Hồ Vân Phụng*, Lê Hồ Phương Trang**
Mục tiêu
của nghiên cứu này: nhằm khảo sát vị trí bờ cắn các răng trước hàm trên
so với bờ môi trên ở tư thế nghỉ của
một mẫu dân số người Việt Nam.
Phương
pháp: 99 sinh viên Đại
Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - có
xương hàm trên phát triển b́nh thường với răng trước b́nh thường về
h́nh thái và giải phẫu - được đo trực tiếp với thước Boley cải tiến. Số liệu được xử lý với phần mềm Stata 10.0.
Kết
quả: cho thấy răng cửa giữa hàm trên lộ nhiều nhất với độ lộ trung bình là 2,78±1,44 mm, kế đến là răng cửa bên: 2,78±1,44 mm,
và sau cùng là răng nanh trên hầu như không lộ với yếu vị bằng
0 mm, độ dao động từ 0 mm đến 2,5 mm.
Kết
luận: có
sự khác biệt có ý nghĩa về độ lộ của các răng trước hàm trên ở người Việt Nam và người Ả-rập Xê-út ở độ
tuổi 20 đến 25. Chúng tôi còn tìm thấy mối liên hệ giữa độ lộ của các răng cửa hàm trên và răng nanh trên. Vì vậy, dựa vào vị trí răng nanh trên có thể xác định được vị trí bờ cắn các răng cửa trên..
Từ khóa: răng trước, bờ môi trên,
tư thế nghỉ, h́nh thái và giải phẫu b́nh thường, độ lộ của các răng cửa hàm trên, răng nanh.
THE EXPOSURE OF ANTERIOR TEETH RELATIVE TO THE BORDER
OF THE UPPER LIP
AT REST POSITION
Ho Van Phung, Le Ho Phuong
Trang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 -
Supplement of No 1 – 2010: 334 - 339
The aim: of this study
was to investigate the exposure of anterior teeth relative to the border of the
upper lip at rest position on a Vietnamese population.
Method: the research was
conducted on ninety nine students of the
Results: showed that the
central upper incisors had the most important visible portion (2.78±1.44mm), followed by the lateral upper
incisors (2.78±1.44mm). The canines were almost invisible (mode = 0mm, ranging from 0 to 0.25mm).
Conclusion: the visible portion of the upper anterior
teeth of Vietnamese-from 20 to 25 years old- significantly differed from that
of Arabians. There was a significant relationship between the exposure of the
incisors and that of the canine. Therefore, in the restoration of anterior
teeth, the position of upper incisors borders could be determined based on the
position of the canine.

Keywords: anterior teeth,
border of the upper lip, morphologically and anatomically normal, portion of the upper anterior teeth, canine.
Với chất lượng
cuộc sống ngày càng nâng cao, thẩm mỹ
đã trở thành một trong những yêu
cầu hàng đầu của bệnh nhân khi
đến các phòng khám nha khoa. Nhiều nghiên
cứu đã khẳng định rằng
vị trí của bờ cắn răng
trước trên so với bờ môi trên ở
tư thế nghỉ hoặc trong quá trình
vận động chức năng là một
yếu tố thẩm mỹ quan trọng(3,4,6,7,8,13,15,19). Nhiều tác giả trên
thế giới đã đề cập đến
vấn đề này(1,2,5,9,10,17,18,20), ở Việt Nam cũng
có một số nghiên cứu nhưng chưa
đưa ra các số liệu đầy đủ(11,12,14,16). Vì vậy, nhằm góp
phần nghiên cứu hình thái học
người Việt Nam và đưa ra một tham
khảo cho việc xác lập vị trí bờ
cắn răng trước trong phục hình
toàn hàm cũng như các phục hồi
thẩm mỹ khác có liên quan đến răng
trước, chúng tôi thực hiện nghiên
cứu với các mục tiêu sau:
Khảo
sát vị trí bờ cắn các răng
trước hàm trên so với bờ môi trên
ở tư thế nghỉ của một mẫu dân số
người Việt ở độ tuổi 19-28.
-
Xác định độ lộ trung bình các
răng trước hàm trên so với bờ
môi trên ở tư thế nghỉ.
-
Xác định sự khác biệt nếu có giữa các số
liệu nam và nữ, giữa bên phải và bên
trái.
-
Xác định mối liên quan giữa chiều
dài môi trên và độ lộ của các
răng trước hàm trên.
-
Bước
đầu đề nghị một cách xác
định vị trí răng trước hàm
trên.
Mẫu nghiên cứu gồm 99 sinh viên Đại
Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, có
khớp cắn Angle I với các răng
trước không sâu, không lung lay, nghiêng lệch hay
bị ăn mòn trầm trọng. Chúng tôi loại
khỏi mẫu nghiên cứu những đối
tượng có xương hàm trên tăng
trưởng không theo hướng bình
thường dựa vào các số liệu
đo đạc trên ảnh nghiêng theo chiều
đứng và chiều trước sau (h́nh 1).

Hình
1:
Các điểm chuẩn và đường vẽ để đánh giá sự tăng trưởng của XHT
Hướng dẫn đối
tượng thiết lập tư thế nghỉ rồi
dùng thước đo Boley đo trực
tiếp độ lộ của răng cửa
giữa trên, cửa bên trên, răng nanh trên,
Độ lộ trung bình của hai răng cửa
giữa hàm trên, chiều dài môi trên.
Độ lộ răng cửa giữa
hàm trên (H1): đo theo
chiều dọc từ điểm giữa rìa
cắn răng cửa giữa hàm trên
đến bờ dưới môi trên (hình 2).
Độ lộ răng cửa bên hàm trên (H2):
đo theo chiều dọc từ
điểm giữa rìa cắn răng
cửa bên hàm trên đến bờ
dưới môi trên (hình 3).
Độ lộ răng nanh trên (H3):
đo theo chiều dọc từ
đỉnh múi răng nanh trên đến bờ
dưới môi trên.
Độ lộ trung bình
của hai răng cửa giữa hàm trên (Hg):
được đo từ điểm
Is (Incision superius: điểm
thấp nhất rìa cắn răng cửa
giữa hàm trên tại vị trí
đường giữa)
đến bờ dưới môi trên nằm trên
đường giữa.
Chiều dài môi trên (Sn-Ls): đo
khoảng cách từ Sn đến Ls (hình 4).
Khi đo, cán của thước đo Boley phải luôn luôn song song với mặt phẳng dọc giữa. Trường hợp môi trên che khuất các răng trước trên, độ lộ được tính là 0mm. Trong trường hợp môi dưới che khuất bờ cắn các răng trước hàm trên, dùng cây đè lưỡi tách nhẹ môi dưới sao cho vừa đủ lộ bờ cắn các răng trước hàm trên mà không làm thay đổi vị trí nghỉ của môi trên.

Hình 4:
Đo chiều dài môi trên
Răng cửa giữa hàm trên lộ nhiều nhất với độ lộ trung bình là 2,78mm; sau đó là răng cửa bên trên (độ lộ trung bình là 1,19mm). Như vậy, nh́n chung ŕa cắn của các răng trước hàm trên nằm thấp về phía dưới hơn so với bờ dưới môi trên.
Bảng 1: Độ lộ trung bình của các răng cửa hàm trên.
|
Kích thước |
X (mm) |
SD (mm) |
CV (%) |
|
Độ lộ
răng cửa giữa trên |
2,78 |
1,44 |
51,80 |
|
Độ lộ
răng cửa bên trên |
1,19 |
0,87 |
73,11 |
Kết quả bước
đầu cho thấy hầu hết răng nanh trên ở
người Việt
Nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy độ lộ
của răng cửa giữa và răng
cửa bên ở nhóm có răng nanh lộ
thì dài hơn ở nhóm có răng nanh
không lộ. Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê ở mức p<0,05
(bảng 2).
Bảng 2:
So sánh độ lộ trung bình của răng cửa giữa hàm trên và răng cửa bên hàm trên theo
hai nhóm răng nanh.
|
Kích thước |
R3 lộ (n= 8) |
R3 không lộ (n= 91) |
z |
p |
Mức khác
biệt |
||
|
X |
SD |
X |
SD |
||||
|
H1 |
3,74 |
1,07 |
2,69 |
1,44 |
-2.055 |
0,040 |
<0,05 |
|
H2 |
2,36 |
0,69 |
1,08 |
0,81 |
-3.529 |
0,000 |
<0,05 |
Mann-Whitney Test
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nữ lộ nhiều răng cửa giữa trên, răng cửa bên trên hơn nam. Điều này có khác biệt với nghiên cứu của Al Wazzan trên 473 người trưởng thành ở Ả-rập Xê-út, tác giả này nhận thấy nam lộ nhiều răng cửa bên hàm trên, răng nanh trên hơn nữ, nữ lộ nhiều răng cửa giữa trên hơn nam (bảng 3).
Bảng 3: Bảng so sánh với kết quả nghiên cứu của Al Wazzan theo giới
|
|
|||||||||||||||
|
Kích thước |
Chúng tôi (n=35) |
Al Wazzan (n=213) |
t |
p |
Mức khác biệt |
||||||||||
|
X |
SD |
X |
SD |
||||||||||||
|
Răng cửa giữa trên |
2,54 |
1,46 |
2,66 |
1,50 |
-0,4394 |
0,6607* |
>0,05 |
||||||||
|
Răng cửa bên trên |
1,05 |
0,86 |
1,89 |
1,35 |
-4,6424 |
0,0000** |
<0,05 |
||||||||
|
NỮ |
|
||||||||||||||
|
Kích thước |
Chúng tôi (n=64) |
Al Wazzan (n=260) |
t |
p |
Mức khác biệt |
|
|||||||||
|
X |
SD |
X |
SD |
|
|||||||||||
|
Răng cửa giữa trên |
2,91 |
1,42 |
2,91 |
1,89 |
0,0000 |
1,0000** |
>0,05 |
|
|||||||
|
Răng cửa bên trên |
1,26 |
0,88 |
1,35 |
1,41 |
-0,6230 |
0,5343** |
>0,05 |
|
|||||||
t test; *phương sai đồng nhất; **
phương sai không đồng nhất.
Theo
giới, độ lộ trung bình của các
răng cửa hàm trên ở nam lẫn
nữ trong nghiên cứu của Al Wazzan đều
lớn hơn nghiên cứu của chúng tôi,
đặc biệt là ở nam độ lộ
của răng cửa bên lớn hơn khá
nhiều. Riêng độ lộ của răng cửa
giữa trên ở nữ th́ bằng nhau
ở cả hai nghiên cứu (= 2,91mm). Sự
khác biệt này phải chăng do trong phương
pháp chọn mẫu của chúng tôi nhằm
vào các đối tượng có
xương hàm trên phát triển bình
thường- tiêu chuẩn mà Al Wazzan không đề cập.
Như vậy,
so với nghiên cứu của Al Wazzan, có sự khác biệt
có ư nghĩa về độ lộ của răng
cửa bên hàm trên, còn độ lộ của
răng cửa giữa thì khác biệt không
có ý nghĩa. Điều này phải chăng là do sự
khác biệt về mặt chủng tộc? Kết quả
nghiên cứu cho thấy người Việt
Độ
dài môi trên (sn-ls) trong nghiên cứu của chúng
tôi dao động từ 9mm đến 17,7mm.
Để tìm mối
tương quan giữa độ lộ răng
cửa trên đo tại đường
giữa với độ dài môi trên, chúng
tôi chia độ dài môi trên thành 3 nhóm theo công thức tứ phân:
-
Môi ngắn:
có chiều dài từ giá trị Min
đến giá trị P25 (9mm- 12mm).
-
Môi trung bình:
có chiều dài từ giá trị sau P25
đến giá trị P75 (12,3mm- 13,5mm).
- Môi dài: có chiều dài từ giá trị sau P75 đến giá trị Max (13,6mm- 17,7mm).
Dù xét ở
nhóm nào: nhóm có độ dài môi trên
chung, nhóm có độ dài môi ngắn, môi
trung bình, môi dài, tương quan giữa độ
lộ răng cửa trên đo tại
đường giữa và độ dài môi
trên là mối tương quan nghịch (R< 0) và
tương quan này không mạnh do hệ số
tương quan /R/ <0,5. Như vậy
có thể kết luận là không có mối tương quan có
ư nghĩa thống kê giữa độ lộ răng
cửa trên đo tại đường
giữa và độ dài môi trên (bảng 4).
Bảng 4: Tương quan
giữa độ lộ răng cửa trên đo
tại đường giữa và độ dài môi trên
|
|
Độ dài môi trên chung (Sn- Ls) |
Môi ngắn |
Môi trung bình |
Môi dài |
|
Hg |
-0,213 |
-0,092 |
-0,297 |
-0,236 |
Tuy nhiên,
một số nghiên cứu cho thấy có mối
tương quan giữa độ lộ răng và
độ dài môi như nghiên cứu của Al Wazzan
(2004)(Error!
Reference source not found.). Sự
khác biệt này có thể do mẫu nghiên
cứu của chúng tôi (n= 99) nhỏ hơn nhiều
so với Al Wazzan (n= 473), cũng có thể do
sự khác biệt về độ tuổi, Al
Wazzan nghiên cứu nhóm đối tượng
nằm trong độ tuổi từ 20-60, còn đối
tượng của chúng tôi có độ
tuổi từ 19-28 tuổi. Như vậy, để
tìm mối tương quan đầy đủ hơn
giữa độ lộ răng và độ dài
môi, nên mở rộng cỡ mẫu nghiên cứu
cũng như độ tuổi nghiên cứu.
Nhiều nhà nghiên cứu chọn
đo độ lộ của các răng cửa
hàm trên là khoảng cách từ điểm giữa bờ
cắn răng cửa hoặc
từ điểm thấp nhất
của bờ cắn đến bờ dưới môi trên,
đo độ lộ răng nanh trên từ đỉnh
múi răng nanh đến bờ dưới môi trên.
Chúng tôi chọn điểm chuẩn là điểm giữa
bờ cắn các răng cửa hàm trên.
Điểm chuẩn này cũng giống
với nghiên cứu của Wazzan, điều
này tạo điều kiện thuận lợi
để chúng tôi dễ dàng so sánh với
nghiên cứu của ông.
Chiều dài của môi trên theo Hồ Thị Thùy Trang là khoảng cách
từ Sn đến Sto, tính luôn chiều dài
của môi đỏ. Nghiên cứu của chúng tôi
nhằm mục đích tìm mối tương
quan giữa độ lộ của các răng
trước hàm trên với chiều dài môi
nên chúng tôi chọn đo chiều dài môi trên là
từ Sn đến Ls, không tính chiều dài môi
đỏ vì độ dày môi rất thay
đổi: có người môi dầy, có
người môi mỏng; đây là một yếu
tố gây nhiễu. Ngoài ra, cách chọn này tương tự
Al Wazzan, giúp chúng tôi có thể dễ dàng so sánh kết quà
nghiên cứu.
Các nhà phục
hình nhận thấy rằng độ lộ
của các răng trước là một
yếu tố đánh giá thẩm mỹ. Trên lâm
sàng, khi làm phục hình toàn hàm,
bờ của gối cắn hàm trên ở
vùng răng trước được xác
định bằng cách kéo dài xuống
dưới bờ môi trên ở tư thế
nghỉ gần 2mm để thiết lập mối liên
hệ giữa chiều dài môi trên và bờ
cắn của các răng trước và
phù hợp với độ lộ của
các răng trước trên. Độ lộ
của răng thì khác nhau tùy chủng tộc.
Người Việt nam có những
đặc điểm về hình thái riêng,
khác với nhóm cư dân khác trên thế
giới và độ lộ của răng cũng
có những đặc điểm riêng. Chúng ta cần có những số liệu phù hợp
cho người Việt Nam. Nghiên cứu
của chúng tôi đo đạc độ lộ trung
bình của các răng trước hàm trên
so với bờ môi trên ở tư thế
nghỉ trên 99 đối tượng người
Việt Nam trưởng thành nhằm
đóng góp một đường sắp
xếp rìa cắn các răng trước
hàm trên cho người Việt Nam.
Đường hướng dẫn này cung
cấp những gợi ý có ích
để nâng cao thẩm mỹ của phục hình,
cung cấp một đường hướng
dẫn có ích cho việc xác định mặt phẳng nhai phục
h́nh thích hợp. Trong các trường
hợp mất răng toàn hàm, để khôi
phục lại kích thước dọc cho bệnh
nhân, ở giai đoạn xác định
mặt phẳng nhai phục hình, các nhà
lâm sàng thường phối hợp giữa
hai yếu tố: mặt phẳng nhai phục
hình song song với mặt phẳng Camper
và bờ trước của gối cắn
hàm trên lộ so với bờ môi trên 1,5-2mm.
Mặt khác, độ lộ của các răng trước hàm trên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, chủng tộc và chiều dài môi trên. Do đó, để đạt được thẩm mỹ hài lòng, khi xếp các răng trước hàm trên không nên chỉ dựa vào độ lộ của răng mà phải hài hòa với mặt phẳng nhai, đường môi, đường cười, kích thước răng…Các răng trước hàm trên còn tham gia vào chức năng phát âm và hướng dẫn hàm dưới vận động ra trước. Vì vậy, các răng trước hàm trên phải được sắp xếp sao cho vừa thỏa mãn về mặt thẩm mỹ, vừa đáp ứng về mặt chức năng.
Trong nghiên cứu
này chúng tôi đề nghị một cách
xếp độ lộ của các răng
trước hàm trên dựa vào độ
lộ của răng nanh trên như sau:
Trường hợp bệnh
nhân mất răng còn răng nanh trên: nhà lâm sàng quan
sát vị trí của đỉnh răng nanh trên so
với bờ môi trên ở tư thế
nghỉ. Nếu răng nanh trên lộ, xếp các răng
cửa giữa và răng cửa bên hàm
trên có độ lộ trung bình là 3,74±1,07mm; 2,36±0,69mm. Nếu răng nanh trên không
lộ, xếp độ lộ của răng cửa
giữa hàm trên là 2,69±1,44mm,
độ lộ của răng cửa bên hàm trên
là 1,08±0,81mm.(Xem bảng 2)
Trường hợp bệnh nhân mất cả răng nanh trên, xếp các răng trước hàm trên theo trường hợp có răng nanh trên không lộ.
Nghiên cứu đă
đưa ra số liệu cơ bản về độ
lộ của các răng trước hàm trên
ở người Việt Nam đồng thời
xác nhận có thể xác định vị
trí bờ cắn các răng cửa
hàm trên dựa vào độ lộ của
răng nanh trên. Tuy nhiên, độ lộ răng có mức
thăng giáng sinh học cao, nên khi xác định
vị trí bờ cắn răng cửa
cần kết hợp thêm các yếu tố khác
như tuổi tác, giới tính, chủng
tộc…
2. Athanasios E Athanasiou, Orthodontic Cephalometry, 293p, chapter 13, pp.63-67.
6.
Frush JP,
11.
Misch CE (2005), “Partial and complete
edentulous maxilla implant treatment plans, in Misch CE (ed)”: Dental Implant Prosthetics.
13. Trần Hải Phụng, Lê Hồ Phương Trang (2007), “Ước lượng kích thước dọc cắn khớp qua một số kích thước ở mặt và bàn tay”. Y Học TP Hồ Chí Minh-Chuyên đề Răng Hàm Mặt; tập 11, phụ bản số 2.
16. Rahn AO, Charles M. Heartwell (2002), Textbook of complete dentures, 5th-ed, 528p, 323-339.
19. Zarb (1990), Boucher’s Prosthodontic Treatment for Edentulous Patients, 623p, 397-401.
20. Zwemer TJ (1998), Mosby’s Dental dictionary, 658p, 391-39.