Tôn Nữ Hồng Vy*, Trương
Phi Hùng*, Đoàn Thị Ngọc Hân*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đây là một nghiên cứu
định lượng nhằm khảo sát về kiến
thức, thái độ, thực hành về vệ sinh răng miệng của
học sinh thuộc khối THCS tại thị trấn Diên
Khánh, tỉnh Khánh Ḥa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra
một số điểm hạn chế trong kiến thức, thực
hành về vệ sinh răng miệng của học sinh, đồng
thời đưa
ra kiến nghị định hướng
cho công tác giáo dục truyền thông chương tŕnh chăm sóc răng miệng tại
địa phương.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ
học sinh có kiến thức, thái độ, thực hành
đúng và tỉ lệ tiếp cận các nguồn thông tin về
vệ sinh răng
miệng; mối liên quan giữa kiến
thức, thái độ, thực hành về vệ sinh răng miệng với
các đặc điểm dân số xă hội và mối liên quan giữa kiến
thức, thái độ với thực hành về vệ sinh
răng miệng của học sinh THCS tại thị trấn
Diên Khánh, tỉnh Khánh Ḥa năm 2008.
Phương pháp: đây là nghiên cứu cắt ngang được
thực hiện vào tháng 4, 5 năm 2008 ở thị trấn Diên Khánh, tỉnh
Khánh Ḥa.
Kết quả: Kiến thức, thực hành về vệ sinh răng miệng của
học sinh THCS tại thị trấn Diên Khánh, Khánh ḥa ở
mức tương
đối thấp. Hai nguồn cung cấp
thông tin phổ biến về vệ sinh răng miệng là nha
sĩ và cha mẹ. Kiến thức, thái độ, thực hành về
vệ sinh răng
miệng ảnh hưởng nhiều bởi
học lực, khối lớp và tŕnh độ học vấn
của cha mẹ. Nghiên cứu cũng t́m thấy mối liên quan giữa kiến,
thái độ với thực hành khám răng định ḱ của
học sinh.
Kết luận: Vấn đề thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh THCS tại địa phương thật sự đáng lưu tâm. Đưa kiến thức về các phương pháp vệ sinh răng miệng mới vào giáo dục trong trường học là điều cần thiết. Cha mẹ đóng vai tṛ quan trọng trong việc xây dựng kiến thức,thực hành vệ sinh răng miệng của học sinh.
Từ khóa: Vệ sinh răng miệng, Diên Khánh, Khánh Ḥa, răng miệng học sinh THCS, KAP sức khỏe răng miệng
KNOWLEDGE,
ATTITUDES, PRACTICES ABOUT ORAL HYGIENE OF THE SECONDARY SCHOOL’S PUPILS IN THE
TOWN OF DIEN KHANH, KHANH HOA PROVINCE IN 2008
Ton
Nu Hong Vy, Truong Phi Hung, Doan Thi Ngoc Han
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1 – 2010: 218 - 226
Background: This
is a quantitative study to examine oral hygiene knowledge, attitude,
practice (KAP) of the secondary school’ s pupils in the town of

Objectives: Determine the
rate of pupils who have right knowledge, attitudes, practices and proper rate
access to sources of information about oral hygiene; relationship between
knowledge, attitudes, practices oral hygiene with characteristics of the
population and social relationship between knowledge, attitude and practice of
oral hygiene the secondary school’s
pupils in the town of Dien Khanh,
Khanh Hoa province in 2008.
Method: This is a
cross-section study what was carried out in April and May 2008 in the town of
Results: Knowledge and
practice about oral hygiene of the secondary school’s student in the town of
Conclusion: In general, practical problems of dental care at the local secondary school students really deserves to be mindful. The knowledge about oral hygiene methods in the new education in schools is essential. Their parents play an important role in building oral hygiene knowledge and practice of the pupils.
Keywords: Dental hygiene, Dien Khanh, Khanh Hoa, dental hygiene pupils, oral health KAP
Ngày nay, khi mà giao tiếp và
các mối quan hệ xă hội ngày càng được mở
rộng, giá trị của sức khỏe răng miệng và thẩm mỹ v́ vậy cũng được nâng cao một cách rơ rệt.
Mức độ nghiêm trọng của bệnh răng miệng được đánh giá tương tự như các bệnh mạn tính khác, có khả năng ảnh hưởng xấu đến chất
lượng cuộc sống ngay từ thời ấu
thơ cho đến tận tuổi già. Gánh nặng tốn
kém của các bệnh về răng miệng chiếm
từ 5% đến 10% tổng chi phí cho điều trị các bệnh tim mạch, ung
thư, loăng
xương ở các nước
phát triển(13).
Theo thống kê của Viện
Răng Hàm Mặt Quốc Gia, 99,4% dân số Việt
Xác định tỉ lệ
học sinh có kiến thức, thái độ, thực hành
đúng và tỉ lệ tiếp cận các nguồn thông
tin về vệ sinh răng miệng; mối
liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành
về vệ sinh răng miệng với các
đặc điểm dân số xă hội
và mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với
thực hành về vệ sinh răng miệng của
học sinh THCS tại thị trấn Diên Khánh, tỉnh Khánh
Ḥa năm
2008.
Nghiên cứu cắt ngang mô
tả.
Học sinh đang học tại hai trường: THCS Phan Chu
Trinh và THCS Trịnh Phong, thị trấn Diên Khánh, tỉnh
Khánh Ḥa.
Theo công thức ước lượng một tỷ lệ n=385 (học sinh). V́ chưa có một nghiên cứu nào tương tự tại địa phương nên ước đoán trị số mong muốn p = 0,5. Làm tṛn cỡ mẫu nghiên cứu, số học sinh cần khảo sát là 402.
Đặc trưng của mẫu
nghiên cứu (n=402)
Dân số
nghiên cứu có tỉ lệ nam thấp hơn tỉ lệ nữ, bao gồm 47% nam và 53% nữ.
Số lượng học sinh phân bố ở tương đối đồng đều ở từng
khối lớp. Về học lực, tỉ lệ học
sinh có học lực cao (55%) nhiều hơn so với nhóm có học lực thấp (45%). Về
tŕnh độ học vấn của cha mẹ học sinh,
đa số phụ huynh có tŕnh độ ở mức
cấp hai và cấp ba, chiếm 67% ở cha và 65% ở mẹ.
Kiến thức về
chải răng
Phần lớn học sinh được khảo
sát (71%) biết được từ hai lợi ích trở
lên của việc chải răng đúng
cách nhưng chỉ
có 10% số này có kiến thức về
phương
pháp chải răng hiệu quả (phương pháp Bass). Như vậy, tỉ lệ
học sinh có kiến thức chung đúng về chải răng chiếm 8% tổng
số.
Kiến thức về
khám răng định kỳ
Tỉ lệ học sinh
cho biết là cần đi khám răng định kỳ dưới sáu tháng một
lần là 59%. Đáng chú ư là 22% trong tổng
số học sinh cho rằng chỉ đến nha sĩ khi có vấn đề về răng miệng, kiểm tra răng định kỳ là hoàn toàn không cần thiết.
Một số ít học sinh hoàn toàn không biết nên khám
răng định kỳ khi nào (2%).
Kiến thức về
chất flour
Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng về tác dụng của chất flour là làm cho răng chắc khỏe hơn chiếm 25% tổng số và có đến 53% số học sinh được hỏi hoàn toàn không biết ǵ về tác dụng của flour. Hai biện pháp bổ sung flour được học sinh THCS biết nhiều nhất là dùng kem đánh răng có flour (39%) và súc miệng với dung dịch có flour (35%).
Kiến thức về
một số bệnh liên quan đến vệ sinh răng
miệng
Đa
số học sinh nhận thức được là phải
vệ sinh tốt răng miệng và ăn ít thực phẩm có đường (86% và 78%).
Tỉ lệ học sinh cho rằng khám răng định kỳ và bổ sung flour có thể
pḥng ngừa được sâu răng th́ thấp
hơn nhiều, tương ứng chiếm
49% và 36% tổng số. Hai dấu hiệu được
biết nhiều nhất là nướu răng sưng to và dễ chảy máu.
Đáng chú ư
là có đến 41% trong tổng số
học sinh hoàn toàn không biết được thế nào là
nướu răng có bệnh.
Thái
độ về chải răng
Tỉ
lệ học sinh có thái độ tốt về chải
răng chiếm 94% tổng số, có nghĩa là đồng ư rằng chải răng đúng cách là việc quan trọng
đối với bản thân.
Thái
độ về khám răng định kỳ
Số
học sinh được khảo sát có cho rằng khám
răng định kỳ làm tốn tiền vô ích chiếm
22% tổng số.
Thực
hành về chải răng
Phương pháp chà ngang được
sử dụng phổ biến nhất (32%). Tỉ lệ học
sinh thực hành phương
pháp Bass c̣n rất hạn chế (2%). Kết quả nghiên cứu
c̣n cho thấy có khoảng 38% số học sinh không có cách chải
răng cố định. Về tần suất thực
hành chải răng trong
ngày, đa số
học sinh được hỏi đều chải răng từ hai lần trở
lên (50%) và số học sinh chỉ chải răng duy nhất một lần
trong ngày chiếm 17% trong tổng số. Tỉ lệ học
sinh có thực hành chải răng trên ba lần trong một ngày chiếm tỉ lệ
thấp nhất (2%). Thời
điểm chải răng phổ biến
của các em học sinh là buổi tối trước khi
đi ngủ và buổi sáng sau khi thức dậy,
chiếm tỉ lệ tương ứng là 84% và
95%. Tỉ lệ học sinh có thực hành chải răng ngay sau khi ăn chính thấp nhất
(9%). Với những học
sinh chải răng một lần trong
ngày, thời điểm chải răng thường là buổi sáng sau khi thức dậy.
Tỉ lệ học sinh có thực hành chung đúng về chải răng chỉ chiếm
1% do số học sinh có thực hành đúng về phương pháp chải
răng khá khiêm tốn, chiếm 2% tổng số.
Thực
hành khám răng định kỳ
Số
học sinh có đến nha sĩ trong sáu tháng gần
đây chiếm tỉ lệ cao nhất (34%), đáng chú ư là có 23% tổng số cho biết chưa bao giờ đi khám răng. Số học sinh có thực hành khám răng định kỳ từ một lần tở
lên trong một năm c̣n chiếm 20% trong tổng
số; đáng
chú ư là có đến 72% số học
sinh được khảo sát không bao giờ khám răng định kỳ.
Thực hành sử dụng
thực phẩm có đường, axit giữa các bữa
ăn chính
Thói quen sử dụng thực
phẩm có đường giữa các bữa ăn chính khá phổ biến; 48% số học sinh
được khảo sát dùng các thức ăn có đường từ một đến hai
lần trong ngày và 22% số này dùng hơn hai lần. Tần suất sử dụng thức
uống có đường có thấp hơn so với các thức ăn ngọt, tỉ lệ học sinh dùng thức
uống có đường dưới một lần trong
ngày chiếm đa số
(51%).
Mối
liên quan giữa kiến thức về chải răng với
các đặc điểm dân số xă hội
|
Đặc điểm |
Kiến thức chải răng |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||
|
Học lực Cao
Thấp |
27 (12%) 6 (3%) |
195 (88%) 174 (97%) |
0,001 |
3,65 (1,54-8,64) |
|
Khối lớp Lớp
sáu Lớp bảy Lớp tám Lớp chín |
7 (7%) 14 (14%) 3 (3%) 9 (9%) |
94 (93%) 88 (86%) 97 (97%) 90 (91%) |
0,045 |
1 1,98 (0,83-4,70) 0,43 (0,12-1,63) 1,31 (0,51-3,39) |
Mối
liên quan giữa kiến thức về khám răng định
kỳ với các đặc điểm dân số xă hội
|
Đặc điểm |
KT khám răng định kỳ |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||
|
Học lực Cao
Thấp |
142(64%) 94(52%) |
80(36%) 86(48%) |
0,017 |
1,22 (1,03-1,45) |
|
Tŕnh độ học vấn mẹ Dưới cấp 1 Cấp 2,3 Trên cấp 3 |
29(42%) 156(60%) 51(70%) |
40(58%) 104(40%) 22(30%) |
0,003 |
1 1,43(1,06-1,92) 1,66(1,21-2,28) |
Mối
liên quan giữa thái độ về khám răng định
kỳ với đặc điểm dân số xă hội
|
Đặc điểm |
TĐ khám răng định kỳ |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
Tốt |
Chưa tốt |
|||
|
Giới tính Nữ |
158 (83%) 154 (73%) |
33 (17%) 57 (27%) |
0,019 |
1,13 (1,02-1,26) |
|
Khối lớp Lớp sáu Lớp bảy Lớp tám Lớp chín |
79 (78%) 73 (72%) 73 (73%) 87 (88%) |
22 (22%) 29 (28%) 27 (27%) 12 (12%) |
0,024 |
1 0,74 (0,65-0,83) 0,75 (0,67-0,85) 1,04 (//-//) |
// Không tính được
Mối
liên quan giữa thực hành chải răng với đặc
điểm dân số xă hội
|
Đặc điểm |
TH chải răng |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||
|
Học vấn cha Dưới cấp 1 Cấp 2,3 Trên cấp 3 |
1(2%) 1(0%) 3(4%) |
56(98%) 267(100%) 74(96%) |
0,042* |
1 0,21(0,01-3,35) 2,22(0,23-20,8) |
|
Học vấn mẹ
Dưới cấp 1 Cấp 2,3 Trên cấp 3 |
1(1%) 1(0%) 3(4%) |
68(99%) 259(99%) 70(96%) |
0,036* |
1 0,27(0,02-4,19) 2,84(0,3-26,61) |
* Dùng phép kiểm Fisher
Mối
liên quan giữa thực hành về khám răng định kỳ
với các đặc điểm dân số xă hội
|
Đặc điểm |
Thực hành khám răng định kỳ |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
Đúng |
Chưa đúng |
|||
|
Học lực Cao
Thấp |
58 (26%) 24 (13%) |
164 (74%) 156 (87%) |
0,002 |
1,96(1,27-3,02) |
|
Học vấn cha Dưới
cấp 1 Cấp 2,3 Trên cấp 3 |
7 (12%) 48 (18%) 27 (35%) |
50 (88%) 220 (82%)
50 (65%) |
0,001 |
1 1,46(0,70-3,06) 2,86(1,34-6,09) |
|
Học vấn mẹ
Dưới cấp 1
Cấp 2,3
Trên cấp 3 |
8 (12%) 51 (20%) 23 (32%) |
61 (88%) 209 (80%)
50 (68%) |
0,011 |
1 1,69(0,84-3,40) 2,72(1,30-5,66) |
Mối
liên quan giữa kiến thức và thực hành khám răng
định kỳ
|
|
Thực hành khám răng |
p |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
||||
|
Kiến thức khám răng |
Đúng |
69 (29%) |
167 (71%) |
<0,001 |
3,73 (2,14-6,53) |
|
Chưa đúng |
13 (8%) |
153 (92%) |
|||
Mối
liên quan giữa thái độ và thực hành khám răng
định kỳ
|
|
Thực hành khám răng |
P |
PR (KTC 95%) |
||
|
Đúng |
Chưa đúng |
||||
|
Thái độ khám răng |
Tốt |
72 (23%) |
240 (77%) |
0,013 |
2,08 (1,12-3,85) |
|
Chưa tốt |
10(11%) |
80 (89%) |
|||
Đặc trưng của mẫu nghiên cứu Tỉ lệ học
sinh tham gia nghiên cứu là 100% và không có t́nh trạng mất mẫu
xảy ra. Mẫu nghiên cứu có tỉ lệ học sinh
nam và nữ tương đối đồng
đều. Số lượng học sinh phân bố ở
các khối lớp của dân số mẫu tỉ lệ với
dân số mục tiêu. Về học lực, số học
sinh có mức khá giỏi có ít hơn so với nhóm có
học lực trung b́nh và yếu. So với mức trung b́nh
chung về học lực của học sinh tại huyện
Diên Khánh, tỉ lệ học sinh khá, giỏi của mẫu
có thấp hơn nhưng không đáng kể (5%)(15). Đa số học sinh được
chọn trong nghiên cứu có cha, mẹ với mức học
cấp hai và ba (67%, 65%). Tuy có sự chênh lệch giữa ba
nhóm tŕnh độ học vấn của cha mẹ nhưng kết quả này phù hợp với t́nh h́nh
văn hóa -
giáo dục của huyện Diên
Khánh. Hiện nay, ngành giáo dục địa phương đă hoàn thành phổ cập
trung học cơ sở và đang tiến hành phổ cập tiếp ở bậc
phổ thông trung học(15).
Kiến thức về
chải răng
Tỉ
lệ học sinh biết về phương pháp chải răng Bass c̣n khá khiêm tốn
(10%). Kết quả này thấp hơn nhiều so với
nghiên cứu của Cao Thị Kim Hoa(2) (53%) và nghiên cứu của Lê Thị
Kim Oanh(15) (91%). Sự chênh lệch này có thể
là do đối tượng nghiên cứu của hai tác giả
trên là học sinh tiểu học, vẫn c̣n chịu tác
động giáo dục của chương tŕnh Nha học đường. Riêng với nghiên cứu
này, khảo sát trên đối tượng là học sinh
THCS, không c̣n được hướng dẫn chăm sóc răng miệng v́ thế mà kiến
thức về phương pháp chải
răng cũng không c̣n được
nhớ chính xác. Về lợi ích của việc chải
răng đúng cách, tỉ lệ này
có sự chênh lệch khá lớn với kiến thức về
phương
pháp chải răng. Nguyên nhân có thể không loại trừ trường hợp
một số học sinh trả lời ngẫu nhiên hay do
phương
pháp chải răng đă có sự thiếu sót
trong quá tŕnh nhớ lại trong khi lợi ích của chải
răng có thể nắm bắt được nhờ
tư duy của bản thân học sinh. Do tỉ lệ
học sinh có kiến thức đúng về
phương
pháp chải răng không cao nên khi đánh giá kiến thức
chung về chải răng, tỉ lệ học
sinh đạt thấp. Sự thiếu hụt kiến thức
về phương pháp Bass của học
sinh là vấn đề cần được chú ư.
Kiến
thức về khám răng định kỳ
Tỉ
lệ học sinh có kiến thức đúng về thời điểm cần
đi khám răng định kỳ là
59%. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu
của Nguyễn Đức Duy (73%)(9). Đáng chú ư trong nghiên cứu
này là có đến 22% tổng số cho rằng chỉ
đi khám răng khi bản thân có vấn
đề về răng miệng. Khám răng định kỳ giúp phát hiện các vấn
đề răng miệng tiềm ẩn
mà tự bản thân người bệnh không phát hiện
được, nhằm điều trị kịp
thời và giảm thiểu hậu quả của bệnh.
Vai tṛ của khám răng định kỳ là
quan trọng, nội dung này cần được chú ư nhấn
mạnh hơn trong quá tŕnh giáo dục
sức khỏe răng miệng cho học
sinh.
Kiến thức về
chất flour
Số
học sinh nhận biết flour như một chất bảo vệ men răng chỉ chiếm 25% tổng số học sinh
được hỏi, thấp hơn rất nhiều khi khảo sát nội dung trên
với đối tượng là học sinh tiểu học
tại thành phố Hồ Chí Minh (63%)(2) (theo Cao Thị Kim Hoa). Về kiến
thức các cách bổ sung flour cho cơ thể, một nửa số học sinh hoàn
toàn không biết cách nào để bổ sung flour cho cơ thể và phương pháp được
biết nhiều nhất là dùng kem đánh răng có flour cũng chỉ chiếm 39% tổng số, có thể
do hiểu biết về vai tṛ của flour không cao đă dẫn đến sự quan tâm và kiến thức
về việc bổ sung flour cũng có giới hạn.
Kiến
thức về pḥng ngừa sâu răng
Hầu hết các em học
sinh nhận thức được cần phải vệ
sinh răng
miệng thật tốt và ăn ít thực phẩm có đường để
pḥng ngừa sâu răng. Kết quả có cao
hơn so với báo cáo của Ernesto Smyth(6) với 80%
học sinh cho rằng vệ sinh răng miệng tốt và 66% học sinh biết
được ăn ít đường sẽ
tránh được bệnh sâu răng. Nhưng khi so sánh kết quả hiểu biết về việc
sử dụng flour và khám răng định kỳ
như là một yếu tố pḥng ngừa th́ tỉ lệ
này có thấp hơn đôi chút so với nghiên cứu của Smyth. Thực tế,
rất ít người có thói quen kiểm tra sức khỏe
định kỳ nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng và một phần có thể do
sự thiếu kiến thức về tầm quan trọng
của việc khám răng định kỳ
như đă đề cập ở
phần trên. Một bệnh nhân bị sâu răng thường chỉ đến nha sĩ khi
sang thương trên răng đă phát triển rộng,
gây đau đớn. Bệnh sâu răng rất khó phát hiện bằng mắt thường
khi đang ở giai đoạn sâu men(14), chỉ khi đến khám răng, nha sĩ mới phát hiện, xử trí kịp thời.
Có thể do hạn chế trong việc hiểu biết về
chất flour cho nên số học sinh chọn việc bổ
sung flour như là một cách để pḥng ngừa sâu
răng chiếm tỉ lệ thấp hơn so với các yếu tố c̣n lại (36%).
Kiến
thức về dấu hiệu viêm nướu
Viêm
nướu răng là giai đoạn đầu của bệnh nha chu(3). Việc phát hiện bệnh sớm
sẽ giúp cho công tác điều trị dễ dàng
hơn, giảm thiểu được những hậu
quả nặng nề khi bệnh chuyền sang giai đoạn viêm nha chu. Nội dung mà chúng tôi khảo
sát được chọn từ tài liệu giáo dục sức
khỏe cho lớp bốn của chương tŕnh Nha học đường. Thế nhưng, theo kết quả nghiên cứu, có đến 41%
hoàn toàn không biết về dấu hiệu của nướu
răng bị bệnh. Ở Việt
Thái
độ về vệ sinh răng miệng
Nghiên
cứu chú trọng đến thái độ với tầm
quan trọng của việc chải răng hàng ngày và thái độ với rào cản
khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cụ thể là khám răng định kỳ.
Thái
độ về chải răng
Số
học sinh được hỏi có thái độ tốt về
chải răng chiếm 94%. Điều này sẽ tạo rất nhiều thuận
lợi cho các chương tŕnh giáo dục sức khỏe
răng miệng, bởi học sinh đă sẵn có ư thức nên chỉ cần chú trọng
đến việc nâng cao kiến thức và kĩ năng vệ sinh răng miệng là đủ.
Thái
độ về khám răng định kỳ
Kết quả nghiên cứu cho thấy 22% dân số mẫu cho rằng khám răng định kỳ sẽ tốn tiền vô ích nếu như bản thân không có bệnh. Nguyên nhân có thể là do ư thức “pḥng bệnh hơn chữa bệnh” vẫn chưa thật sự phổ biến ở một số bộ phận dân cư. Hơn nữa, hệ thống nha khoa pḥng ngừa tại địa phương hoạt động c̣n rất hạn chế. Với mức thu nhập hạn hẹp của người dân nông thôn th́ phần chi phí dành cho chăm sóc y tế cụ thể hơn là khám răng định ḱ tất nhiên cũng có phần giới hạn. Thông qua việc đánh giá hai thái độ trên, một vấn đề mà hệ thống nha khoa pḥng ngừa tại địa phương cần được chú ư trên cả hai lĩnh vực chuyên môn và tuyên truyền, cần giáo dục cho học sinh nói riêng và đại bộ phận dân chúng nói chung về tầm quan trọng của răng miệng cũng như là các hậu quả của bệnh răng miệng có thể mang lại.
Thực
hành về chải răng
Như đă tŕnh bày ở phần kiến thức, sự hiểu biết
của học sinh về phương pháp Bass rất hạn chế, có lẽ
như vậy
mà tỉ lệ học sinh thực hành đúng về chải răng vẫn c̣n thấp và thấp
hơn so với một vài nghiên cứu đă tiến hành trước đó. Kết quả khảo
sát của Vũ Thị Thúy Hồng
cho thấy tỉ lệ này ở học sinh 12 tuổi tại
thành phố Hồ Chí Minh là 15%(18). Nghiên cứu của Ling Zhu ở học
sinh 12 tuổi vùng nông thôn Trung Quốc cũng cho
kết quả cao
hơn (44%).
Phương pháp Bass không khó nhưng đ̣i hỏi tập trung và khéo léo của người
làm. Trong khi đó, những phương pháp chà ngang hay Roll lại
được cộng đồng dễ chấp nhận
do dễ thực hiện và được phổ biến
trước phương pháp Bass rất nhiều năm(7,12,17). Về số lần chải răng, số học sinh cho biết
chải răng từ hai lần trở lên trong ngày chiếm
83%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đức
Duy khi khảo sát ở học sinh THCS tại thành phố Hồ
Chí Minh (95%)(7). Với thành phố Hồ Chí Minh,
hệ thống y tế và việc tiếp cận các thông
tin khá phát triển, điều này góp phần nâng cao ư thức chăm sóc răng miệng của người dân. Bản
thân học sinh ư thức được phải chải
răng thường
xuyên cùng với sự nhắc nhở của mọi người
xung quanh, đă dần nâng tần suất chải răng của đại bộ phận
học sinh tại thành phố cao hơn so với nơi khác.
Về thời
điểm
chải răng trong ngày, đa số các em có thực hành chải răng vào
buổi sáng sau khi
thức dậy. Với những học sinh chải răng từ hai lần trở lên
trong ngày th́ có thực hành vào buổi tối và buổi sáng
sau khi thức dậy. Bên cạnh mục tiêu mô tả về
thời điểm
chải răng chúng tôi c̣n sử dụng thông tin biến
số này như một cách để kiểm tra độ chính xác của
tỉ lệ đáp ứng với số lần chải răng
trong ngày của học
sinh.
Thực
hành về khám răng định kỳ
Tỉ lệ học sinh có khám răng định kỳ hàng năm là 20% có thấp hơn so với kết quả
nghiên cứu của Cao Thị Kim Hoa (62%)(2). Sự khác biệt này có thể giải
thích bởi đối với học sinh THCS, khi tiếp cận
với các dịch vụ chăm sóc răng miệng phải chi trả hoàn toàn chi
phí. Tại địa phương, thành phần lao động đông nhất là nghề nông(12), thu nhập thấp hơn so với mức trung b́nh
chung tại thành phố Hồ Chí Minh, gia đ́nh có điều kiện để quan tâm, chăm sóc đến sức khỏe
nói chung trong đó có răng miệng của các em học sinh hơn.
Thực hành dùng các loại thực phẩm
có đường, axit giữa các bữa ăn chính
Thói quen sử dụng các loại thức
ăn, thức
uống có đường và axit giữa các bữa ăn chính
là tương đối phổ biến.
Hiện nay, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế là sự
phát triển ồ ạt của ngành công nghiệp thực
phẩm, bánh ngọt, nước giải khát có đường(11), dự báo số lượng
đường tiêu thụ trên đầu người
đang không ngừng
gia tăng. Các nhà quản
lư trong lĩnh vực
giáo dục và y tế cần có ngay những chiến lược
nhằm bảo vệ sức khỏe răng miệng của các em học
sinh trước t́nh trạng các thực phẩm này xâm nhập
vào trường học.
Mối liên quan giữa kiến thức
về chải răng và đặc điểm dân số xă
hội
Ở nhóm học
sinh có học lực cao, tỉ lệ có kiến thức đúng về chải răng cũng cao hơn so với nhóm có học lực thấp. Điều này có thể giải thích bởi những
học sinh có học lực cao thường có ư thức
chăm sóc sức khỏe bản thân tốt hơn các học sinh học kém. Với những kiến
thức không bắt buộc tại trường học
như vệ sinh răng miệng th́ những
học sinh có học lực tốt thường có cơ hội tiếp cận và tiếp thu nhiều
hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan có ư nghĩa thống
kê giữa kiến thức chải răng với khối lớp. Tỉ lệ học
sinh có kiến thức đúng về chải
răng ở khối tám được chỉ ra là
thấp hơn so với các khối lớp
khác. Điều này có thể được giải
thích bởi sự phân bố về học lực ở các
khối lớp không đồng đều (số liệu
không công bố).
Mối
liên quan giữa kiến thức về khám răng định
kỳ và các đặc điểm dân số xă hội
Học
sinh khá giỏi thật sự có kiến thức về vệ
sinh răng
miệng tốt hơn so với các học sinh có học lực kém
hơn. V́ vậy, trong những chương tŕnh giáo dục sức khỏe với đối
tượng là những em học sinh học lực trung
b́nh kém cần được hướng dẫn kĩ càng hơn. Nghiên cứu t́m ra mối
liên quan giữa tŕnh độ học vấn của mẹ
với kiến thức khám răng định kỳ
của học sinh. Ở những bà mẹ có tŕnh độ
thấp, lượng kiến thức sẵn có và việc
tiếp nhận những thông tin mới về chăm sóc sức khỏe nói chung và răng miệng nói riêng có phần hạn chế
hơn các bà
mẹ có tŕnh độ cao hơn. Và điều tất nhiên, học
sinh có mẹ với tŕnh độ văn hóa càng cao sẽ có kiến thức về khám răng định kỳ càng tốt.
Mối
liên quan giữa thái độ về khám răng định
kỳ và các đặc điểm dân số xă hội
Thái độ
về khám răng định kỳ có mối
liên quan đến đặc tính giới tính. Sự chênh lệch
về tỉ lệ thái độ tốt ở hai nhóm nam và
nữ không nhiều, có thể do cỡ mẫu nghiên cứu
chưa đủ lớn. Nghiên cứu cũng t́m thấy sự khác biệt về tỉ lệ
thái độ tốt về khám răng định kỳ ở các khối lớp.
Khối lớp sáu và lớp chín th́ tỷ lệ học sinh
có thái độ tốt cao hơn so với hai khối
lớp c̣n lại, có thể là do khối lớp sáu là nhóm học
sinh vừa hoàn thành chương tŕnh Nha học
đường, vẫn c̣n chịu tác động bởi
giá trị nhận thức do chương tŕnh đem lại.
Mối
liên quan giữa thực hành về chải răng và đặc
điểm dân số xă hội
Một lần nữa cho thấy ảnh
hưởng mạnh mẽ của cha mẹ đến hành
vi con trẻ. Gia đ́nh là tác nhân chủ yếu
ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe của
con trẻ. Một vài nghiên cứu đă chứng minh: với lứa tuổi thanh thiếu
niên, khả năng ảnh hưởng
đến hành vi chăm sóc sức khỏe của
con nhiều hơn nếu bố mẹ
đều tự biết chăm sóc cho họ và ảnh
hưởng này dài trong suốt giai đoạn cuối của tuổi thanh niên(12). Tỉ lệ học sinh thực
hành đúng
về chải răng thấp và cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn v́ vậy mà ảnh hưởng
đến kết quả phân bố của tỉ lệ.
Nhưng cũng cần lưu ư, với tŕnh độ học vấn của
cha, mẹ ở mức trên cấp ba có tỉ lệ thực
hành chải răng đúng ở con cao hơn hẳn so với
nhóm có tŕnh độ học vấn của cha, mẹ từ
cấp một trở xuống.
Mối
liên quan giữa thực hành về khám răng định kỳ
và các đặc điểm dân số xă hội
Học sinh có học lực càng cao th́ thực
hành khám răng
định kỳ càng tốt. Kiến
thức có tác động không nhỏ đến ư thức của
con người. Những trẻ học tốt thường
có ư thức chăm sóc sức khỏe bản thân tốt
hơn. Cha mẹ có học thức càng cao th́ tỉ
lệ thực hành khám răng định kỳ
của con càng cao. Bên cạnh ư thức chăm sóc răng miệng cho con trẻ,
những cha mẹ có tŕnh độ học vấn cao cũng thường có điều kiện
kinh tế hơn để cho con kiểm
tra răng định kỳ, cũng không loại trừ một số trường hợp
học sinh có cha, mẹ với học thức cao th́ cũng thường có học lực tốt.
Mối liên quan giữa kiến thức
và thực hành về khám răng định kỳ
Nhóm học sinh có kiến thức đúng về khám răng định kỳ
có tỉ lệ thực hành đúng cao hơn so với nhóm có kiến thức chưa đúng. Nghiên cứu cũng đă xác định không có sự
tương
tác hay gây nhiễu của các đặc
trưng mẫu trong mối liên quan giữa kiến
thức và thực hành khám răng. Nói cách khác,
để nâng cao thực hành khám răng định kỳ cho học sinh, việc giáo
dục cho học sinh biết về thời điểm và mức độ cần thiết của
việc khám răng định kỳ là
hoàn toàn cần thiết.
Mối
liên quan giữa thái độ và thực hành về khám
răng định kỳ
Tỉ
lệ học sinh có thực hành đúng về khám
răng định kỳ ở nhóm có thái độ
tốt cao hơn nhóm có
thái độ chưa
tốt. Như vậy,
để cải thiện thực hành của học sinh về
khám răng định
kỳ, một chương
tŕnh giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh
là một chiến lược cần lưu tâm.
Hai nguồn cung cấp thông tin về vệ sinh răng miệng phổ biến cho học sinh THCS tại thị trấn là nha sĩ (69%) và cha mẹ (67%). Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng về: Chải răng là 8%; chất flour là 18%; pḥng ngừa sâu răng là 18%; dấu hiệu viêm nướu là 51%; khám răng định kỳ là 59%. Tỉ lệ học sinh có thái độ tốt về: Khám răng định kỳ là 77%; chải răng là 94%. Tỉ lệ học sinh có thực hành đúng về: Chải răng là 1%; khám răng định kỳ là 20%; sử dụng thực phẩm có đường giữa các bữa ăn chính là 30%; sử dụng thức uống có đường giữa các bữa ăn chính là 52%; sử dụng thức uống có axit giữa các bữa ăn chính là 75%.
Mối liên quan giữa kiến
thức, thái độ và thực hành về vệ sinh
răng miệng với đặc điểm dân số xă hội
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa kiến thức chải răng với học lực (p=0,001) và khối lớp của học sinh (p=0,045).
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa kiến thức về khám răng định kỳ và học lực của học sinh (p=0,017) và tŕnh độ học vấn của mẹ (p=0,003).
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa thái độ về khám răng định kỳ với giới tính (p=0,019) và khối lớp của học sinh (p=0,024).
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa thực hành chải răng với tŕnh độ học vấn của cha (p=0,042) và tŕnh độ học vấn của mẹ (p=0,036).
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa thực hành khám răng định kỳ với học lực của học sinh (p=0,002), tŕnh độ học vấn của cha (p=0,001) và tŕnh độ học vấn của mẹ (p=0,011).
- Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành về vệ sinh răng miệng
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành khám răng định kỳ (p<0,001).
- Có mối liên quan có ư nghĩa thống kê giữa thái độ và thực hành khám răng định kỳ (p=0,013).
1.
Amjad H.W., Arham N.C., Abdullah A.Q., Sari
A.Q., Ziyad A.A.. Oral health knowledge and sources of information among male
secondary school children in
2. Cao Thị Kim Hoa. Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng của học sinh lớp bốn và lớp năm trường tiểu học Nguyễn Chí Thanh quận 10 TP. Hồ Chí Minh. Luận văn cử nhân. Khoa Y Tế Công Cộng, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2006: 27-42.
3. Đào Thị Hồng Quân. Nha khoa pḥng ngừa. Tài liệu lưu hành nội bộ, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 1999: 22-35, 51-59, 122-134.
4. Đào Thị Hồng Quân. Xă hội học và sức khỏe răng miệng. Trong: Nha khoa công cộng- tập 2. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 1999: 144-145.
5.
Điều
tra sức khỏe răng
miệng Việt
7. Lê Thị Kim Oanh. Khảo sát kiến thức và t́nh trạng vệ sinh răng miệng của học sinh tiểu học Long An. Luận văn thạc sĩ y học. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2002: 37-45.
8. Ngô Đồng Khanh. Điều tra sức khỏe răng miệng. Viện Răng Hàm Mặt TP. Hồ Chí Minh, 1997: 14-29.
9. Nguyễn Đức Duy. Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe răng miệng của học sinh THCS tại quận hai, quận sáu TP. Hồ Chí Minh. Luận văn cử nhân. Khoa Y Tế Công Cộng, Đại Học Y Dược TP.HCM, 2005: 13-26.
10. Nguyễn Thị Thảo. Thói quen dinh dưỡng và chăm sóc răng miệng liên quan đến nguy cơ sâu răng ở học sinh 12 tuổi. Tiểu luận tốt nghiệp bác sĩ. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2005: 34-37.
11.
Nguyễn Thị Tịnh, Ngô Đồng
Khanh. Chọn lựa phương pháp chải răng
thích hợp cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo và cấp
một ở Việt
12. Nguyễn Thị Phương Uyên. Khảo sát t́nh trạng mảng bám của phương pháp hướng dẫn chải răng tích cực trên học sinh tiểu học. Tiểu luận tốt nghiệp bác sĩ. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2003: 45-54.
13. Nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/FAO. Các khuyến nghị về dự pḥng các bệnh về răng. Chế độ ăn, dinh dưỡng và dự pḥng các bệnh măn tính, 2003, 916: 123-148.
14. Trần Thúy Nga, Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng, Đặng Thị Nhân Ḥa. Nha khoa trẻ em. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh: NXB Y học, 2001: 156-179, 389-425.
15. Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh, Báo cáo tổng kết về t́nh h́nh kinh tế, văn hóa, xă hội huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Ḥa, năm 2007.
16. Viện Răng Hàm Mặt TP. Hồ Chí Minh. Nha khoa công cộng. Kỷ yếu công tŕnh khoa học 1994-2000, 2000: 9-16.
17. Vũ Thị Kiều Diễm. Đánh giá hiệu quả chải răng có theo dơi trên t́nh trạng vệ sinh răng miệng của học sinh một trường tiểu học tại thành phố HCM. Luận văn thạc sĩ y học. Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2005: 60-67.
18. Vũ Thị Thúy Hồng, Huỳnh Anh Lan, Vơ Đắc Tuyến. T́nh trạng mảng bám răng ở học sinh 12 tuổi. Tuyển tập công tŕnh nghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2008. NXB Y Học:74-80.