Hồ Đặng Hồng Phúc*, Hoàng Tử
Hùng*, Nguyễn Thị Kim Anh*
Mục tiêu nghiên cứu: nhằm so sánh đặc
điểm của dấu ghi tiếp xúc cắn khớp ở
vị trí lồng múi tối đa khi sử dụng silicone
và các loại giấy cắn.
Phương
pháp và vật liệu nghiên cứu: Nghiên cứu được thực
hiện trên 10 sinh viên khoa Răng Hàm Mặt, tuổi từ
22 – 27, có bộ răng lành mạnh và khớp cắn loại
I Angle. Các đối tượng được ghi dấu
tiếp xúc cắn khớp ở vị trí lồng múi tối
đa lần lượt bằng silicone ExabiteTM II
NDS (GC) và 6 loại giấy cắn khác nhau, gồm: GC dày
35µm, Hanel 40µm, Shofu 40µm, và 3 loại giấy cắn Bausch dày
12, 40, 100µm. Chụp ảnh dấu ghi tiếp xúc cắn khớp
với giấy cắn ở cung răng trên bằng máy ảnh
NIKON D.200 với đèn SB 900, ống kính Macro – Medical – Nikkor.
So sánh kết quả giữa dấu silicone và dấu của
các loại giấy cắn về số lượng và
độ khu trú của các điểm tiếp xúc.
Kết quả: Số
lượng điểm tiếp xúc cắn khớp khi ghi bằng
silicone nhiều hơn so với ghi bằng các loại giấy
cắn (p < 0,01). Giấy cắn
có cùng độ dày 35 - 40µm của các hãng khác nhau (GC, Hanel,
Shofu, Bausch) khác nhau không có ý nghĩa về số lượng
điểm tiếp xúc (p > 0,05). Số lượng điểm
tiếp xúc và độ khu trú của dấu khi ghi bằng
các loại giấy cắn có độ dày khác nhau (Bausch
12µm, 40µm, 100µm) khác nhau có ý nghĩa.
Kết luận: giấy cắn càng dày ghi nhận
số điểm tiếp xúc càng nhiều (p<0,01), và dấu
in được càng nhòe rộng (p<0,01).
Từ khóa: tiếp xúc cắn khớp, silicone, giấy cắn,
khớp cắn loại I, vị trí lồng múi tối
đa.
SILICONE VERSUS ARTICULATING PAPERS IN OCCLUSAL
CONTACTS RECORDING
Ho
Dang Hong Phuc, Hoang Tu Hung, Nguyen Thi Kim Anh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 –
Supplement of No 1 – 2010: 291 - 297
Objective: this in vivo study was designed to compare
the number and size of occlusal marks recorded with silicone and different articulating papers.
Materials and methods: ten dental students doted with normal class I occlusion were selected
and asked to close repeatedly in maximal intercuspation position. Occlusal
records were made successively for each student with silicone and 6
articulating papers of different brands and thicknesses: ExabiteTM II NDS (GC);
red, 40-µm-thick articulating papers (Hanel, Shofu); red, 35-µm-thick
articulating papers (GC); red, 12, 40, 100-µm-thick articulating papers
(Bausch). The marks characteristics – the number of marks on maxillary arch and
the size of the marks on a chosen tooth (premolar tooth) - were then evaluated
by a same examiner. The
![]()
Results: the analysis of
occlusal marks of maxillary arch showed that silicone recorded significantly
more marks than papers with a better visualization of heavy, medium and light
contacts; heavy and medium contacts obtained by silicone were not significantly
different from 35, 40-µm-thick articulating papers, but significantly different
from 12 and 100-µm-thick articulating papers. There were no significant
differences in the number of marks between articulating papers of similar thicknesses
(35, 40 µm) but the differences between papers of different thicknesses (12,
40, 100 µm) were statistically significant, the number of marks significantly
increased with the thickness of the paper. Comparison of the size of the
occlusal marks made from 12, 40, 100-µm-thick articulating papers (Bausch)
showed that the thicker the paper was, the larger the mark.
Conclusion: Silicone could
be considered as the standard material for accurate occlusal marks recording
with a clear discrination between light, medium and heavy contacts. On the
other hand, using too thick articulating strips could result in an increase in
the number and size of occlusal marks.
Keywords: occlusal
contacts, silicone,
articulating papers, class I occlusion, maximal intercuspation position.
Sự ăn khớp tốt
giữa các răng có vai trò quan trọng đối với sự
lành mạnh, thoải mái của hệ thống nhai và thành
công lâu dài của phục hồi. Ghi dấu tiếp xúc cắn
khớp là một kỹ thuật cơ bản trong lâm sàng
nha khoa, có liên quan đến nhiều lĩnh vực điều
trị như: kiểm tra tổng quát, điều trị cắn
khớp, nha chu, phục hình.
Các sản phẩm ghi dấu hiện có trên thị trường rất đa dạng về chủng loại, hình dáng, màu sắc, thành phần, cách sử dụng, kích thước, độ dày (từ rất dày, dày, mỏng, đến rất mỏng)… Tuy vậy, chưa có một tiêu chuẩn cụ thể nào hướng dẫn về loại vật liệu ghi dấu thích hợp để sử dụng cho từng công việc khác nhau trong khám và điều trị nha khoa. Bên cạnh đó, không phải nhà lâm sàng nào cũng hiểu đầy đủ bản chất, cách sử dụng đúng, cũng như sự khác biệt giữa các loại vật liệu. Trên thực tế lâm sàng, trong điều trị, các bác sĩ và kỹ thuật viên phục hình răng đôi khi không có sự thống nhất về vật liệu ghi dấu cần sử dụng nên gây ra sự sai lệch, thiếu chính xác của phục hồi về khớp cắn dẫn đến phải sửa chữa nhiều trên lâm sàng, làm giảm độ bền và thẩm mỹ của phục hồi. Số lượng và kích thước tiếp xúc cắn khớp ghi được không chỉ phụ thuộc vào tiếp xúc răng – răng mà còn phụ thuộc vào bản chất của vật liệu ghi dấu sử dụng (Muhammad, 2007). Các vật liệu khác nhau sẽ cho dấu ghi nhận được khác nhau tương ứng dù chúng được sử dụng trong cùng điều kiện giống nhau (Millstein, 2001). Theo Schelb (1985), Osman (1995), Muhammad (2007) độ dày của vật liệu có liên quan đến số lượng và kích thước dấu, giấy cắn dày sẽ in nhiều dấu và dấu cũng lớn hơn so với dùng giấy cắn mỏng.
Việc lựa chọn vật liệu ghi dấu thích hợp sẽ cung cấp cho bác sĩ và kỹ thuật viên những thông tin có giá trị, giúp cho công việc khám và điều trị hoặc thực hiện phục hình (trong labo và trên lâm sàng) được tiến hành một cách chính xác, tạo điều kiện cho thành công trong thực hành nha khoa.
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu khác nhau để ghi dấu tiếp xúc cắn khớp ở vị trí lồng múi tối đa và các tư thế khác như: Murata (1988), Wright (1992), Gurdsapsri (2000), Makoto (2000), Haydar (2001) sử dụng silicone; Ehdich (1981) sử dụng sáp cắn; Berry (1983), Rozenweig (1994) sử dụng giấy cắn; Ash (1984), Reisa (2000) dùng màng kim loại shimstock; Millstein (2001) nghiên cứu sự chính xác của 10 loại vật liệu ghi dấu khác nhau; Cláudio (2006) so sánh hệ thống T-scan và màng cắn; Yamashita (2002) so sánh giữa silicone và giấy cắn… Đa số các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu trên mẫu hàm trong phòng thí nghiệm nên không mô phỏng đúng các đặc điểm thực tế lâm sàng. Theo Cláudio (2006), số lượng dấu ghi được trên miệng nhiều hơn khi ghi trên mẫu hàm được lên giá khớp.
Ở Việt
Để giúp nhận định về tính
chất của các vật liệu ghi dấu cắn khớp,
nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục
tiêu so sánh đặc điểm
của dấu ghi tiếp xúc cắn
khớp tại vị trí lồng
múi tối đa khi sử dụng các loại vật
liệu khác nhau trên lâm sàng, từ đó có cơ sở để
lựa chọn loại vật liệu thích hợp để
ghi dấu tiếp xúc răng trong thực hành nha khoa.
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tiếp xúc cắn khớp tại vị trí lồng múi tối đa được thực hiện nhằm các mục tiêu chuyên biệt sau:
So sánh số lượng điểm tiếp xúc cắn khớp trên toàn bộ cung răng giữa silicone và các loại giấy cắn có cùng độ dày 35 - 40µm của các hãng khác nhau: GC, Hanel, Shofu, Bausch.
So sánh số lượng điểm tiếp
xúc cắn khớp trên toàn bộ cung răng giữa silicone và các loại giấy cắn
có độ dày khác nhau 12, 40, 100µm của cùng hãng Bausch.
So sánh độ khu trú của dấu
ghi được trên một răng được chọn
(răng in dấu rõ nhất) khi sử dụng các loại
giấy cắn có độ dày khác nhau 12, 40, 100µm của
cùng hãng Bausch.
Mẫu nghiên cứu gồm 10 sinh viên khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (1 nam, 9 nữ). Các đối tượng được chọn dựa trên các tiêu chuẩn sau: Tuổi từ 22 - 27; không mất răng (ngoại trừ răng khôn); xếp loại khớp cắn hạng I Angle (vùng răng cối lớn hai bên); răng không mọc chen chúc; không thiếu hay thừa răng; không có răng sâu, phục hồi cố định hay miếng trám lớn; không có biểu hiện của rối loạn khớp thái dương hàm; không bị bệnh nha chu; không mắc bệnh lý liên quan cơ, thần kinh, tuyến nước bọt vùng miệng; chưa từng điều trị chỉnh hình răng mặt.
Máy chụp hình NIKON D.200 với đèn SB
900, ống kính Macro – Medical Nikkor; gương chuyên dụng
để chụp hình trong miệng; bộ dụng cụ
banh miệng; kẹp giấy cắn Miller; bảng sơ
đồ răng in sẵn.
-
Silicone
ghi dấu EXABITE™ II NDS hãng GC.
-
Giấy
cắn đỏ, độ dày 40µm của các hãng: Hanel,
Shofu.
-
Giấy
cắn đỏ, độ dày 35µm của hãng GC.
-
Giấy
cắn đỏ, độ dày 40 và 100µm của hãng Bausch.
-
Giấy
cắn đỏ, độ dày 12µm của hãng Bausch (màng kim
loại shimstock, loại màu đỏ ở một mặt).
Thử nghiệm lâm sàng.
-
Tất
cả các đối tượng nghiên cứu (10 người)
được ghi dấu tiếp xúc cắn khớp tại
vị trí lồng múi tối đa bằng silicone và các loại
giấy cắn (6 loại giấy cắn khác nhau).
-
Tư
thế đối tượng: ngồi trên ghế nha ở
tư thế đầu tựa vào ghế thoải mái,
lưng ghế ở vị trí dựng thẳng cao nhất.
-
Tất
cả đối tượng đều được lấy
dấu bằng Alginate và đổ mẫu hai hàm bằng thạch
cao cứng.
-
Công
việc ghi dấu tiếp xúc cắn khớp trên các đối
tượng được thực hiện bởi chính
người nghiên cứu.
-
Các
đối tượng không biết đang được
ghi dấu cắn khớp với loại giấy cắn
nào.
-
Hướng
dẫn và tập cho đối tượng cắn đúng ở
vị trí lồng múi tối đa.
-
Chuẩn
bị vật liệu và súng trộn.
-
Bơm
silicone lên toàn bộ mặt nhai và rìa cắn các răng hàm
dưới.
-
Yêu cầu
đối tượng cắn lại đúng ở vị
trí lồng múi tối đa.
-
Sau
khi silicone trùng hợp, lấy dấu silicone ra, sát trùng dấu.
-
Ghi
nhận những điểm thủng, trong suốt và mờ
trên dấu silicone dưới ánh sáng đèn đọc phim
có sử dụng kính lúp.
-
Ghi
nhận số lượng điểm tiếp xúc của từng
răng ở hàm trên (ngoại trừ răng khôn) trên dấu
silicone và vẽ vị trí các điểm tiếp xúc đó lên
sơ đồ răng.
Các mức độ tiếp xúc ghi trên dấu
silicone: lỗ thủng: tiếp xúc mạnh; vùng trong suốt:
tiếp xúc vừa; vùng trong mờ: tiếp xúc nhẹ.
-
Hướng
dẫn và tập cho đối tượng cắn đúng ở
vị trí lồng múi tối đa.
-
Lau
khô bề mặt răng bằng gòn và gạc nhiều lần.
-
Sử
dụng kẹp giấy cắn đặt giấy cắn
giữa hai cung răng trên và dưới sao cho giấy cắn
phải phủ hết mặt nhai và rìa cắn của các
răng.
-
Yêu cầu
đối tượng há, đóng hàm 5 lần đúng ở
vị trí lồng múi tối đa.
-
Lấy
giấy cắn ra khỏi miệng.
-
Chụp
hình dấu in các điểm tiếp xúc trên cung răng trên.
-
Đếm
số lượng dấu ghi được trên từng
răng ở hàm trên (ngoại trừ răng khôn). Vẽ vị
trí các điểm tiếp xúc lên sơ đồ
răng.
-
Lau sạch
dấu ghi được.
Quá trình được thực hiện
tương tự như trên lần lượt cho 6 loại
giấy cắn.
Hình
1: Dấu tiếp xúc cắn khớp ở
vị trí lồng múi tối đa ghi nhận bằng giấy
cắn Hanel 40 µm.
![]()
Hình
2: dấu tiếp xúc cắn khớp ghi
bằng silicone.
Đếm số lượng dấu ghi
được trên từng răng và trên toàn cung răng trên
(ngoại trừ răng khôn) ứng với mỗi loại
vật liệu nghiên cứu.
Đánh giá độ khu trú của dấu
tiếp xúc (khi ghi bằng 3 loại giấy cắn Bausch dày 12, 40, và 100 µm.):
Chọn một răng in dấu rõ nhất
trên cung răng (thường là răng cối nhỏ),
đánh giá độ khu trú của dấu tiếp xúc cho mỗi
loại giấy cắn bằng cách so sánh ảnh của 3
loại giấy và cho điểm như sau: Dấu gọn,
sắc nét nhất: 3 điểm; Dấu rõ trung bình: 2 điểm;
Dấu nhòe, rộng: 1 điểm
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel
5.0
-
Phép
kiểm Fisher để so sánh các phương sai.
-
Phép
kiểm Anova một yếu tố để so sánh các giá trị
trung bình về: số lượng điểm tiếp xúc
và điểm độ khu trú của dấu tiếp xúc cắn
khớp.
-
Phép
kiểm t để so sánh giá trị trung bình từng cặp
vật liệu về: số lượng điểm tiếp
xúc và các điểm độ khu trú của dấu tiếp
xúc cắn khớp.
Số điểm
tiếp xúc ghi bằng silicone là 48,0 ± 4,8 điểm (trong
đó có 25,5 ± 3,5 điểm tiếp xúc mạnh và vừa).
Số điểm tiếp xúc ghi bằng các giấy cắn
có cùng độ dày 35 – 40µm: GC: 27,1 ± 4,3 điểm; Hanel:
27,1 ± 4,1 điểm; Shofu: 25,7 ± 4,7 điểm; Bausch: 23,5 ±
4,3 điểm (bảng 1).
Bảng 1: Số điểm tiếp xúc ghi bằng
silicone và các giấy cắn có cùng độ dày 35 - 40µm
|
Kết quả |
Silicone |
Silicone* |
GC |
Hanel |
Shofu |
Bausch |
|
Tổng số điểm
(n = 10) |
480 |
255 |
271 |
271 |
257 |
235 |
|
Trung bình/người |
48 |
25,5 |
27,1 |
27,1 |
25,7 |
23,5 |
|
Độ lệch chuẩn |
4,8 |
3,5 |
4,3 |
4,1 |
4,7 |
4,3 |
Số điểm tiếp xúc ghi bằng silicone là nhiều
nhất, số điểm tiếp xúc ghi bằng các giấy
cắn có cùng độ dày 35 – 40µm xấp xỉ nhau (biểu
đồ 1).
Silicone ghi
nhiều điểm tiếp xúc hơn so với ghi bằng
giấy cắn (p<0,01).
![]()
Biểu đồ
1: Số điểm tiếp xúc ghi bằng silicone và các
giấy cắn có cùng độ
dày 35- 40 µm
So sánh số
điểm tiếp xúc giữa silicone và các giấy cắn
có cùng độ dày 35 - 40µm (bảng 2), cho thấy:
-
Sự
ghi nhận bằng các giấy cắn có cùng độ dày
thì khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05).
-
Số
điểm tiếp xúc mạnh và vừa (điểm thủng
và vùng trong suốt) trên dấu silicone khác biệt không có ý
nghĩa so với ghi bằng các giấy cắn có cùng độ
dày 35 - 40µm (p>0,05).
Bảng
2: Sự khác biệt về số điểm
tiếp xúc ghi bằng silicone và các giấy cắn có cùng
độ dày 35 - 40µm.
|
Vật
liệu |
Silicone
* |
GC |
Hanel |
Shofu |
Bausch |
|
Silicone |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
p< 0,01ûû |
|
Silicone* |
- |
p=0,37û |
p=0,36û |
p=0,92û |
p=0,27û |
|
GC |
- |
- |
p = 1,00û |
p = 0,5û |
p=0,08û |
|
Hanel |
- |
- |
- |
p=0,49û |
p=0,07û |
|
Shofu |
- |
- |
- |
- |
p=0,29û |
Phép kiểm
Anova một yếu tố,
kết hợp với phương pháp kiểm định
t-test.
û: Khác biệt
không có ý nghĩa ở
mức p>0,05; ûû: Khác biệt có ý nghĩa ở
mức p<0,01.
Số điểm
tiếp xúc ghi bằng silicone là 48,0 ± 4,8 điểm (trong
đó có 25,5 ± 3,5 điểm tiếp xúc mạnh và vừa).
Số điểm tiếp xúc ghi bằng các giấy cắn
có độ dày khác nhau của hãng Bausch: dày 12µm: 14,6 ± 4,8
điểm, 40µm: 23,5 ± 4,3 điểm; 100µm: 30,4 ± 5,2 điểm
(bảng 3).
Bảng 3: Số điểm tiếp xúc ghi bằng
silicone và các giấy cắn có độ dày khác nhau
|
|
Silicone |
Silicone* |
Bausch 12µm |
Bausch 40µm |
Bausch 100µm |
|
Tổng số điểm
(n = 10) |
480 |
255 |
146 |
235 |
304 |
|
Trung bình/người |
48 |
25,5 |
14,6 |
23,5 |
30,4 |
|
Độ lệch chuẩn |
4,8 |
3,5 |
4,8 |
4,3 |
5,2 |
Số điểm tiếp xúc ghi bằng silicone là nhiều
nhất, ghi bằng giấy cắn dày 12µm là ít nhất. Giấy cắn
càng dày thì số điểm tiếp xúc ghi được
càng nhiều (biểu đồ 2).
![]()
Biểu đồ 2: Số điểm
tiếp xúc ghi bằng silicone và các giấy cắn có độ
dày khác nhau
So sánh số điểm tiếp xúc giữa
silicone và các giấy cắn có độ dày khác nhau (bảng
4), cho thấy:
-
Silicone
ghi nhiều điểm tiếp xúc hơn so với ghi bằng
giấy cắn (p<0,01);
-
Sự
ghi nhận bằng các giấy cắn có độ dày khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa (p<0,01).
Giấy cắn càng dày thì số
điểm ghi được càng nhiều. Số điểm
tiếp xúc ghi bằng giấy cắn Bausch 12µm ít hơn có ý nghĩa so với giấy cắn Bausch 40µm
(p<0,01). Giấy cắn Bausch 100µm ghi được nhiều
điểm hơn so với
giấy cắn 12 và 40µm (p<0,01).
Số điểm tiếp xúc mạnh và vừa
(điểm thủng và vùng trong suốt) trên dấu silicone
ít hơn số điểm tiếp xúc ghi bằng giấy cắn Bausch
100µm nhưng nhiều hơn so với giấy cắn Bausch
12µm (p<0,05).
Bảng
4: Sự khác biệt về số điểm
tiếp xúc ghi bằng silicone và các giấy cắn có độ
dày khác nhau
|
Vật liệu |
Silicone * |
Bausch 12µm |
Bausch 40µm |
Bausch 100µm |
|
Silicone |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
|
Silicone * |
- |
p < 0,01ûû |
p = 0,27û |
p < 0,05ûûû |
|
Bausch 12µm |
- |
- |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
|
Bausch 40µm |
- |
- |
- |
p < 0,01ûû |
Phép kiểm Anova một yếu tố, kết hợp với
phương pháp kiểm định t-test.
û: Khác biệt không có ý nghĩa ở mức p>0,05; ûû: Khác biệt có ý nghĩa ở mức p<0,01; ûûû: Khác biệt có ý nghĩa ở mức p<0,05.
Quan sát trên
một răng được chọn (răng cối nhỏ).
Điểm
về độ khu trú của dấu tương ứng với
các loại giấy cắn có độ dày khác nhau của
hãng Bausch: dày 12µm: 3,0 ± 0,0; 40µm: 1,9 ± 0,3; 100µm: 1,1 ± 0,3 (bảng
5).
Bảng 5: Điểm
độ khu trú của dấu ghi bằng các giấy cắn
có độ dày khác nhau.
|
|
Bausch 12µm |
Bausch 40µm |
Bausch 100µm |
|
Tổng số điểm
(n = 10) |
30 |
19 |
11 |
|
Trung bình/ người |
3 |
1,9 |
1,1 |
|
Độ lệch chuẩn |
0 |
0,3 |
0,3 |
So sánh độ khu trú của dấu ghi bằng các loại giấy cắn có độ dày khác nhau (bảng 6), cho thấy:
- Giấy cắn dày 12, 40, 100µm in dấu có độ khu trú khác nhau có ý nghĩa (p<0,01).
- Giấy cắn càng dày thì dấu ghi được càng nhòe rộng.
Bảng 6: Sự khác biệt
về độ khu trú của dấu ghi bằng các giấy
cắn có độ dày khác nhau.
|
Vật liệu |
Bausch 40µm |
Bausch 100µm |
|
Bausch 12 µm |
p < 0,01ûû |
p < 0,01ûû |
|
Bausch 40 µm |
- |
p < 0,01ûû |
Phép kiểm Anova một yếu tố, kết hợp với
phương pháp kiểm định t-test.
ûû: Khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,01.
1. Có sự khác biệt về số lượng
điểm tiếp xúc cắn khớp khi ghi bằng silicone
và các loại giấy cắn khác nhau: số lượng
điểm ghi bằng silicone luôn nhiều hơn giấy cắn
(p<0,01) và silicone còn có thể cho phép nhận
định được tiếp xúc nhẹ (cận tiếp
xúc), tiếp xúc vừa và tiếp xúc mạnh. Số lượng
điểm tiếp xúc mạnh và vừa trên dấu silicone
(khi silicone thủng và trong suốt) khác biệt không có ý
nghĩa thống kê so với số điểm tiếp xúc
ghi bằng các loại giấy cắn có độ dày 35 –
40µm (p>0,05). Số lượng điểm
tiếp xúc mạnh và vừa trên dấu silicone nhiều
hơn số điểm tiếp xúc ghi nhận bằng giấy
cắn Bausch 12µm, nhưng lại ít hơn số điểm
mà giấy cắn Bausch 100µm ghi được (p<0,05).
2. Các loại giấy cắn có cùng độ dày 35 –
40µm của các hãng khác nhau cho số lượng điểm
tiếp xúc cắn khớp khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05).
3. Các loại giấy cắn có độ dày khác nhau (12, 40, 100µm) của cùng hãng Bausch cho số lượng điểm tiếp xúc cắn khớp khác nhau có ý nghĩa (p<0,01), giấy cắn càng dày thì số lượng điểm tiếp xúc ghi nhận được càng nhiều. Gíây cắn mỏng cho dấu có độ khu trú rõ, sắc nét; giấy cắn càng dày, dấu ghi được càng nhòe rộng (p<0,01).
1.
Celeste V. Kong. (1991), “Clinical evaluation of
three occlusal registration methods for guided closure contacts”, The journal of prosthetic dentistry, 66 (1), p. 15-20.
2.
Cláudio
W. L. F. Cabral, et al. (2006), “Comparison between two methods to
record occlusal contacts in habitual maximal intercuspation”, Brazilian
journal of oral sciences, 5, p.
1239-1243.
3. Gazit E., et al. (1986), “Reproducibility of occlusal marking techniques”, The journal of prosthetic dentistry, 55 (4), p. 505-509.
4. Halperin GC., Halperin AR., et al. (1985), “Thickness and marking characteristics of occlusal registration strips”, The journal of prosthetic dentistry, 54, p. 122-126.
5. Hoàng Tử Hùng (1990), Cắn Khít Học (phần cơ sở), giáo trình Đại học, Đại học Y Dược, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Hoàng Tử Hùng (2005), Cắn Khớp Học, Nhà xuất bản Y Học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5, 49-50, 280.
7. Kelleher MG, Setchell DJ. (1984), “An investigation of marking materials used in occlusal adjustment”, British Dental Journal, 156 (3), p. 96-102.
8.
9.
10. Muhammad N. Saad, et al. (2007), “Effects of load and indicator type upon occlusal contact markings”, Journal of Biomedical Materials Research, p.18-23.
11. Nguyễn Thị Bích Chiêu (2003), “Nghiên cứu thăm dò tiếp xúc cắn khớp ở lồng múi tối đa và trong các vận động trượt của hàm dưới”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học khoa Răng Hàm Mặt, Nhà xuất bản Y Học, tr. 103-111.
12. Osman T. Altay, et al. (1995), “Thickness, strength, plastic deformation and marking characteristics of occlusal registration strips”, Saudi dental journal, 7, p. 30-33.
13. Ramakrishna R. Babu, Sanjna V. Nayar. (2007), “Occlusion indicators: A review”, The journal of Indian Prosthodontic Society, 4, p. 170-174.
14. Saraçoģlu A., et al. (2002), “In vivo and in vitro evaluation of occlusal indicator sensitivity”, The journal of prosthetic dentistry, 88, p. 522-526.
15. Schelb E., Kaiser DA, et al. (1985), “Thickness and marking characteristics of occlusal registration strips”, The journal of prosthetic dentistry, 54, p. 122-126.