Trần Thị Cẩm Nguyên*, Nguyễn Đỗ Nguyên**
Đặt vấn đề: Những nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự
tham gia của học sinh vào những hoạt động kiểm
soát muỗi trong pḥng chống sốt xuất huyết dengue
mang lại những kết quả khích lệ. Để
chuẩn bị cho những chương tŕnh can thiệp cộng
đồng tại B́nh Dương với sự tham gia của
học sinh, một chương tŕnh giáo dục sức khỏe
được triển khai nhằm nâng cao kiến thức,
thái độ, và thực hành của học sinh cấp 2 về
pḥng chống sốt xuất huyết dengue.
Mục
tiêu: Xác định
tỉ lệ học sinh cấp 2 có kiến thức, thái
độ, và thực hành đúng về pḥng chống sốt
xuất huyết dengue trước và sau khi giáo dục sức
khỏe.
Phương
pháp: Một nghiên cứu can thiệp
được tiến hành trên 650 học sinh trường
trung học cơ sở Chánh Nghĩa tại thị xă Thủ
Dầu Một tỉnh B́nh Dương. Học sinh
được tập huấn về những thông tin đại
cương về bệnh sốt xuất huyết dengue,
các triệu chứng cơ bản, biểu hiện trở
nặng của bệnh, và các biện pháp pḥng bệnh, bằng
phương pháp thuyết giảng tại lớp học với
sự trợ giúp của các phương tiện nghe nh́n, và
thảo luận nhóm. Kiến thức, thái độ, và thực
hành của học sinh được đánh giá truớc và
2 tuần sau can thiệp bằng cùng một bộ câu hỏi tự
điền. Tỉ lệ kiến thức, thái độ,
và thực hành trước và sau giáo dục sức khỏe
được so sánh bằng phép kiểm Mc Nemar.
Kết
quả: Trừ kiến
thức về trung gian truyền bệnh là muỗi vằn,
tất cả các kiến thức sau giáo dục sức khỏe
đều tăng có ư nghĩa thống kê. Tăng cao nhất
là kiến thức về tác nhân gây bệnh, rồi đến
các biện pháp pḥng bệnh và kiến thức về các biện
pháp diệt lăng quăng. Sau giáo dục sức khỏe
những thái độ đúng là tăng, và những thái
độ không đúng là giảm so với trước. Học
sinh nhận thức nhiều hơn rằng trong nhà có nhiều
muỗi là do chính ḿnh, và trách nhiệm diệt muỗi và
lăng quăng là của cả nhà nước và người
dân. Biện pháp pḥng bệnh được học sinh
lưạ chọn nhiều trước giáo dục sức
khỏe là những biện pháp xua và diệt muỗi, sau tập
huấn được thay bằng các biện pháp loại
bỏ vật phế thải chứa nước và súc rửa
các vật chưá nước. Tỉ lệ của các thực
hành diệt lăng quăng sau tập huấn là rất cao.
Kết
luận: Nội dung và
phương pháp của chương tŕnh giáo dục sức
khỏe là có hiệu quả dù chưa được
đánh giá dài hạn.
Từ
khoá: sốt xuất huyết dengue, kiến
thức thái độ thực hành, giáo dục sức khoẻ,
học sinh cấp 2
Tran Thi Cam Nguyen, Nguyen Do Nguyen
* Y Hoc TP. Ho Chi
Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1-2010: 169-176

Background: It was seen in some international literatures
that the prevention of dengue hemorragic fever was more effective with the
participation of schoolchildren. In preparing for community intervention
programs with the participation of schoolchildren at Binh Duong province, a
health education program was launched to strengthen the knowledge, attitudes,
and practices concerning dengue hemorragic fever of junior high schoolchildren.
Objectives: To
determine the proportions of junior high schoolchlidren having correct
knowledge, attitudes, and practices in dengue hemorragic fever prevention,
before and after health education.
Methods: An intervention study was conducted among 650
children at Chinh Nghia junior high school at Thi Dau Mot
Results: All but the knowledge of “aedes aegypti is the
vector” were significantly increased after education. The highest proportion
was knowledge of virus as causative agent, and followed by the knowledge of
preventive and larva control measures. After education, the correct attitudes
were increased while the incorrect ones were decreased. More children
recognized that they themselves caused “a house plenty of mosquitoes”, and both
people and the government were jointly responsible for mosquito control. After
education, there was a shift in choosing of preventive measures from repellents
and mosquito spray to cleaning water containers and eradication of disposed
objects. The proportions of mosquito control practices were significantly
increased after education.
Conclusions: The contents and the teaching
methods of the health education program were proved effective, even though with
just a short term evaluation.
Key words: dengue
hemorragic fever, knowledge attitudes practices, health education, junior high
school children
Trọng tâm của
công tác pḥng chống sốt xuất huyết dengue (SXHD) là kiểm
soát những nơi muỗi có thể đẻ trứng,
trong đó, đẩy mạnh những hành vi mà người
dân có thể thực hiện tại nhà như đậy nắp,
súc rửa thường xuyên vật chưá nước, và
loại bỏ những vật phế thải có thể
chưá nước. Sự tham gia của cộng đồng
trong việc thực hiện những hành vi này thường
là rất thấp(6),(7),
với một trong những nguyên nhân là những hành vi nói
trên đ̣i hỏi công sức và thời gian.
Nghiên cứu ở Honduras đưa việc giảng dạy
về bệnh SXHD và muỗi vằn vào trường học
và nhấn mạnh phương pháp can thiệp giáo dục
hướng tới học sinh là cách làm có hiệu quả
nhằm tăng cường sự hiểu biết cho cha mẹ
học sinh, từ đó đẩy mạnh sự tham gia của
các thành viên trong gia đ́nh vào việc kiểm soát những
nơi muỗi đẻ xung quanh nhà(1). Mô h́nh can thiệp
ở Thái Lan thông qua học sinh cho thấy tỉ lệ mắc
SXHD có giảm ở cả học sinh trong trường và
các nhóm tuổi khác(12). Newton G. Madeira nghiên cứu
giáo dục sức khỏe trong trường học như
là một chiến lược để kiểm soát SXHD, kết
quả đă nâng cao kiến thức ở nhóm học sinh
can thiệp, nhưng chỉ số nhà có lăng quăng lại
quá cao(2).
B́nh Dương là một tỉnh
công nghiệp phát triển, tập trung nhiều khu công nghiệp
lớn kéo theo sự h́nh thành của rất nhiều nhà trọ,
dân cư đông đúc, và thói quen trữ nước sinh hoạt
trong lu, khạp là rất phổ biến. Theo báo cáo của
Trung Tâm Y Tế Dự Pḥng tỉnh, vào năm 2008 có 5.257
trường hợp mắc SXHD (tăng gấp 3 lần so
với cùng kỳ năm 2007), và 13 trường hợp tử
vong (số tử vong cao nhất nước). Việc t́m ra
một mô h́nh can thiệp cộng đồng nhằm kiểm
soát trung gian truyền bệnh là rất cấp thiết cho
B́nh Dương. Những nghiên cứu trên thế giới
cho thấy sự tham gia của học sinh vào những hoạt
động kiểm soát muỗi mang lại những kết
quả khích lệ. Để chuẩn bị cho những
chương tŕnh can thiệp với sự tham gia của học
sinh, nghiên cứu này được thực hiện với
mục đích xác định hiệu quả của một
chương tŕnh giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao
kiến thức, thái độ, và thực hành của học
sinh cấp 2 trong pḥng chống SXHD.
Đây là một
nghiên cứu can thiệp trước sau trên một nhóm học
sinh cấp 2 trường trung học cơ sở Chánh
Nghĩa, thị xă Thủ Dầu Một, tỉnh B́nh
Dương. Một nghiên cứu thử trên 20 học sinh
cho thấy các tỉ lệ của kiến thức, thái
độ, và thực hành đúng là 26%, 27%, và 20%,
tương ứng. Để có 95% tin tưởng có 70% học
sinh có kiến thức và thực hành đúng về pḥng chống
SXHD sau khi được giáo dục sức khỏe, với
sai số cho phép là 5% và hệ số hiệu quả thiết
kế là 2 của mẫu cụm cỡ mẫu được
ước lượng là 648 học sinh. Kỹ thuật chọn
mẫu gồm hai bậc, bậc một phân tầng để
tính số học sinh cần chọn cho mỗi khối lớp,
và bậc hai chọn mẫu cụm với cụm là lớp.
Đối tượng nghiên cứu là học sinh đang
theo học tại trường căn cứ theo danh sách của
cán bộ chuyên trách, và bị loại nếu không đồng
ư tham gia.
Nghiên cứu được tiến hành qua ba giai đoạn,
giai đoạn 1 (16/03/09-18/03/09) điều tra ban đầu
về kiến thức, thái độ, và thực hành của
học sinh; giai đoạn 2 (từ 19/03/09-21/03/09) thực
hiện hoạt động giáo dục sức khỏe; và
giai đoạn 3 (từ 06/04/09-10/04/09) khảo sát kiến
thức, thái độ, và thực hành của học sinh sau
can thiệp. Nội dung giáo dục sức khỏe bao gồm
những thông tin đại cương về bệnh SXHD,
các triệu chứng cơ bản, biểu hiện trở
nặng của bệnh, và các biện pháp pḥng bệnh.
Phương pháp giảng là thuyết giảng tại lớp
học với sự trợ giúp của các phương tiện
nghe nh́n, và thảo luận nhóm.
Dữ kiện được thu thập trước và
sau tập huấn với cùng một bộ câu hỏi tự
điền. Kiến thức được khảo sát về
tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh, các biện
pháp pḥng bệnh, các biện pháp diệt lăng quăng, những
biểu hiện cơ bản và những biểu hiện
khi bệnh trở nặng. Kiến thức đúng về
tác nhân gây bệnh là “do vi-rút”. Kiến thức đúng về
trung gian truyền bệnh bao gồm biết muỗi vằn
truyền SXHD, biết muỗi vằn thường đốt
vào lúc sáng sớm và chiều tối, biết nơi muỗi
đẻ (biết đúng cả 3 nơi muỗi đẻ
là vật phế thải chứa nước quanh nhà, b́nh
bông, chén chống kiến dưới chân tủ thức
ăn, dụng cụ chứa nước trong nhà không đậy
nắp). Học sinh có kiến thức đúng về các biện
pháp pḥng SXHD khi biết đúng cả 4 biện pháp diệt
muỗi, diệt lăng quăng, pḥng ngừa muỗi đốt,
và loại bỏ nơi muỗi đậu. Kiến thức
về các biện pháp diệt lăng quăng là đúng khi học
sinh biết cả 6 biện pháp bỏ muối, đổ dầu vào chén chống kiến;
thả cá bảy màu vào vật chưá nước sinh hoạt;
dẹp bỏ vật phế thải có thể chứa
nước; dùng vợt vớt lăng quăng; súc rửa dụng
cụ chứa nước; và đậy nắp vật chứa
nước sinh hoạt. Kiến thức về biểu
hiện cơ bản của bệnh là đúng khi học
sinh biết đúng cả bốn biểu hiện của bệnh
SXH là nhức đầu, chảy máu cam, sốt cao liên tục
trên 2 ngày, và đốm xuất huyết dưới da. Kiến
thức về biểu hiện trở nặng của bệnh
SXHD là đúng khi học sinh biết cả 3 biểu hiện
ói ra máu, tiêu phân đen; đau bụng nhiều; bức rức,
lừ đừ, tay chân lạnh. Kiến thức được
đánh giá chung với hai loại kiến thức là kiến
thức chung về kiểm soát lăng quăng và kiến thức
chung về SXHD. Kiến thức chung về kiểm soát
lăng quăng là đúng khi học sinh có kiến thức
đúng về trung gian truyền bệnh, loại muỗi
truyền bệnh, nơi muỗi đẻ, và các biện
pháp diệt lăng quăng.
Kiến thức chung về SXHD là đúng khi tất cả
các kiến thức là đúng.
Các thái độ được khảo sát bao gồm sự
suy nghĩ của học sinh về lư do có muỗi trong nhà
(do chính ḿnh, do hàng xóm, do tự nhiên), ai là người có
trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng (đúng là
“do người dân” hoặc “do nhà nước và người
dân”), và sự lưạ chọn một biện pháp pḥng
SXHD. Các thực hành được khảo sát là kiểm
soát chỗ muỗi đẻ và thực hành diệt lăng
quăng. Thực hành kểm soát chỗ muỗi đẻ bao
gồm đậy nắp vật chứa nước sinh hoạt,
súc rửa vật chứa nước sinh hoạt và các vật
chưá nước khác như b́nh bông (đúng khi hai lần
súc rửa cách nhau không quá một tuần). Thực hành diệt
lăng quăng gồm bỏ muối hoặc đổ dầu
vào chén chống kiến dưới chân tủ thức
ăn, dẹp bỏ vật phế thải có thể chứa
nước. Thực hành chung về kiểm soát lăng
quăng là đúng khi các thực hành kiểm soát chỗ muỗi
đẻ và thực hành diệt lăng quang là đúng. Hai
loại thực hành khác cũng được khảo sát
là thực hành ngủ mùng (đúng khi ngủ mùng cả ban
ngày và ban đêm), và sử dụng những biện pháp xua
diệt muỗi (nhang muỗi,
thuốc xịt muỗi, thoa thuốc trừ muỗi, và mặc
quần dài áo dài tay vào giờ cao điểm muỗi đốt).
Những biến số nền của đối tượng
nghiên cứu gồm giới tính, tŕnh độ học vấn,
và dân tộc.
Dữ kiện được phân tích bằng phần mềm
STATA 10. Số thống kê mô tả gồm tần số và
phần trăm. So sánh tỉ lệ kiến thức, thái
độ, và thực hành trước và sau giáo dục sức
khỏe bằng phép kiểm Mc Nemar. Đề cương
nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng
Khoa học của Khoa Y tế Công cộng Đại học
Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, sự chấp thuận
của Trung tâm Truyền Thông giáo dục sức khỏe tỉnh
B́nh Dương, và trường trung học cơ sở
Chánh Nghĩa thuộc thị xă Thủ Dầu Một tỉnh
B́nh Dương.
Bảng
1. Đặc tính của mẫu nghiên cứu,
tần số và (%) (N=648)
|
Đặc tính |
|
|
|
Giới |
|
372 (57) |
|
Nữ |
276 (43) |
|
|
Dân tộc |
Kinh |
638 (99) |
|
Khác |
9 (1) |
|
|
Tŕnh độ học
vấn |
Lớp 6 |
175 (27) |
|
Lớp 7 |
221 (34) |
|
|
Lớp 8 |
123 (19) |
|
|
Lớp 9 |
129 (20) |
|
Bảng 2. Kiến thức
của học sinh trước và sau tập huấn, tần
số và (%) (N = 648)
|
Kiến thức |
Trước |
Sau |
p |
|
Biết tác nhân gây bệnh
là vi-rút |
160 (25) |
533 (82) |
<0,001 |
|
Biết trung gian truyền
bệnh là muỗi |
648 (100) |
648 (100) |
1 |
|
Biết muỗi truyền
bệnh là muỗi vằn |
636 (98) |
642 (99) |
0,15 |
|
Muỗi vằn thường
đốt vào lúc sáng sớm và chiều tối |
95 (15) |
324 (50) |
<0,001 |
|
Biết những
nơi muỗi đẻ |
100 (15) |
266 (41) |
<0,001 |
|
Biết các biện
pháp pḥng bệnh |
75 (16) |
392 (60) |
<0,001 |
|
Biết các biện
pháp diệt lăng quăng |
94 (15) |
425 (66) |
<0,001 |
|
Biết những biểu
hiện cơ bản của bệnh |
45 (7) |
202 (31) |
<0,001 |
|
Biết những biểu
hiện trở nặng của bệnh |
75 (16) |
221 (34) |
<0,001 |
|
Kiến thức chung về
kiểm soát lăng quăng |
17
(3) |
180
(28) |
<0,001 |
|
Kiến thức chung về
SXHD |
0 (0) |
11 (1,7) |
<0,01 |
Bảng 3. Thái độ của
học sinh trước và sau tập huấn, tần số
và (%), (N = 648)
|
Thái độ |
Trước |
Sau |
p |
|
Trong nhà có muỗi là do |
|
|
|
|
Chính ḿnh |
238 (37) |
512 (79) |
<0,001 |
|
Hàng xóm |
145 (22) |
75 (12) |
<0,001 |
|
Tự nhiên |
258 (40) |
60 (9) |
<0,001 |
|
Diệt muỗi và
lăng quăng là trách nhiệm của |
|
||
|
Nhà nước |
215 (33) |
92 (14) |
<0,001 |
|
Người dân |
303 (47) |
172 (27) |
<0,001 |
|
Nhà nước và
người dân |
128 (20) |
384 (59) |
<0,001 |
|
Đễ pḥng bệnh,
chọn biện pháp nào |
|
||
|
Đề nghị y tế
phun thuốc |
179 (28) |
52 (8) |
<0,001 |
|
Dùng b́nh xịt muỗi |
166 (26) |
82 (12) |
<0,001 |
|
Dùng nhang muỗi |
144 (22) |
51 (8) |
<0,001 |
|
Súc rửa vật
chưá nước |
84 (13) |
204 (31) |
<0,001 |
|
Loại bỏ vật
phế thải chứa nước |
75 (11) |
259 (40) |
<0,001 |
Bảng 4. Thực hành kiểm soát lăng quăng trước và sau tập huấn, tần số và (%)
|
Thực hành |
Trước |
Sau |
p |
|
Đậy nắp
vật chứa nước sinh hoạt (N=571) |
280
(48) |
316
(55) |
<0,001 |
|
Súc rửa vật chứa
nước (N=568) |
64 (14) |
128 (23) |
<0,001 |
|
Dẹp bỏ vật
phế thải (N=648) |
199 (31) |
327 (50) |
<0,001 |
|
Xử lư vật dụng
khác (b́nh bông, chén chống, v.v.) (N=648) |
80 (12) |
172 (27) |
<0,001 |
|
Thực hành diệt
lăng quăng |
|
|
|
|
Bỏ muối, đổ dầu
(N=648) |
366 (56) |
583 (90) |
<0,001 |
|
Thả cá bảy màu
(N=648) |
391 (60) |
567 (88) |
<0,001 |
|
Thu gom, hủy các vật chứa
nước (N=648) |
275 (42) |
590 (91) |
<0,001 |
|
Dùng vợt vớt lăng
quăng (N=648) |
174 (27) |
432 (67) |
<0,001 |
|
Thực hành chung về
kiểm soát lăng quăng (N=567) |
1 (2) |
26 (5) |
<0,001 |
|
Có ngủ mùng |
635 (98) |
635 (98) |
1 |
|
Ngủ mùng đúng |
15 (2) |
32 (5) |
<0,01 |
|
Nhang muỗi, thuốc
xịt muỗi |
586 (90) |
614 (95) |
<0,01 |
|
Thoa thuốc trừ muỗi |
569 (88) |
579 (89) |
0,4 |
|
Mặc quần dài, áo
dài tay vào giờ cao điểm muỗi đốt |
171 (26) |
398 (61) |
<0,001 |
Đa số học sinh là nữ, hầu hết là dân tộc Kinh, và khối lớp 7 có tỉ lệ cao nhất (Bảng 1). Trừ kiến thức về trung gian truyền bệnh là muỗi và là muỗi vằn, tất cả các kiến thức sau giáo dục sức khỏe đều tăng có ư nghĩa thống kê (Bảng 2). Tăng cao nhất là kiến thức về tác nhân gây bệnh, rồi đến các biện pháp pḥng bệnh và kiến thức về các biện pháp diệt lăng quăng. Sau giáo dục sức khỏe những thái độ đúng là tăng, và những thái độ không đúng là giảm so với trước (Bảng 3). Có 79% học sinh nhận thức rằng trong nhà có nhiều muỗi là do chính ḿnh, trong khi đó chỉ c̣n 9% cho rằng do tự nhiên, so với trước tập huấn là 37% và 40%, tương ứng. Về trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng, trước tập huấn có 47% học sinh cho là trách nhiệm của người dân, sau tập huấn tỉ lệ này giảm c̣n 27%; và tỉ lệ học sinh cho rằng là trách nhiệm của cả nhà nước và người dân đă tăng từ 20% lên 59%. Biện pháp pḥng bệnh được học sinh lưạ chọn nhiều trước giáo dục sức khỏe, theo thứ tự là đề nghị y tế phun thuốc, dùng b́nh xịt muỗi, và nhang muỗi. Sau tập huấn, tỉ lệ lựa chọn các biện pháp này giảm đáng kể, và thay vào đó là các biện pháp loại bỏ vật phế thải chứa nước và súc rửa vật chưá nước (vật chưá nước sinh hoạt và các vật chưá nước khác).
Thực hành kiểm soát chỗ muỗi đẻ nhiều nhất là đậy nắp vật chưá nước sinh hoạt và dẹp bỏ các vật phế thải có thể chưá nước (Bảng 4). Tỷ lệ của các thực hành diệt lăng quăng sau tập huấn là rất cao, trừ biện pháp vớt lăng quang bằng vợt. Thực hành chung về kiểm soát lăng quăng, gồm hai thực hành kiểm soát chỗ muỗi đẻ và diệt lăng quăng, tăng từ 2% trước tập huấn lên 5% sau tập huấn. Thực hành ngủ mùng là không đổi, nhưng tỉ lệ ngủ mùng đúng sau tập huấn là cao hơn trước có ư nghĩa thống kê. Tỷ lệ thoa thuốc trừ muỗi là không đổi. Thực hành sử dụng nhang, thuốc xịt muỗi, và mặc quần dài áo dài tay vào giờ cao điểm là có tăng.
Những đặc tính của mẫu nghiên cứu cho thấy mẫu đại diện cho tập thể học sinh trường trung học cơ sở Chánh Nghĩa, đặc biệt là sự phân bố học sinh theo khối lớp của trường. Tỉ lệ dân tộc Kinh rất cao là phù hợp với đặc tính của dân số chung tại thị xă Thủ Dầu Một.
Trước giáo dục sức khỏe, trừ kiến thức về trung gian truyền bệnh là muỗi vằn, học sinh có kiến thức rất kém về những đặc tính sinh hoạt của muỗi cũng như những biểu hiện của bệnh SXHD. Hầu hết học sinh đều biết muỗi vằn là trung gian truyền bệnh; đây là do hiệu qủa của những chương tŕnh truyền thông đại chúng trên báo đài trong nhiều năm qua với những khẩu hiệu như “không có muỗi không có sốt xuất huyết”. Bên cạnh đó, cũng như mọi người, học sinh có thể trải nghiệm qua sự tiếp xúc hàng ngày với muỗi. Tỉ lệ kiến thức đúng về nơi muỗi đẻ là phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Yến trên dân số chung của thị xă Thủ Dầu Một năm 2008(9), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Công Thủy Tiên ở những bà mẹ có con dưới 10 tuổi tại thị trấn Lái Thiêu, Thuận An, B́nh Dương năm 2004(11). Những bà mẹ có con dưới 10 tuổi có thể có ư thức t́m hiểu nhiều hơn để pḥng bệnh cho con của ḿnh. Tỉ lệ kiến thức chung đúng là 0%, điều này có thể do định nghĩa quá chặc, đ̣i hỏi học sinh phải đúng tất cả các kiến thức. Các kết quả này đều thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Công Thủy Tiên, sự chênh lệch này có thể v́ những lư do là: thứ nhất, đối tượng nghiên cứu khác nhau; thứ nh́, cách định nghĩa biến số của hai nghiên cứu khác nhau; và thứ ba là do khác nhau về địa điểm khảo sát, tỉ lệ mắc và chết của SXHD tại Thuận An cao nhất so với các huyện, thị xă khác của B́nh Dương nên công tác pḥng chống bệnh được chú ư đẩy mạnh hơn ở nơi này.
Trừ kiến thức về trung gian truyền bệnh là muỗi và là muỗi vằn, tất cả các kiến thức sau giáo dục sức khỏe đều tăng có ư nghĩa thống kê, và tăng cao nhất là kiến thức về tác nhân gây bệnh. Học sinh có thể quan tâm nhiều đến tác nhân gây bệnh là vi-rút v́ đây là lần đầu tiên các em được giải thích cặn kẽ về một tác nhân gây bệnh không phải là vi trùng. Kiến thức về biểu hiện của bệnh tăng không cao bằng các kiến thức về biện pháp pḥng bệnh và các biện pháp kiểm soát lăng quăng. Các biện pháp diệt lăng quăng liên quan đến những vật chứa nước và vật phế thải là những vật mà các em thuờng xuyên tiếp xúc, trong khi đó khả năng chứng kiến những biểu hiện của bệnh là hiếm nếu trong gia đ́nh các em chưa có người mắc bệnh.
Trước giáo dục sức khỏe, khoảng 40% học sinh cho rằng trong nhà ḿnh có muỗi là do chính ḿnh hoặc do tự nhiên, trong khi chỉ có 22% cho là do hàng xóm. Kết quả này rất phù hợp với nghiên cứu trên dân số chung ở Thủ Dầu Một năm 2008, với 78% người dân cho rằng muỗi nhiều là do chính ḿnh, và chỉ có 19% cho là do hàng xóm(8). Tỉ lệ thái độ cho rằng do chính ḿnh đă tăng đáng kể sau giáo dục sức khỏe, trong khi tỉ lệ cho rằng do tự nhiên đă giảm chỉ c̣n 9%. Đây là một điều rất đáng khích lệ v́ những thái độ đúng sẽ đưa đến những thực hành đúng trong tương lai. Tuy nhiên, sau giáo dục sức khỏe đa số học sinh lại cho rằng trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng là của cả nhà nước và người dân, trong khi tỉ lệ cho rằng là trách nhiệm của người dân lại giảm. Có thể học sinh cho rằng những biện pháp kiểm soát muỗi, trong đó có biện pháp sử dụng hoá chất là phải tùy thuộc vào nguồn lực của y tế chứ người dân chưa thể tự lực được, hoặc những hoạt động kiểm soát lăng quăng và muỗi phải do nhà nước quản lư và điều phối. Những chương tŕnh giáo dục sức khỏe trong tương lai cần nhấn mạnh rằng những biện pháp kiểm soát lăng quăng là những biện pháp mà người dân có thể thực hiện tại phạm vi gia đ́nh với những phương tiện sẵn có.
Sự lựa chọn những biện pháp pḥng bệnh cũng có chuyển đổi rất tích cực từ những biện pháp lệ thuộc vào nhà nước, những biện pháp xua diệt muỗi sang những biện pháp kiểm soát tận gốc những nơi muỗi đẻ. Kết quả này cũng rất giống với kết qủa nghiên cứu của Phạm Thị Yến năm 2008(8), với 62% người dân chọn những biện pháp súc rửa vật chứa và loại bỏ các vật phế thải, và chỉ có 1% đề nghị y tế phun thuốc. Kết quả nghiên cứu một lần nữa củng cố nhận định của Phạm Thị Yến rằng công tác pḥng chống SXHD tại Thủ Dầu Một là có nhiều thuận lợi do những thái độ tích cực của cộng đồng.
Thực hành kiểm soát chỗ muỗi đẻ nhiều nhất là đậy nắp vật chưá nước sinh hoạt và dẹp bỏ các vật phế thải có thể chưá nước. Biện pháp sức rửa dụng cụ chứa nước ít được học sinh thực hiện, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1995-1997(6). Các vật chứa nước như b́nh hoa, chậu chống kiến tủ thức ăn có lẽ là những vật dụng không được quan tâm, tiếp xúc hàng ngày nên tỉ lệ thực hành đúng biện pháp này là rất thấp. Tuy nhiên, tỉ lệ các thực hành diệt lăng quăng sau tập huấn là rất cao, trừ biện pháp vớt lăng quang bằng vợt. Vớt lăng quăng bằng vợt tuy không đ̣i hỏi sức nhưng có thể nhiều công. Tính phức tạp của một biện pháp kiểm soát muỗi và lăng quăng liên quan đến tính chấp nhận thực hiện biện pháp đó, điều này được thể hiện qua tỉ lệ thực hành các biện pháp đậy nắp, súc rửa vật chứa nước là thấp hơn nhiều so với tỉ lệ bỏ muối hoặc đổ dầu vào chén nước chống kiến.
Tỉ lệ ngủ mùng là không đổi v́ đây là một thực hành hàng ngày để chống muỗi đốt của người dân, và trước giáo dục sức khỏe tỉ lệ này cũng đă rất cao. Tuy nhiên, tỉ lệ ngủ mùng đúng (cả ban ngày và ban đêm) sau giáo dục sức khoẻ là tăng có ư nghĩa thống kê. Muỗi Aedes aegypti thích đốt người vào ban ngày đặc biệt là sáng sớm và chiều tối, do đó, ngủ mùng pḥng chống SXHD cần ngủ cả ngày lẫn đêm mới có hiệu quả. Biện pháp thoa thuốc là không tăng nhưng trước khi giáo dục sức khỏe thực hành này có tỉ lệ rất cao, lư do là v́ thuốc thoa xua muỗi là sẵn có trên thị trường và rất tiện dụng. Thực hành sử dụng nhang muỗi có tăng nhưng không nhiều sau giáo dục sức khỏe. Tỉ lệ sử dụng thuốc thoa và nhang muỗi ít tăng sau giáo dục sức khoẻ là hệ quả của sự chuyển đổi tích cực của thái độ. Biện pháp mặc áo dài tay quần dài sau giáo dục sức khỏe cũng tăng đáng kể.
Cỡ mẫu của nghiên cứu là đủ lớn. Bộ câu hỏi đă được thử trước và chỉnh sửa cho phù hợp, việc khảo sát được tiến hành vào những thời điểm thuận lợi, tránh những ngày có tiết kiểm tra để học sinh có thể tham gia thoải mái, do đó, góp phần hạn chế được sai lệch thông tin. Đề tài vẫn c̣n hạn chế là thu thập thông tin về thực hành qua phỏng vấn chứ không quan sát, do đó, có thể xảy ra sai lệch thông tin. Tuy nhiên, sai lệch này có thể nhỏ dựa vào những kết quả rất hợp lư của việc chọn những biện pháp dễ thực hiện như bỏ muối, đổ dầu vào các chén nước chống kiến nhiều hơn những biện pháp đ̣i hỏi công sức như súc rửa các vật chứa nước. Việc đánh giá chỉ hai tuần sau can thiệp cũng chưa thể hiện hết hiệu quả lâu dài của nội dung giáo dục sức khỏe. Ngoài ra, đây là nghiên cứu can thiệp trước sau trên một nhóm, không có nhóm chứng nên chưa thể kết luận chính xác hiệu lực của biện pháp can thiệp.
Sự gia tăng tỉ lệ học sinh có kiến thức, thái độ, và thực hành đúng về pḥng chống bệnh SXHD sau khi giáo dục sức khỏe cho thấy nội dung của chương tŕnh giáo dục sức khỏe là có hiệu quả. Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy những mặt c̣n hạn chế trong kiến thức, thái độ, và thực hành của học sinh. Điều này có thể ứng dụng cho địa phương lập ra những nội dung và kế hoạch phù hợp trong giáo dục sức khỏe đồng thời mở ra một hướng mới trong công tác pḥng chống SXHD dựa vào học sinh, làm cho học sinh có kiến thức, thái độ đúng về bệnh SXHD ngay từ nhỏ. Đây là yếu tố cốt lơi trong h́nh thành hành vi mới ở học sinh.
1.
Avila
Montes GA, Martinez M, Sherman C, Fernandez Cerna E (2004). Evaluation
of an educational module on dengue and Aedes aegypti for schoolchildren in
2.
Bộ Y tế.
Sốt Dengue, sốt Xuất Huyết Dengue. http://www.moh.gov.vn/homebyt/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=202&cat=1679&ID=1839
(06/06/2009).
3.
Lê Thị
Thanh Hương, Nguyễn Công Cừu, Đoàn Văn Phỉ,
Trần Văn Hai. Kiến thức, thái độ, thực
hành về pḥng chống SXH tại xă B́nh Thành, Thanh B́nh, Tỉnh
Đồng Tháp tháng 6 năm 2006. Tạp chí Y Tế Cộng
Cộng 12.2007; Soá 9: (25 - 30).
4.
Lê Thị
Thanh Hương, Nguyễn Công Cừu, Đoàn Văn Phỉ,
Trần Văn Hai. Nâng cao kiến thức, thái độ, thực
hành về pḥng chống SXH tại xă B́nh Thành, Thanh B́nh, Tỉnh
Đồng Tháp từ năm 2006 đến 2008. Tạp chí
Y Tế Cộng Cộng 5.2009; Soá 12: (40 - 45).
5.
Newton G. Madeira, Carlos Alberto Macharelli, José,
Figueiredo Paedras, Maria C.N. Delfino (2002). Education in primary school as a strategy to control dengue. Revista da
Sociedade Brasileira de Medicina tropical. 35(3):221-226.
6.
Nguyễn
Đỗ Nguyên. Kiến thức, thái độ, thực
hành về pḥng chống sốt xuất huyết dengue của
các bà mẹ ở nội thành TP. Hồ chí Minh. Y học TP.
Hồ chí Minh. 1999. 3(2):119-124.
7.
Nguyễn
Đỗ Nguyên. Những nguy cơ hành vi
liên quan đến nhiễm dengue ở trẻ em 0-10 tuổi
tại nội thành TP. Hồ chí Minh. Y học dự pḥng.
1999. V(16):13-18.
8.
Phạm Thị
Yến, Nguyễn Đỗ Nguyên. Thái độ của cộng
đồng dân cư thị xă Thủ Dầu Một tỉnh
B́nh Dương năm 2008. Y học TP.Hồ Chí Minh. 2009; tập
13; phụ bảng 1:(48 - 53)
9.
Phạm Thị
Yến. Kiến thức, thái độ, thực hành về
pḥng chống bệnh SXH của người dân tại thị
xă Thủ Dầu Một tỉnh B́nh Dương năm 2008.
Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp 1,
Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh.
10.
Phạm
Văn Tường, Bùi Văn Chung, Nguyễn Văn An, Phan Ngọc Châu, Nguyễn Thị Ngát, Phùng
Công Chánh. Nghiên cứu tác dụng các biện pháp giáo dục
hành động trong chăm sóc sức khỏe nhân dân tại
hai xă của huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Y Học TP.
Hồ Chí Minh 2006; tập 10; phụ bản số 4: (49 -
54).
11.
Tạ Công
Thủy Tiên (2004). Kiến thức, thái độ, thực
hành của những bà mẹ có con dưới 10 tuổi tại
Thị trấn Lái Thiêu – Thuận An – B́nh Dương năm
2004. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp
1, Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh.
12.
Wangroongsarb
Y (1997). Dengue control through schoolchildren in