Nguyễn Khánh Mỹ*, Hoàng Tử Hùng*
Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh độ khít sát ở các thành (thành trục
và thành mặt nhai) và ở vùng đường hoàn tất của
sườn sứ zirconia cho mão toàn sứ với sườn
kim loại cho mão sứ-kim loại.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu in vitro được thiết kế dựa
theo phương pháp của Chang (2004)
và Beuer (2008). Từ một cùi răng khô của răng
cối nhỏ thứ nhất hàm trên, lấy dấu bằng
cao su và đổ mẫu bằng thạch cao cứng.
Mười mẫu được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm
5 mẫu: Nhóm 1: thực hiện 5 sườn zirconia bằng
hệ thống Cercon 2.2 (Denstply). Nhóm 2: thực hiện 5
sườn Ni-Cr bằng phương pháp đúc truyền thống.
Gắn sườn phục hình vào cùi răng thạch cao
tương ứng bằng cao su lỏng. Dùng đĩa cắt
kim cương cắt qua sườn phục
hình và cùi răng thạch cao theo chiều ngoài-trong. Đo
độ dày lớp cao su (ở thành mặt nhai, thành trục
và vùng đường hoàn tất) dưới kính hiển vi quang học chuyên dùng (
Kết quả: (1) Độ khít sát ở các thành (thành trục và
thành mặt nhai) của sườn zirconia lần lượt
là 73,61 ± 4,80µm và 75,53 ± 21,25µm, của sườn Ni-Cr lần
lượt là 74,73 ± 14,82µm và 99,20 ± 38,03µm, sự khác biệt
không có ý nghĩa với giá trị p lần lượt là
0,82 và 0,10; p>0,05. (2) Độ khít sát ở vùng đường
hoàn tất của sườn Ni-Cr (78,67
± 31,23µm) cao hơn có ý nghĩa so với sườn zirconia
(121,21 ± 11,90µm) (p=0,01; p<0,05), nhưng đều nằm
trong khoảng lâm sàng chấp nhận được. (3)
Trung bình độ khít sát của sườn zirconia là 90,12 ± 10,08µm và sườn Ni-Cr là 84,20 ± 22,01µm, sự
khác biệt không có ý nghĩa (p=0,45; p>0,05).
Kết luận: trung bình độ khít sát của cả hai nhóm trong
khoảng giá trị chấp nhận được trên lâm sàng
(<100µm).
Từ khóa: độ khít sát ở các thành (thành trục và
thành mặt nhai), sứ zirconia, sườn phục hình, cùi
răng thạch cao.
COMPARISON OF FIT OF ZIRCONIA COPING
TO ALL-CERAMIC CROWN
WITH METAL COPING TO METAL-CERAMIC CROWN
Nguyen Khanh My, Hoang Tu Hung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1 – 2010: 349 - 355
Purpose: the aim of this in vitro
study was to compare the marginal and internal (axial and occlusal) fit of
zirconia coping to metal coping.

Materials and Methods: ten stone dies were fabricated from one extracted maxillary right
first premolar. They were randomly divided into 2 groups of 5 dies each. Group
1: 5 zirconia copings fabricated with Computerized-assisted design
(CAD)/Computerized-assisted manufacturing (
Results: the mean gap
widths of the zirconia coping were 75.53µm at the occlusal location; 73.61µm at
the axial wall; 121.21µm at the margin; and 90.12µm in total. The mean gap widths of the Ni-Cr coping were 99.20µm at the
occlusal location, 74.73µm at the axial wall; 78.67 at the margin; and 84.20 in
total. There were no differences in internal (axial, occlusal) fit among
the two groups. Although the marginal fit of the coping Ni-Cr was significantly
smaller than the zirconia coping, the values obtained were clinically
satisfactory. In conclusion, the fit of the zirconia coping was not
significantly different from the Ni-Cr coping.
Conclusion: the mean
marginal gaps of the two groups were within the range of clinically acceptable
values (<100µm).
Keywords: marginal and internal (axial and occlusal) fit, zirconia, copings, stone dies.
Sự xuất hiện của phục hình sứ-kim loại cách đây trên 40
năm là một bước tiến lớn trong việc tạo
ra những phục hình giống màu răng, nó giúp loại bỏ
những bất lợi vốn có của phục hình kim loại
mặt nhựa được sử dụng phổ biến
vào thời điểm đó như: kém thẩm mỹ,
đổi màu nhựa, mòn nhiều… Sau nhiều năm, phục
hình sứ-kim loại đã được chứng minh là an toàn, có ứng dụng ngày càng rộng rãi và
thành công cao trên lâm sàng. Phục hình sứ-kim loại trở
thành một tiêu chuẩn trong phục hình cố định,
dùng để so sánh với
những phương pháp hay vật liệu mới(15). Tuy nhiên nó vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế như: sườn kim loại thiếu
độ truyền sáng làm giảm tính thẩm mỹ, nhất
là ở vùng cổ răng do lộ kim loại; nguy cơ gây
dị ứng kim loại, đặc biệt là các kim loại
thường (nickel, beryllium); nguy cơ bong mặt sứ(7,15). Đây chính là mối băn
khoăn của nhiều nhà lâm sàng và là một vấn đề
hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong việc
tìm ra những vật liệu và phương pháp mới,
ưu việt hơn.
Trong những năm cuối thế kỷ
XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, khi
cơ hội tích hợp những tiến bộ của công
nghệ cao (về vật liệu, công nghệ thông tin,
cơ khí tự động hóa…) trở thành hiện thực,
nhiều hệ thống toàn sứ ra đời, có khả
năng giải quyết được vấn đề
thẩm mỹ và tương hợp sinh học. Nhưng do
bản chất dòn, dễ nứt gãy và độ bền uốn
thấp của vật liệu sứ, trong thời kỳ
đầu, các phục hình sứ không kim loại chưa
được chỉ định rộng rãi (chỉ dùng
cho inlay, onlay, mão và mặt dán răng trước…ít chịu
lực)( 7,15). Trong những năm gần
đây, sứ nha khoa đã ứng dụng nhiều công nghệ
gốm sứ tiên tiến: gốm oxit kỹ thuật có
độ tinh khiết cao, tạo ra cấu trúc đơn pha và tinh thể mịn. Vật liệu làm
sườn cho phục hình toàn sứ hiện nay có lượng
pha tinh thể đến 99%(6). Vật liệu làm
sườn sứ có độ bền uốn cao (>900 MPa)
được sử dụng tương đối phổ
biến hiện nay là sứ zirconia (ZrO2), nhờ
đặc điểm có màu trắng và liên kết tốt với
lớp sứ bên trên. Sườn sứ
zirconia sử dụng công nghệ CAD/CAM trong chế tác.
Trên thế giới, sau mười năm sử
dụng trên lâm sàng, các loại sườn sứ đã chứng
tỏ ưu thế về thẩm mỹ, tính tương hợp
sinh học. Riêng sườn sứ zirconia, với độ
bền cao, có thể ứng dụng cho phục hình mão và cầu
răng sau(5,7,11,13). Ở Việt
Nhiều nghiên cứu đã
khẳng định tính chất cơ học và lý học
ưu việt của zirconia về độ bền uốn;
độ bền nén tương đương một số
hợp kim làm sườn phục hình sứ-kim loại và
cao hơn các hệ thống sườn sứ khác như sứ
alumina, sứ trường thạch, sứ leuxit(3). Về thời gian tồn tại
của phục hình toàn sứ, do là vật liệu mới
nên chưa có nghiên cứu lâm sàng nào đủ thời gian
để đánh giá và so sánh với phục hình sứ-kim
loại. Một trong những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự tồn tại mà người
ta có thể quan sát được là độ khít sát của
phục hình. Độ khít sát là một vấn đề
quan trọng và được chú ý nhiều trên lâm sàng,
đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của phục
hình nhờ phòng ngừa sâu răng và viêm nha chu gây ra do vi khuẩn
và độc tố của vi khuẩn trong mảng bám(0,0,10). Tuy nhiên, đối với
phục hình toàn sứ, chưa có nhiều nghiên cứu đề
cập đến vấn đề này. Một
số nghiên cứu đã tiến hành cho các kết quả
không giống nhau, thậm chí chênh lệch nhiều.
Nhưng tất cả đều đi đến kết
luận độ khít sát của sườn sứ zirconia nằm
trong khoảng lâm sàng chấp nhận được(8,9,12), cao hơn sườn titanium,
sườn sứ alumina…(14) , và nhỏ hơn sườn bằng
hợp kim(4, 16).
Tại Việt
1. So sánh
độ khít sát ở các thành (thành trục và thành mặt
nhai) của sườn zirconia với sườn kim loại.
2. So sánh độ khít sát ở vùng đường
hoàn tất của sườn zirconia với sườn kim loại.
3. So sánh độ khít sát trung bình của sườn zirconia với sườn kim loại.
Mẫu cùi răng khô của răng cối
nhỏ thứ nhất hàm trên đã được mài theo
tiêu chuẩn: độ thuôn 60-80,
mặt nhai mài từ 1,5-2mm, góc mở ở mặt nhai từ
1200-1400, chiều cao cùi răng tính đến
điểm giữa mặt nhai >4mm, đường hoàn tất
bờ vai 1mm, các góc cạnh được mài tròn. Thực
hiện 5
sườn zirconia làm từ hệ thống CAD/CAM (Cercon 2.2,
Dentsply) và 5 sườn Ni-Cr đúc bằng kỹ thuật
truyền thống.
Vật liệu: 2
khối zirconia tiền thiêu kết 38mm,
loại màu hồng (Denstply). Hợp kim
Ni-Cr (Super 1, Hoa Kỳ). Cao su lấy dấu nặng
(putty) Aquasil (Denstply). Cao su lấy dấu
nhẹ (Light body) AquasilTM LV (Denstply). Thạch cao cứng (GC. corp).
Trang thiết bị: hệ thống CAD/CAM Cercon: gồm Cercon eye, Cercon brain (laser scanner and milling unit), Cercon base, Cercon heat để chế tác sườn sứ zirconia. Máy đúc cao tần hiệu Bego cho sườn hợp kim Ni-Cr đúc. Đĩa cắt kim cương. Kính hiển vi quang học với độ chính xác đến µm (x50) chuyên dùng để khảo sát bề mặt vật liệu, có phần mềm dùng đo kích thước Olympus GX51.
Bước
1:
- Cắm mẫu răng khô của răng cối nhỏ hàm trên vào đế thạch cao hình trụ, sau đó mài cùi theo những tiêu chuẩn đã đưa ra.
- Dùng cao su lấy dấu nặng và nhẹ lấy dấu mẫu cùi răng khô theo phương pháp lấy dấu 2 hỗn hợp, lấy 10 dấu, đổ ngay 10 mẫu bằng thạch cao cứng.
Bước 2: chia ngẫu nhiên 10 mẫu cùi răng làm 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 5 mẫu:
Nhóm 1: thực hiện sườn zirconia bằng hệ thống CAD/CAM Cercon 2.2 (thực hiện tại labo Minh Phước – Tp. Hồ Chí Minh). Cercon eye quét mẫu cùi răng thạch cao bằng tia laser, thể hiện hình ảnh mẫu cùi răng trên máy tính dưới dạng dữ liệu số. Từ các dữ liệu số, tái lập lại hình ảnh mẫu cùi răng trên máy tính. Điều chỉnh trên máy tính để đạt độ dày của sườn zirconia là 0,5mm (hệ thống cho phép trong khoảng từ 0,5-1mm); khoảng hở giữa sườn zirconia và mẫu thạch cao là 30µm (hệ thống cho phép điều chỉnh trong khoảng từ 0-60µm). Sườn zirconia được thiết kế trên máy tính nhờ Cercon art (một hệ thống phần cứng và phần mềm dùng để thiết kế sườn cho mão và cầu răng). Sau đó, gắn khối zirconia tiền thiêu kết vào một bộ phận giữ trong Cercon brain, quá trình cắt tự động diễn ra với một loại lưỡi khoan carbide tungsten đặc biệt. Ban đầu cắt thô sau đó là cắt mịn. Lúc này sườn zirconia tiền thiêu kết có kích thước lớn hơn kích thước sau cùng khoảng 30%. Tháo khối zirconia ra khỏi phần giữ, cẩn thận loại bỏ các phần nối bằng “đầu thổi cát” mịn (bột aluminum oxide) cho tới khi sườn zirconia tách ra hoàn toàn. Điều chỉnh để loại bỏ những chi tiết thừa. Sườn zirconia “thô” được đưa vào Cercon heat nung trong 8 tiếng. Trong quá trình nung, sườn zirconia “thô” sẽ bị co lại khoảng 30% thể tích, mức độ co được tính toán trên máy tính. Sau đó điều chỉnh nếu cần để có được những sườn zirconia cuối cùng.
Nhóm 2: thực
hiện sườn kim loại Ni–Cr trên 5
mẫu còn lại bằng phương pháp đúc truyền
thống (thực hiện tại labo của khoa Răng Hàm
Mặt - Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ
Chí Minh). Quét chất làm hở đai
(Poo-Fit) lên cùi răng thạch cao nhưng chừa lại vùng
đường hoàn tất, mục đích là tạo khoảng
trống cho xi măng gắn sau này. Quét một lớp chất cách ly mỏng (Picosep)
cách ly thạch cao và sáp. Tạo mẫu sườn kim loại bằng sáp inlay xanh với độ
dày 0,3mm. Cắm cây đúc – Vô ống đúc.
Nung ống đúc từ nhiệt
độ phòng lên khoảng 950oC trong một tiếng.
Sau đó giữ ở nhiệt độ này trong một tiếng
tiếp theo. Gỡ vật đúc sau khi đúc. Làm nguội,
kiểm tra lại độ dày và sự khít sát của
sườn kim loại.
Bước 3: gắn sườn phục hình vào cùi răng thạch cao và cắt các mẫu
(thực hiện tại labo Minh Phước – Thành phố Hồ
Chí Minh). Trộn cao su nhẹ AquasilTM LV (Denstply). Bơm cao su nhẹ vào trong
lòng các sườn zirconia và sườn kim
loại đến khoảng nửa chiều cao, sau đó
đặt lên trên mẫu cùi răng thạch cao đúng vị
trí, dùng ngón tay cái ấn chặt đồng thời kiểm
tra để chắc chắn sườn phục hình đã
xuống hết và giữ đến khi cao su đông hoàn
toàn. Xác định mặt phẳng đi qua đỉnh múi
ngoài và đỉnh múi trong của sườn phục hình, vẽ
trên sườn phục hình bằng bút ghi được
trên kim loại. Dùng đĩa cắt kim cương cắt qua sườn phục
hình, cùi răng thạch cao theo hướng ngoài trong.
Bước
4: đo độ dày lớp
cao su nhẹ trên kính hiển vi (thực
hiện tại Công Ty SAMECO–Tp. Hồ Chí Minh). Tiến hành đo các mẫu trên kính hiển
vi Olympus GX51, dùng độ phóng đại
50. Đơn vị tính là µm. Mỗi mẫu được
cắt làm 2 phần. Mỗi phần đo tại 3 vùng:
thành mặt nhai, thành trục, vùng đường hoàn tất.
Tại mỗi vùng đo 14 điểm. Vậy mỗi mẫu
được đo ở 84 điểm. Tổng cộng
là 840 phép đo được thực hiện.
-
Tính số trung bình, độ lệch
chuẩn của chiều dày lớp cao su gắn (chiều
dày càng lớn, độ khít sát càng thấp) cho các thành
(thành trục và thành mặt nhai) và vùng
đường hoàn tất của các mẫu nghiên cứu.
- Sử dụng test t student trong phần mềm SPSS/PC (version 16.0) để so sánh các giá trị trung bình.
Độ
khít sát ở các thành (bảng
1): Nhóm sườn zirconia: độ khít sát trung bình ở
thành mặt nhai là: 75,53 ± 21,25µm, thành trục là: 73,61 ± 4,80µm.
Nhóm sườn Ni-Cr: độ khít sát trung bình ở thành mặt
nhai là: 99,20 ± 38,03µm, thành trục là: 74,73 ±
14,82µm.
Bảng 1: Độ khít sát
(TB ± ĐLC) và so sánh giữa sườn zirconia với
sườn Ni-Cr ở các thành (thành trục và thành mặt
nhai)
|
Số
đo (µm) |
Sườn zirconia |
Sườn Ni-Cr |
P |
|
TB± ĐLC |
TB ± ĐLC |
||
|
Thành mặt
nhai Thành trục |
75,53 ± 21,25 73,61±4,80 |
99,20±38,03 74,73±14,82 |
0,10 (NS) 0,82 (NS) |
(Phép kiểm t student)
Ở thành mặt nhai,
độ dày lớp cao su của nhóm sườn Ni-Cr lớn
hơn nhóm sườn zirconia không có ý nghĩa (p>0,05). Ở thành trục sự khác biệt giữa
2 nhóm cũng không có ý nghĩa (p>0,05).
Độ khít
sát ở vùng đường hoàn tất (bảng 2): ở nhóm sườn zirconia,
độ khít sát trung bình ở vùng đường hoàn tất
là 121,21 ± 11,90µm. Ở nhóm sườn
Ni-Cr, độ khít sát trung bình ở vùng đường
hoàn tất là 78,67 ± 31,23µm. (hình 1, 2)
Bảng 2: Độ khít sát
(TB ± ĐLC), so sánh giữa sườn zirconia với sườn
Ni-Cr ở vùng đường hoàn tất
|
Số đo (µm) |
Sườn zirconia |
Sườn Ni-Cr |
P |
|
TB
± ĐLC |
TB ±
ĐLC |
||
|
Đường hoàn tất |
121,21 ± 11,90 |
78,67 ±
31,23 |
0,01 (*) |
(Phép kiểm t student)
Ở vùng đường hoàn tất, độ
dày lớp cao su ở nhóm sườn zirconia lớn hơn
nhóm sườn Ni-Cr có ý nghĩa (p<0,05).

Hình 1:
Độ dày lớp cao su vùng đường hoàn tất của
sườn zirconia: mẫu ZM2’.

Hình 2:
Độ dày lớp cao su vùng đường hoàn tất của
sườn Ni – Cr. A. Mẫu KV1 với sườn Ni – Crôm
sát đường hoàn tất. B. Mẫu KV4 với độ
dày lớp cao su tương đối lớn.
Độ khít sát trung bình
tính chung các vùng (bảng 3):
tính trung bình tất cả các vùng, độ khít sát của
nhóm sườn zirconia là 90,12± 10,08µm. Độ khít sát trung
bình tất cả các vùng của nhóm sườn Ni-Cr là 84,20±
22,01µm.
Bảng 3:
Độ khít sát (TB ± ĐLC) và so sánh trung bình giữa sườn
zirconia với sườn Ni-Cr
|
Số
đo (µm) |
Sườn zirconia |
Sườn Ni-Cr |
P |
|
TB ±
ĐLC |
TB ±ĐLC |
||
|
Chung |
90,12 ±10,08 |
84,20± 22,01 |
0,45(NS) |
(Phép kiểm t student)
Xét chung tất cả các vùng, sự khác biệt về
độ khít sát giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa (p>0,05).
Tuy nhiên độ khít sát của nhóm Ni-Cr cao hơn nhóm
zirconia. Độ phân tán số liệu ở nhóm sườn
Ni-Cr cao hơn nhóm sườn zirconia. (biểu đồ 1).
Nhóm Ni-Cr: Mặt trong của sườn Ni-Cr có nhiều chỗ
mấp mô, không đều; trong lòng các sườn đều
có bọt. Nhóm zirconia: Cao su trải đều trên toàn bộ
cùi răng thạch cao, mặt trong của sườn đều
đặn, khối zirconia đặc chắc, không có bọt.

Biểu đồ 1: So sánh độ
khít sát giữa sườn zirconia và sườn Ni-Cr ở
các vùng được đo đạc (TB ± ĐLC).
Nghiên cứu in vitro đánh giá độ khít
sát trên năm sườn phục hình đúc bằng Ni-Cr và
năm sườn phục hình sứ zirconia trên mẫu cùi
răng thạch cao của
răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên, bằng
phương pháp đo bề dày lớp cao su gắn, khảo
sát dưới kính hiển vi quang học chuyên dùng (x50), cho
phép rút ra một số kết luận sau:
1. Độ
khít sát ở các thành (thành trục và thành mặt nhai) của
sườn zirconia lần lượt là 73,61 ± 4,80µm và 75,53 ±
21,25µm, của sườn Ni-Cr lần lượt là 74,73 ±
14,82µm và 99,20 ± 38,03µm, sự khác biệt không có ý nghĩa với
giá trị p lần lượt là 0,82 và 0,10; p>0,05.
2. Độ khít sát ở vùng đường hoàn tất
của sườn Ni-Cr (78,67 ± 31,23µm) cao
hơn có ý nghĩa so với sườn zirconia (121,21 ±
11,90µm) (p=0,01; p<0,05), nhưng đều nằm trong khoảng
lâm sàng chấp nhận được.
3. Trung bình độ khít sát của sườn zirconia
là 90,12 ± 10,08µm và sườn Ni-Cr là 84,20 ±
22,01µm, sự khác biệt không có ý nghĩa (p=0,45; p>0,05).
Xét về độ khít sát, cả hai loại vật liệu này đều đạt yêu cầu trên lâm sàng, xứng đáng là vật liệu lựa chọn cho nha khoa phục hồi, góp phần làm tăng tuổi thọ của phục hình trên lâm sàng.
1. Abbate, M. F., Tjan, A. H. L., Fox, W. M.: Comparison of the marginal fit of various ceramic crown systems. J Prosthet Dent 1989; 6: 527-531.
2. Björn, A. L., Björn, H., Grkovik, B.: Marginal fit of restorations and its relation to periodontal bone level. Odont Rev 1970; 21: 337–346.
3.
Chai, J.,
4. Chang, J.Y., Yang, J.H.: In-Vitro Marginal Fit of the Computer-Aided Milled Cercon Crowns. 2004.
8. Karlsson, S.: The fit of Procera titanium crowns. Acta Odontol Scand 1993; 51: 129–134.
9. Leong, D., Chai, J., Lautenshlager, E., Gilbert, J.: Marginal fit of machine – milled titanium and cast titanium single crowns. Int J Prsthodont 1994; 7: 440-447.
11. Manicone, P. F., Rossi, I. P., Raffaelli, L., Paolantonio, M., Rossi, G., Berardi, D., Perfetti, G.: Biological considerations on the use of zirconia for dental devices. Int J Immunopathol Pharmacol. 2007 Jan-Mar; 20(1 Suppl 1): 9-12.
14.
Tinschert, J., Natt, G., Mautsch, W., Spiekermann, H.,
Anusavice, K. J.: Marginal fit of alumina-and zirconia-based fixed
partial dentures produced by a CAD/CAM system. Operative Dent. 2001 Jul-Aug; 26(4): 367-74.
16.
Wettstein, F., Sailer,