SO SÁNH HIU QU CA TRÂM PROTAPER QUAY TAY
VÀ PROTAPER QUAY MÁY TRONG S
A SON NG TY

 Đặng Vũ Thảo Vy*,  Đinh Thị Khánh Vân**,  Phạm Văn Khoa**

TÓM TẮT

Mở đầu: làm sạch và tạo dạng ống tủy là một giai đoạn quan trọng, góp phần quyết định sự thành công của điều trị nội nha. 

Mục tiêu: nghiên cứu này tiến hành so sánh hiệu quả của trâm ProTaper quay tay và trâm ProTaper quay máy trong sửa soạn ống tủy về sự thay đổi độ cong ống tủy, thay đổi chiều dài làm việc, h́nh dạng ống tủy cắt ngang ở mức phần ba chóp và thời gian sửa soạn.

Phương pháp: đây là nghiên cứu thử nghiệm in vitro với đối tượng là 30 răng cối nhỏ hàm dưới, được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm và kiểm tra lại bằng kiểm định t cho hai mẫu độc lập để đảm bảo không có sự khác biệt giữa 2 nhóm về độ cong ống tủy và chiều dài làm việc. Các răng sau đó được sửa soạn theo kỹ thuật hướng dẫn bởi nhà sản xuất với nhóm I sửa soạn bằng trâm ProTaper quay tay, nhóm II sửa soạn bằng trâm ProTaper quay máy. Đánh giá sự thay đổi độ cong ống tủy và chiều dài làm việc dựa trên phim tia X chụp mẫu răng trước và sau khi sửa soạn. Các răng sau khi sửa soạn được cắt ngang tại mức cách chóp 3 mm để đánh giá h́nh dạng ống tủy cắt ngang ở phần ba chóp. Thời gian sửa soạn ghi nhận bằng đồng hồ bấm giây. Các số liệu của nghiên cứu được xử lư thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows với các phép kiểm định t cho hai mẫu độc lập, t bắt cặp và chi b́nh phương.

Kết quả: nghiên cứu cho thấy trâm ProTaper quay máy sửa soạn ống tủy nhanh và duy tŕ độ cong ống tủy ban đầu tốt hơn trâm ProTaper quay tay (P < 0,05). Cả 2 loại trâm này đều duy tŕ tốt chiều dài làm việc và tạo đa số ống tủy có dạng tṛn như nhau ở mức phần ba chóp (P > 0,05).

Kết luận: trong điều kiện của nghiên cứu này, cả 2 loại dụng cụ có hiệu quả tương đương nhau trong việc sửa soạn ống tủy và đều an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên, trâm ProTaper quay máy duy tŕ độ cong ống tủy ban đầu tốt hơn trâm ProTaper quay tay.

Từ khóa: làm sạch và tạo dạng ống tủy, điều trị nội nha, trâm ProTaper quay tay và trâm ProTaper quay máy, chiều dài làm việc, h́nh dạng ống tủy, một phần ba chóp.

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF HAND – OPERATED AND ROTARY PROTAPER® INSTRUMENTS IN ROOT CANAL PREPARATION.

Dang Vu Thao Vy, Dinh Thi Khanh Van, Pham Van Khoa
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1 – 2010:
306 - 313

Background: cleaning and shaping root canals is an important step and has an essential part to determine the success of endodontic therapy.


Objectives: this study was designed to compare in vitro hand-operated and rotary ProTaper® instruments in regard to 4 parameters of root canal preparation: the alteration of canal curvature, the change of working length, the shape of postoperative root canal cross - section in the apical third and the working time.

Materials and method: a total of 30 extracted mandibular premolars were randomly divided into 2 groups of 15 teeth each. Based on radiographs taken prior to instrumentation with the initial instrument inserted into the canal, the 2 groups were balanced with respect to the angle of canal curvature and working length. Canals were prepared using a crown- down preparation technique as instructed by the manufacturer. Group 1 was prepared by hand-operated ProTaper® and group 2 was prepared by rotary ProTaper®. The assessment of changes of canal cuvature and working length was based on radiographs taken prior and post instrumentation. Postoperative root canals were cross - sectioned at 3mm from the foramen for shape evaluation. The time required for canal preparation was recorded for each specimen. Data was statistically analysed using the Independent-samples T test, the Paired-samples t test and the Chi-square test.

Results: rotary ProTaper® maintained the original canal curvature better than hand - operated ProTaper® (P<0.05). There were no significant differences in maintaining initial working length (P>0.05) and shaping root canal at the apical third (P>0.05). Root canal preparation was significantly faster with rotary ProTaper® than hand-operated ProTaper® (P<0.001).

Conclusion: under the conditions of this in vitro study, both instruments were equally effective in preparing root canals and safe to use. Rotary ProTaper® respected original canal curvature better than hand–operated ProTaper®.

Keywords: cleaning and shaping root canals, endodontic therapy, hand-operated and rotary ProTaper® instruments, working length, the shape root canals, apical third.


MỞ ĐẦU

Điều trị nội nha là một công việc quen thuộc trong thực hành nha khoa. Trong nội nha, việc sửa soạn hệ thống ống tủy (làm sạch và tạo dạng) là giai đoạn rất quan trọng v́ giúp giảm đau và loại bỏ các chất cặn bă, vi khuẩn là nguyên nhân chính gây ra bệnh lư tủy. Sửa soạn hệ thống ống tủy nhằm mục đích: làm sạch hệ thống ống tủy; tạo ống tủy có dạng thuôn liên tục từ miệng lỗ ống tủy (có đường kính lớn nhất) tới chóp chân răng (có đường kính nhỏ nhất) phỏng theo h́nh dạng ống tủy ban đầu; giữ nguyên vị trí và kích thước của lỗ chóp chân răng. Sửa soạn hệ thống ống tủy, đặc biệt là phần chóp, không làm yếu đi mô ngà c̣n lại hoặc làm thủng chân răng là điều cần thiết để kiểm soát nhiễm trùng, trám kín ống tủy theo ba chiều và đạt được kết quả thành công lâu dài(0).

Trong điều trị nội nha, đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và đ̣i hỏi sử dụng nhiều dụng cụ nhất. Trước đây, dụng cụ nội nha bằng thép không rỉ đă được sử dụng để làm sạch và tạo dạng ống tủy. Do đặc tính vật lí của dụng cụ là độ cứng tăng dần theo kích thước trâm nên dễ đưa đến các vấn đề về kỹ thuật trong khi sửa soạn như có khuynh hướng làm thẳng ống tủy, mở rộng phần chóp quá mức. Hậu quả là tạo khấc trong ống tủy, làm lệch chóp, rộng hoặc rách lỗ chóp, thay đổi chiều dài làm việc, thủng về phía bên chân răng…

Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự hiểu biết rơ hơn về giải phẫu học hệ thống ống tủy mà nhiều dụng cụ và vật liệu nội nha mới đă ra đời với mong muốn hạn chế tối đa những sai sót trong quá tŕnh sửa soạn ống tủy, giúp cho quá tŕnh làm sạch và tạo dạng hoàn thành thật tốt. Đáng chú ư là sự xuất hiện của các loại trâm nội nha mới làm bằng hợp kim Nickel-Titanium (trâm NiTi), mà theo khuyến cáo của các nhà sản xuất th́ chúng giúp cho việc sửa soạn ống tủy nhanh và hiệu quả hơn, với kỹ thuật sửa soạn đơn giản hơn các loại trâm thép không rỉ trước đây rất nhiều. Đây là vấn đề thực sự thu hút sự quan tâm rất lớn của các nhà lâm sàng. V́ vậy, cần thiết tiến hành các nghiên cứu để đánh giá về những loại trâm này.

n chục năm qua, trên thế giới đă có rất nhiều nghiên cứu về các hệ thống trâm NiTi, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào các loại trâm NiTi quay máy. Tại Việt Nam hiện nay, dù hệ thống trâm NiTi xuất hiện nhiều trên thị trường và ngày càng được các nha sĩ tổng quát cùng chuyên gia nội nha sử dụng phổ biến trên lâm sàng, nhưng số nghiên cứu về chúng c̣n hạn chế. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu in vitro “So sánh hiệu quả của trâm ProTaper quay tay và trâm ProTaper quay máy trong sửa soạn ống tủy” với các mục tiêu:

So sánh về sự thay đổi độ cong ống tủy trước và sau khi sửa soạn trong từng nhóm và giữa hai nhóm với nhau.

Đánh giá mức độ thay đổi chiều dài làm việc trước và sau khi sửa soạn trong từng nhóm và giữa hai nhóm với nhau.

So sánh và mô tả h́nh dạng ống tủy cắt ngang tại mức phần ba chóp của hai nhóm.

So sánh thời gian cần thiết để sa son ng ty ca hai loi trâm trên.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cu th nghim in vitro.

Đối tượng nghiên cứu

Răng ci nh th nht hoc th hai hàm dưới (răng người đă nh). Các răng sau khi nh được ngâm trong dung dch NaOCl 2,5%. Co sch b mt chân ng bằng máy cạo vôi siêu âm và mở tủy.

Chọn 30 răng cối nhỏ hàm dưới có các tiêu chuẩn sau: chóp chân răng đă trưởng thành; không có vôi hóa ống tủy; lỗ chóp cho trâm số 10 đi qua nhưng không cho trâm s 15 đi qua; chiu dài chân răng ti thiu là 10 mm; ng ty không cong dng ch S, ch C.

Phương tiện nghiên cứu

Mũi khoan mở tủy Endo Access Bur số 1, 2. Trâm K-file số 10, 15, 30. Bộ trâm ProTaper quay tay, quay máy. Ống chích nhựa, kim bơm rửa nội nha. Dung dịch bơm rửa NaOCl 2,5%. EDTA dạng nhăo: Glyde file prep. Côn giấy. Côn gutta percha số 30. Cao su lấy dấu soft putty. Đĩa cắt kim cương dày 0,3 mm. Tay khoan khuỷu giảm tốc NiTi control. Phim tia X và máy chụp phim. Kính hiển vi nổi Bausch & Lomb. Máy scan phim HP Scanjet G3010. Thiết bị định vị mẫu răng(3).

Cấu tạo thiết bị định vị mẫu răng: gồm 1 đoạn ống nhựa đường kính 6 cm, dài 50 cm. Một đầu ống có ren nối với nguồn của máy chụp phim tia X. Đầu ống c̣n lại nối với nắp đậy – nơi chứa mẫu răng nghiên cứu.

H́nh 1: Đon ng nha có ren 2 đầu.

H́nh 2: Đầu ống nối với máy chụp phim

H́nh 3: Đầu ống nối với nắp đậy

 

 
Cấu tạo nắp đậy: nắp đậy gắn dính với 1 phần nối đường kính 34 mm. Dọc theo thân của phần nối này có 1 khe rộng vừa đủ để đặt 1 phim tia X. Phía trên rănh sẽ được gắn 1 hộp nhựa kích thước 18 mm x 29 mm. Hộp nhựa này sẽ chứa chất lấy dấu soft putty cùng mẫu răng nghiên cứu.

 

 

 

 

 


H́nh 4: Cấu tạo nắp đậy

1. Vị trí đặt phim tia X

2. Hộp nhựa chứa chất lấy dấu và mẫu răng.

H́nh 5: Máy chụp phim có gắn thiết bị hoàn chỉnh.

Tiến tŕnh thực hiện

Xác định chiều dài làm việc: chiều dài làm việc đo với độ chính xác từng 0,5 mm. Đưa trâm K số 10 vào ống tủy đến khi đầu trâm đi xuyên qua lỗ chóp. Rút nhẹ trâm để đầu trâm vừa xuất hiện tại lỗ chóp. Xác định chiều dài này tính từ đỉnh múi cao nhất ở phần thân răng. Chiều dài làm việc sẽ là chiều dài này trừ đi 1 mm.

Chụp phim lần 1 và xác định độ cong ống tủy

Đưa trâm K số 15 vào trong ống tủy tới đúng chiều dài làm việc. Trộn một lượng vừa đủ chất nền và chất xúc tác cao su lấy dấu (Soft putty) cho vào trong hộp nhựa rồi đặt mẫu răng lên trên.

Đặt phim tia X vào khe bên dưới hộp nhựa chứa mẫu răng và khuôn chất lấy dấu. Sau đó lắp thiết bị định vị mẫu răng vào máy chụp phim và tiến hành chụp phim tia X với thời gian 0,5 giây (H́nh 7).

Dùng máy HP Scanjet G3010 quét h́nh ảnh phim tia X vào máy vi tính và sử dụng phần mềm VixWin 32 (Gendex Imaging, Italy) để đo độ cong ống tủy theo phương pháp Schneider (1971).

Góc Schneider(3) là góc hợp bởi 2 đường thẳng. Đường 1: đi qua phần thân ống tủy và theo trục chính của phần thân ống tủy; đường 2: nối từ đỉnh chóp gốc trên phim tia X đến điểm là nơi ống tủy rời khỏi trục chính của phần thân ống tủy.

 

H́nh 6: Góc Schneider(3)

 

 

 

Chia ngu nhiên mu nghiên cu thành 2 nhóm. Kim tra độ cong ống tủy và chiều dài làm việc bằng kiểm định t cho 2 mẫu độc lập để đảm bảo không có sự khác biệt có ư nghĩa giữa 2 nhóm về 2 đặc điểm này.

Sửa soạn ống tủy: do 1 người thực hiện theo kỹ thuật hướng dẫn bởi nhà sản xuất(2). Nhóm I (răng 1à15): sửa soạn bằng trâm ProTaper quay tay; nhóm II (răng 16à30): sửa soạn bằng trâm ProTaper quay máy.

Kỹ thuật sửa soạn ống tủy với trâm ProTaper quay tay

Dùng trâm K thép không rỉ số 15 thông suốt ống tủy.

Sử dụng trâm ProTaper S1 đưa vào ống tủy, sửa soạn với động tác xoay tṛn cùng chiều kim đồng hồ cho tới khi có lực cản th́ ngưng lại, xoay ngược chiều kim đồng hồ để rút dụng cụ ra và bơm rửa. Tiếp tục dùng trâm S1 cho đến khi trâm đưa vào tới độ sâu khoảng 1/2 đến 2/3 chiều dài ống tủy chân răng.

Dùng trâm SX (nếu cần) để mở rộng phần thân ống tủy.

Đưa trâm S1 vào ống tủy và sửa soạn tới đúng chiều dài làm việc. Rút dụng cụ ra khỏi ống tủy, bơm rửa. Tương tự, sửa soạn ống tủy tới đúng chiều dài làm việc với trâm S2, F1, F2, F3. Bơm rửa. Thấm khô ống tủy bằng côn giấy.

u ư: Trong quá tŕnh sửa soạn, bơm rửa ống tủy sau mỗi lần rút dụng cụ ra khỏi ống tủy với dung dịch NaOCl 2,5%; dùng trâm K số 15 để kiểm tra sự thông suốt của ống tủy và chóp răng; sử dụng Glyde (EDTA) mỗi khi thay đổi trâm ProTaper; dùng trâm ProTaper với động tác xoay tṛn nhẹ nhàng và liên tục, không tạo áp lực mạnh về phía chóp răng cũng như các thành ống tủy.

Kỹ thuật sửa soạn ống tủy với trâm ProTaper quay máy: Sử dụng tay khoan tốc độ chậm 250 ṿng/phút chuyên biệt cho ProTaper quay máy. Quy tŕnh sửa soạn tương tự trâm ProTaper quay tay.

Xác định chiều dài làm việc sau khi sửa soạn và chụp phim lần 2:

Đưa côn gutta percha số 30 vào trong ống tủy cho tới khi côn bị cản lại. Đây là chiều dài làm việc sau khi sửa soạn ống tủy(Error! Reference source not found.). Đặt mẫu răng vào lại trong dấu đă tạo ban đầu. Vặn nắp có chứa mẫu răng vào thiết bị định vị mẫu răng và chụp phim tia X với thời gian 0,5 giây.

Cắt ngang chân răng: Dùng tay khoan tốc độ chậm và đĩa cắt kim cương dày 0,3 mm để cắt ngang chân răng ở vị trí cách chóp 3 mm rồi định vị đoạn răng đă cắt trong khối soft putty.

Phương pháp đánh giá và xử lư thống kê

Xử lư số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows.

Sự thay đổi độ cong ống tủy: đánh giá theo Schäfer E. và cs (2004)( 5,11).

Quét h́nh ảnh phim tia X chụp mẫu răng sau khi sửa soạn ống tủy vào máy vi tính và sử dụng phần mềm VixWin 32 đo đạc độ cong ống tủy theo phương pháp Schneider.

Độ cong ống tủy thay đổi = độ cong ống tủy ban đầu – độ cong ống tủy sau khi sửa soạn.

Dùng kiểm định t bắt cặp để so sánh sự thay đổi độ cong ống tủy trước và sau khi sửa soạn trong từng nhóm và kiểm định t cho 2 mẫu độc lập để so sánh giữa 2 nhóm I, II.

Sự thay đổi chiều dài làm việc: đánh giá theo Schäfer E. và cs (2004)(5,11).

Chiều dài làm việc thay đổi = chiều dài làm việc ban đầu – chiều dài làm việc sau khi sửa soạn.

Dùng kiểm định t bắt cặp để so sánh sự thay đổi chiều dài làm việc trước và sau khi sửa soạn trong từng nhóm và kiểm định t cho 2 mẫu độc lập so sánh giữa 2 nhóm I, II.

H́nh dạng ống tủy cắt ngang: đánh giá theo Roig-Cayon M. và cs (1997)(4).

Quan sát các đoạn chân răng đă cắt dưới kính hiển vi nổi độ phóng đại 30 lần. H́nh dạng ống tủy cắt ngang phân làm 3 loại: tṛn, bầu dục, không đều.            

Việc đánh giá được 2 quan sát viên thực hiện độc lập. Hai quan sát viên này được giải thích rơ ràng trước đó về những tiêu chuẩn đánh giá. Sau đó so sánh giữa 2 bảng đánh giá, không có sự khác biệt.

Phân tích thống kê dùng kiểm định chi b́nh phương.

H́nh 7: Định vị mẫu răng để chụp phim

H́nh 8: Định vị đoạn cắt răng trong khối soft putty

Thời gian sửa soạn ống tủy: Sử dụng đồng hồ bấm giây ghi nhận thời gian sửa soạn ống tủy của từng răng, bắt đầu tính từ lúc đưa trâm 15 vào ống tủy cho đến lúc kết thúc công việc sửa soạn (sau khi sửa soạn hoàn tất bằng trâm ProTaper F3). Phân tích thống kê dùng kiểm định t cho 2 mẫu độc lập.

KẾT QUẢ

Trước khi sửa soạn ống tủy

Tiến hành đo độ cong ng ty và chiu dài làm vic. Kết qu như sau:

Độ cong ống tủy

Bảng 1: Độ cong trung b́nh của ống tủy ban đầu

Nhóm

Độ cong ống tủy (0)

Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn

Khoảng tin cậy 95%

I (QT)

13,33 ± 5,73

10,16 – 16,50

II (QM)

13,15 ± 3,21

11,37 – 14,92

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập, p = 0,913 (P > 0,05)

Độ cong ống tủy ban đầu của 2 nhóm răng I và II là không khác nhau.

Chiều dài làm việc

Bng 2: Chiu dài làm vic trung b́nh ca ng ty ban đầu

Nhóm

Chiều dài làm việc ban đầu (mm)

 

Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn

Khoảng tin cậy 95%

I (QT)

21,27 ± 1,43

20,48 – 22,06

II (QM)

21,73 ± 3,21

20,97 – 22,49

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập, p = 0,369 (P > 0,05)

Chiều dài làm việc ban đầu của 2 nhóm răng I và II là không khác nhau.

Sau khi sửa soạn ống tủy

Độ cong ống tủy

Độ cong ng ty trước và sau khi sa son trong mi nhóm:

Bng 3: Độ cong ng ty trước và sau khi sa son ca mi nhóm

Nhóm

Độ cong ống tủy (Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn)

P *

Trước sửa soạn

Sau sửa soạn

I (QT)

13,33 ± 5,73

10,43 ± 6,18

0,007

II (QM)

13,15 ± 3,21

13,51 ± 4,83

0,557

* Kiểm định t bắt cặp.

Nhóm I: S khác bit có ư nghĩa thng kê, p < 0,05. Có s thay đổi độ cong ng ty gia trước và sau khi sa son. Nhóm II: S khác bit không có ư nghĩa thng kê, p > 0,05. Không có s thay đổi độ cong ng ty gia trước và sau khi sa son.

Biểu đồ 1: Độ cong ống tủy trước và sau khi sửa soạn của nhóm I và II

Độ cong ống tủy thay đổi trước và sau khi sửa soạn giữa 2 nhóm I, II:

Độ cong ống tủy thay đổi (∆ độ cong ống tủy) = độ cong ống tủy ban đầu – độ cong ống tủy sau cùng.

Bảng 4: Độ cong ống tủy thay đổi trước và sau khi sửa soạn giữa 2 nhóm I, II

Nhóm

∆ độ cong ống tủy (0)

Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn

Khoảng tin cậy 95%

I (QT)

2,90 ± 3,57

0,92 – 4,88

II (QM))

-0,37 ± 2,36

-1,67 – 0,94

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập, p = 0,006 (P < 0,05).

Độ cong ống tủy thay đổi trước và sau khi sửa soạn giữa 2 nhóm răng I và II là khác nhau.

Chiu dài làm vic

Chiều dài làm việc trước và sau khi sửa soạn trong mỗi nhóm:

Bảng 5: Chiều dài làm việc trước và sau khi sửa soạn của mỗi nhóm

Nhóm

Chiều dài làm việc (Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn)

P *

Trước sửa soạn

Sau sửa soạn

I (QT)

21,27 ± 1,43

21,53 ± 1,03

0,135

II (QM)

21,73 ± 1,37

21,93 ± 1,16

0,212

* Kiểm định t bắt cặp.

Nhóm I và nhóm II đều có giá trị p > 0,05 nên sự khác biệt là không có ư nghĩa thống kê.

Trong từng nhóm I, II không có s thay đổi chiu dài làm vic gia trước và sau khi sa son.

Biu đồ 2: Chiu dài làm vic trước và sau khi sa son ca nhóm I và II

Chiều dài làm việc thay đổi trước và sau sửa soạn giữa 2 nhóm I, II:

Chiu dài làm vic thay đổi ( chiu dài làm vic) = chiu dài làm vic ban đầu – chiu dài làm vic sau cùng.

Bảng 6: Chiều dài làm việc thay đổi trước và sau khi sửa soạn giữa 2 nhóm I, II

Nhóm

∆ chiều dài làm việc (mm)

Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn

Khoảng tin cậy 95%

I (QT)

-0,27 ± 0,65

-0,63 – 0,09

II (QM

-0,20 ± 0,59

-0,53 – 0,13

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập, p = 0,771 (P > 0,05).

Chiều dài làm việc thay đổi trước và sau khi sa son gia 2 nhóm răng I và II là không khác nhau.

H́nh dạng ống tủy tại mức phần ba chóp:

Bảng 7: H́nh dạng ống tủy sau khi sửa soạn ở mức cách chóp 3 mm

Nhóm

H́nh dạng

Tṛn

Bầu dục

Không đều

I (QT)

12 (80%)

1 (6,7%)

2 (13,3%)

II (QM)

11 (73,3%)

0 (0%)

4 (26,7%)

Kim định chi b́nh phương, p = 0,425 (P > 0,05).

Ở cả 2 nhóm ProTaper quay tay và ProTaper quay máy, tại mức cách chóp 3 mm, ống tủy có dạng tṛn chiếm đa số. Số ống tủy có dạng tṛn sau khi sa son gia 2 nhóm là như nhau.

Biểu đồ 3: H́nh dạng ống tủy của nhóm I, II tại mức cách chóp 3 mm

Thi gian sa son

Bảng 8: Thời gian sửa soạn ống tủy trung b́nh

Nhóm

Thời gian sửa soạn (s)

Trung b́nh ± Độ lệch chuẩn

Khoảng tin cậy 95%

I (QT)

283,40 ± 68,94

245,22 – 321,58

II (QM)

188,93 ± 25,06

175,06 – 202,81

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập, p = 0,000.

Sự khác biệt giữa 2 nhóm rất có ư nghĩa thống kê, p < 0,001. Sửa soạn ống tủy bằng trâm ProTaper quay tay cần nhiều thời gian hơn so với sửa soạn bng trâm ProTaper quay máy.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu in vitro “so sánh hiệu quả của trâm ProTaper quay tay và trâm ProTaper quay máy trong sửa soạn ống tủy” với mẫu nghiên cứu gồm 30 răng cối nhỏ hàm dưới được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm. Cho phép kết luận như sau:

-                   Trâm ProTaper quay máy duy tŕ tốt độ cong ống tủy hơn trâm ProTaper quay tay. Sau khi sửa soạn, trâm ProTaper quay tay làm ống tủy thẳng hơn, c̣n trâm ProTaper quay máy duy tŕ tốt độ cong ban đầu của ống tủy (P < 0,05).

-                   Khả năng kiểm soát chiều dài làm việc của hai loại trâm này là như nhau. Cả hai đều không làm thay đổi chiều dài làm việc trước và sau khi sửa soạn (P > 0,05).

-                   Khả năng làm tṛn ống tủy của hai loại trâm không khác nhau tại mức phần ba chóp. Cả hai đều tạo ra ống tủy dạng tṛn nhiều hơn các dạng bầu dục và không đều (P > 0,05).

-                   Trâm ProTaper quay máy sa son ng ty nhanh hơn trâm ProTaper quay tay (P < 0,001).

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cả hai loại trâm NiTi đều có nhiều ưu điểm khi ứng dụng chúng trong điều trị nội nha, nhất là trâm ProTaper quay máy. Tuy nhiên, trâm ProTaper quay tayng có lợi thế riêng v́ hiệu quả sửa soạn ống tủy không thua kém đáng kể so với trâm ProTaper quay máy, nhưng lại kinh tế hơn, không đ̣i hỏi phải trang bị tay khoan tốc độ chậm chuyên biệt. Hơn nữa, trên thực tế các trường hợp ống tủy bị calci hóa, hay ống tủy cong và hẹp, những giai đoạn đầu thường cần dùng đến dụng cụ cầm tay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Bài giảng nội nha. Khoa RHM, Đại học Y Dược TPHCM.

2.          Clauder T, Baumann M. A (2004). ProTaper NT system. Dental Clinics of North America, Vol. 48: 87-111.

3.          Phạm Văn Khoa, Hoàng Tử Hùng (1999). Nghiên cứu so sánh 2 kỹ thuật sửa soạn hệ thống ống tủy. Luận văn tốt nghiệp BS Nội trú, Đại học Y Dược TPHCM.

4.          Roig-Cayon M (1997). A comparison of molar root canal preparations using six instruments and instrument techniques. J Endod, Vol. 23, No. 6: 383-386.

5.          Schäfer E (2001). Shaping ability of Hero 642 rotary nickel-titanium instruments and stainless steel hand K-Flexofiles in simulated curved root canals. Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, Vol. 92, No. 2: 215-220.

6.          Schäfer E, Florek H (2003). Efficiency of rotary nickel-titanium K3 instruments compared with stainless steel hand K-Flexofile. Part 1. Shaping ability in simulated curved canals. Int Endod J, Vol. 36, No. 3: 199-207.

7.          Schäfer E, Lohmann D (2002). Efficiency of rotary nickel-titanium FlexMaster instruments compared with stainless steel hand K-Flexofile. Part 1. Shaping ability in simulated curved canals. Int Endod J, Vol. 35, No. 6: 505-513.

8.          Schäfer E, Lohmann D (2002). Efficiency of rotary nickel-titanium FlexMaster instruments compared with stainless steel hand K-Flexofile. Part 2. Cleaning effectiveness and instrumentation results in severely curved root canals of extracted teeth. Int Endod J, Vol. 35, No.6: 514-521.

9.          Schäfer E, Schlingemann R (2003). Efficiency of rotary nickel-titanium K3 instruments compared with stainless steel hand K-Flexofile. Part 2. Cleaning effectiveness and shaping ability in severely curved root canals of extracted teeth. Int Endod J, Vol. 36, No. 3: 208-217.

10.       Schäfer E, Vlassis M (2004). Comparative investigation of two rotary nickel-titanium instruments: ProTaper versus RaCe. Part 1. Shaping ability in simulated curved canals. Int Endod J, Vol. 37: 229-238.

11.       Schäfer E, Vlassis M (2004). Comparative investigation of two rotary nickel-titanium instruments: ProTaper versus RaCe. Part 2. Cleaning effectiveness and shaping ability in severely curved root canals of extracted teeth. Int Endod J, Vol. 37: 239-248.

12.       Sonntag D, Delschen S, Stachniss V (2003). Root-canal shaping with manual and rotary NiTi files performed by students. International Endodontic Journal, Vol. 36: 715-723.