theo khối lớp của học
sinh. Và nam học sinh thái độ về việc QHTD ở
tuổi VTN cao hơn ở nữ. Việc có nhận thông
tin về giới tính từ bạn bè sẽ giúp học sinh
có kiến thức về các vấn đề giới tính
cao hơn. Các kết quả khảo sát trên là những chỉ
báo rất tốt cho việc nắm được t́nh trạng
t́m hiểu thông tin về giới tính của học sinh. Và
giúp chúng ta định hướng trong việc lựa chọn
tập trung vào nguồn thông tin nào hay đối tượng
nào cho hiệu quả khi thiết kế các chương
tŕnh truyền thông về giới tính trong tương lai.
2.
Chao-hua Lou, Quan Zhao, Er-Sheng Gao, Iqbal H. Shah
(2006). Can the Internet be used
effectively to provide sex education to young people in
5.
Nguyễn
Thị Linh Đơn. Kiến thức, thái độ và nhu
cầu về giáo dục giới tính ở học sinh THPT
Sương Nguyệt Ánh Q.10 TPHCM 6/2006. Luận văn tốt
nghiệp Cử nhân Y Tế Công Cộng, Khoa Y Tế Công Cộng,
Đại học Y Dược TPHCM, 2006.
6.
Tổ chức
Y tế Thế giới khu vực Tây Thái B́nh Dương.
Sexual and Reproductive Health of Adolescents and Youths in